“Đánh giá hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp - Pdf 37

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ths. Nguyễn Thị
Thu Hà, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn, người luôn quan tâm,
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm Luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo của trường Đại
học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích,
thiết thực cũng như sự nhiệt tình, ân cần dạy bảo trong những năm vừa qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến công ty cổ phần Môi trường và Công
trình đô thị Hà Tĩnh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có được những thông tin, tài liệu
quý báu phục vụ cho Luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và làm Luận văn.
Hà Tĩnh, ngày tháng năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Tiến Sơn


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG DANH NỤC HÌNH
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH



QCVN

QLMT
QĐ-UBND

: Hợp tác xã
: Một thành viên
: Quy chuẩn Việt Nam
: Quyết định
: Quản lý môi trường
: Quyết định - Ủy ban nhân dân

QLNN
TP
TNHH
UBND
RTRSH

: Quản lý nhà nước
: Thành phố
: Trách nhiệm hữu hạn
: Ủy ban nhân dân
: Rác thải rắn sinh hoạt

VSMT

: Vệ sinh môi trường


MỞ ĐẦU



- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đưa ra bức tranh toàn diện các vấn đề về công tác quản lý, thu gom, xử lý
chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, từ đó đề xuất một số hướng
xử lý, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
+ Áp dụng các giải pháp quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn thành phố Hà Tĩnh cho các đô thị khác có quy mô tương tự.

6


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
1.1.1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là lượng chất thải rắn sinh ra từ các khu nhà ở (biệt
thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cư....), khu thương mại (cửa hàng, nhà hàng, chợ,
siêu thị, văn phòng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch vụ, cửa hàng sửa xe...), cơ quan
(trường học, viện nghiên cứu, trung tâm , bệnh viện, nhà tù, các trung tâm, bệnh
viện, nhà tù, các trung tâm hành chính nhà nước,...), khu dịch vụ công cộng (quét
đường, công viên, giải trí, tỉa cây xanh,...) và từ công tác nạo vét cống rãnh thoát
nước...
Lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3
kg/người/ngày, trong khi đó tại các khu vực đô thị, lượng phát sinh dao động trong
khoảng 0,5-0,9 kg/người/ngày. Vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu
Long có lượng CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh lớn nhất do có mức độ hoạt động
sản xuất nông nghiệp cao.
Thành phần CTR sinh hoạt phụ thuộc vào mức sống ở một số đô thị. Mức
sống, thu nhập khác nhau giữa các đô thị đóng vai trò quyết định trong thành phần
CTR sinh hoạt. Trong thành phần chất thải đưa đến các bãi chôn lấp, thành phần

9
cát
10 Đất và cát
11 Xỉ than
12 Nguy hại

53,81
6,53
5,82
2,51
13,57
0,15
0,87
1,87

60,79
5,38
1,76
6,63
8,35
0,22
0,25
5,07

55,18
4,54
4,57
4,93
14,34
1,05

64,50
8,17
3,88
4,59
12,42
0,44
0,36
0,40

62,83
6,05
2,09
4,18
15,96
0,93
0,59
0,86

Bắc
Ninh
(Thị
Trấn
Hồ)
56,90
3,73
1,07
9,65
0,20
0,58


2,69
6,06
0,05

1,70
-

6,75
0,00
0,02

1,39
0,44
0,12

2,28
0,39
0,05

27,85
0,07

13 Bùn
14 Các loại khác

4,34
1,63
2,29
2,75
1,46

Huế
(Thủy
Phương)

Đà Nẵng
(Hòa
Khánh)

HCM
(Đa
Phước
)

HCM
(Phước
Hiệp)

dựng các mô hình thu gom, xử lý rác thải cho các thị trấn, thị tứ, cấp huyện, cấp xã, 2006 – 2008)

8


1.1.2. Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và con người
a. Ảnh hưởng tới môi trường nước
Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải hữu cơ sẽ dễ dàng bị phân hủy trong môi
trường nước. Tại các bãi rác nước rác sẽ được tách ra kết hợp với các nguồn nước
khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặt hình thành nước rò rỉ. Nước rò rỉ di
chuyển trong bãi rác sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như
trong quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Các chất
gây ô nhiễm môi trường tiềm tàng có trong nước rác gồm có: COD, N-NH 3, BOD5,

vật chết… tạo điều kiện tốt cho ruồi, muỗi, chuột… sinh sản, lây lan mầm bệnh cho
người, nhiều lúc trở thành dịch. Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, kí sinh trùng… tồn
tại trong rác thải có thể gây bệnh cho người như: bệnh sốt rét, bệnh ngoài da,
thương hàn, tiêu chảy, giun sán… Phân loại, thu gom và xử lý rác không đúng quy
định là nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là
khi gặp phải các chất thải từ bệnhh viện, công nghiệp…
Tại các bãi rác lộ thiên, nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn đề
nghiêm trọng cho bãi rác và cộng đồng dân cư trong khu vực như gây ô nhiễm môi
trường không khí, môi trường nước, môi trường đất và là nơi nuôi dưỡng các vật
chủ trung gian truyền bệnh cho người.
Rác thải nếu không được thu gom tốt cũng sẽ là một trong những yếu tố gây
cản trở dòng chảy, làm giảm khả năng thoát nước của các sông rạch và hệ thống
thoát nước đô thị.
1.1.3. Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt
a. Phân loại và thu gom chất thải rắn sinh hoạt
Việc phân loại CTR sinh hoạt thường được tiến hành ngay tại hộ gia đình đối
với một số loại chất thải như giấy, các tông, kim loại (để bán), thức ăn thừa, lá cải, su
hào,... (sử dụng cho chăn nuôi). Các CTR sinh hoạt khác không sử dụng được hầu hết
không được phân loại mà để lẫn lộn, bao gồm cả các loại rác có khả năng phân hủy
và khó phân hủy như túi nilon, thủy tinh, cành cây, lá cây, hoa quả ôi thối, xác động
vật chết... Hiện nay, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn vào khoảng
40 – 55%. Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ;
trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản. Việc thu gom rác
còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến.
Nhiều xã không có quy hoạch các BCL tập trung, không có BCL công cộng,
không quy định chỗ tập trung rác, không có người và phương tiện chuyên chở rác. Do

10



11


1.2. Các Hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh
1.2.1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Chất thải rắn hữu cơ vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất với hơn 52 % trong thành phần
chất thải rắn sinh hoạt đô thị tại thành phố Hà Tĩnh. Hiện nay, Hà Tĩnh đang có tốc
độ đô thị hóa ngày càng cao, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng càng được chú
trọng đầu tư, do vậy thành phần đất, sỏi đá… lẫn trong chất thải rắn sinh hoạt
(CTRSH) đô thị chiếm tỷ lệ tương đối lớn, khoảng 13%. [1].
Theo số liệu thống kê của Công ty Quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh về thành
phần phổ biến của chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh như sau:

12


Bảng 1.2: Các thành phần có trong chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh

TT

1
2
3
4
5
6
7
8
9


đình P.

đình P.

chợ P.

chợ

Bắc Hà

Thạch Quý

Thạch Hạ

Trần Phú

Bắc Hà

Tỉnh

(%)
38.6
26.5
0.9
6.2
5.5
0.9
1.8
0.4

1.3
7
5.5
13.9
1.3
0.8
4.5
13

13

Rác cơ

Trung

quan

bình

(%)
(%)
(%)
(%)
37.9
46.9
0.5
21.3
31.4
43.6
37.9

5.0
9.9
11.1
(Nguồn: UBND thành phố Hà Tĩnh, 2015)


1.2.2. Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bản tỉnh Hà Tĩnh
a. Về thể chế, chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Qua số liệu điều tra về chất thải rắn các loại bao gồm chất thải rắn sinh hoạt,
chất thải rắn y tế, chất thải rắn nông nghiệp, công nghiệp, nông thôn cho thấy khối
lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh là khá lớn. Để giải quyết
được tình trạng phát sinh rác thải trên địa bàn, thời gian qua, tỉnh Hà Tĩnh đã tập
trung cao cho công tác quản lý.
Trước hết việc quy hoạch quản lý chất thải rắn đã được tỉnh quan tâm thực
hiện từ nhiều năm trước.Năm 2005, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 1294
QĐ/UB-NL1 ngày 01/7/2005 về ban hành Chương trình hành động, thực hiện Nghị
quyết số 41 NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong văn bản này,
UBND tỉnh đã nêu rõ nhiệm vụ lập quy hoạch chi tiết cho các bãi chôn lấp và xử lý
chất thải rắn toàn tỉnh; tăng cường đầu tư để tái chế, tái sử dụng chất thải, hạn chế
tối đa lượng rác thải chôn lấp, đảm bảo kéo dài thời gian sử dụng của bãi chôn lấp
và xử lý rác thải.
Trên tinh thần đó, ngày 09/12/2008, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham
mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3531/QĐ-UBND về việc phê duyệt
Quy hoạch các khu xử lý chất thải rắn cho các đô thị tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2015 và
định hướng đến năm 2020. Trong đó đã quy hoạch cho tỉnh Hà Tĩnh 4 địa điểm xây
dựng nhà máy chế biến chất thải rắn (tại Thạch Hà, Nghi Xuân, Kỳ Anh và Hương
Sơn), 7 trạm trung chuyển chất thải rắn (tại Thạch Hà, Lộc Hà, Đức Thọ, Hương
Sơn, Can Lộc, Thị xã Hồng Lĩnh) và 02 khu xử lý chôn lấp hợp vệ sinh tại huyện
Hương Khê và Vũ Quang.

và lâu dài. UBND tỉnh cũng đã ban hành Kế hoạch 4600/KH-UBND ngày
30/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh về quản lý chất thải rắn trên địa bàn.
Ngoài ra để khuyến khích việc thành lập các tổ chức dịch vụ về môi trường
như hợp tác xã, tổ đội vệ sinh môi trường nhằm góp phần tăng tỷ lệ thu gom vận
chuyển chất thải rắn, HĐND tỉnh Hà Tĩnh cũng đã thông qua Nghị quyết
122/2010/NQ-HĐND về việc phê duyệt đề án "Phát triển kinh tế tập thể tỉnh Hà
Tĩnh giao đoạn 2010-2015" trong đó có chính sách khuyến khích hỗ trợ đối với các
hợp tác xã vệ sinh môi trường: "Được ngân sách tỉnh hỗ trợ 100 triệu đồng, ngân
sách huyện tối thiểu 50 triệu đồng, số còn lại do Hợp tác xã huy động để mua 01 xe
ô tô vận chuyển rác thải". Các chính sách ưu tiên của tỉnh đã khuyến khích việc
thành lập hợp tác xã môi trường. Nhờ vậy số lượng hợp tác xã, tổ đội vệ sinh môi
trường tăng lên đáng kể, năm 2005 mới chỉ có 15 hợp tác xã, tổ đội vệ sinh môi
trường, đến năm 2010 con số này tăng lên 34 hợp tác xã và đến tháng 6/2012, số

15

15


lượng hợp tác xã, tổ đội vệ sinh môi trường đã tăng lên 65 đơn vị. Tỷ lệ chất thải
rắn được thu gom nhờ vậy cũng tăng lên đáng kể.
Những vấn đề còn tồn tại cơ bản là công tác quản lý chất thải rắn còn chưa
phân định trách nhiệm giữa Sở Xây dựng và Sở Tài nguyên và Môi trường. Năm
2008 Sở Tài nguyên và Môi trường được giao lập quy hoạch các khu xử lý chất thải
rắn cho các đô thị, tuy nhiên năm 2012 Sở Xây dựng lại được giao điều chỉnh quy
hoạch các khu xử lý chất thải rắn trên địa bàn Hà Tĩnh. Sở Tài nguyên và Môi
trường chịu trách nhiệm thẩm định các hồ sơ cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải chất
thải nguy hại, cấp giấy phép hành nghề vận chuyển và xử lý, tiêu hủy chất thải nguy
hại. Tuy nhiên đối với chất thải rắn y tế lại do Sở Y tế quản lý. Hiện chưa có văn
bản nào quy định trách nhiệm quản lý chất thải rắn làng nghề và khu vực nông thôn.

1
TP Hà Tĩnh
2
TX Hồng Lĩnh
3
Kỳ Anh
4
Cẩm Xuyên
5
Thạch Hà
6
Lộc Hà
7
Can Lộc
8
Nghi Xuân
9
Đức Thọ
10 Hương Sơn
11 Hương Khê
12 Vũ Quang
Tổng cộng

Hợp tác xã

Tổ đội VSMT Công ty

Tỷ lệ thu

gom (%)

10
2
(Nguồn: Công ty Quản lý Công trình đô thị Hà Tĩnh, 2013)

Trong quá trình tổ chức hoạt động một số tổ, đội VSMT đã phát triển thành
các HTX MT như: Tổ VSMT xã Tùng Ảnh, Tổ VSMT xã Thái Yên (huyện Đức
Thọ); Tổ VSMT thị trấn Nghèn, Đội VSMT xã Thiên Lộc (huyện Can Lộc); Tổ
VSMT thị trấn Vũ Quang (huyện Vũ Quang); Doanh nghiệp tư nhân Thành Hường
chuyển đổi thành HTX MT Tây Sơn (huyện Hương Sơn) [1].
Dưới sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, mạng lưới hợp tác xã, tổ đội vệ
sinh môi trường ngày càng được nhân rộng và tổ chức hoạt động có hiệu quả.
Trong đó có một số địa phương thực hiện tốt tăng nhanh cả về số lượng và chất
lượng, điển hình như: huyện Đức Thọ thành lập mới 08 HTX MT; huyện Can Lộc
thành lập mới 06 HTX MT; huyện Cẩm Xuyên thành lập mới 07 HTX MT, huyện
Lộc Hà thành lập mới 04 HTX MT; các địa phương còn lại thành lập mới từ 02 đến
03 HTX MT. Cùng với phong trào xây dựng nông thôn mới các địa phương đang
đẩy mạnh và nhân rộng mô hình hoạt động của các HTX, tổ đội VSMT tại các xã
còn lại trong đó tập trung thành lập mới các HTX MT tại các xã điểm xây dựng
Nông thôn mới theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Về nhân lực: Trong số 65 tổ chức thu gom và xử lý rác thải nêu trên có tổng số
1.006 lao động (tăng 391 lao động so với năm 2010), trong đó các HTX, Đội VSMT
có 631 lao động, các Công ty môi trường có 375 người. Các HTX MT có Ban quản

17

17


lý HTX còn các đội, tổ vệ sinh môi trường thường có 01 người phụ trách là đại diện
của cán bộ UBND phường, xã hoặc cán bộ phụ nữ xã phụ trách.

120.000

108.600

100.000

81.523

80.000
60.000
40.000

119.129

52.228

58.032

35.035

20.000
Năm 2010Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014Năm 2015

Hình 1.1: Kết quả thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt qua các năm
Theo số liêụ báo cáo hàng năm của các HTX, tổ, đội VSMT, các Công ty thì
số lượng rác sinh hoạt đã thu gom, xử lý bình quân hàng năm tăng rõ rệt: Năm 2008
lượng rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý là 35035 tấn; năm 2011 tổng lượng
rác thải sinh hoạt thu gom và xử lý được là 52 228 tấn; năm 2012 thu được 58 032
tấn. Năm 2013 thu được 81523 tấn; năm 2014 thu gom, xử lý trên 108.600 tấn, năm
2015 tổng lượng rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý là 119.129 tấn, trong đó:

Đức Thịnh 40 tấn.
Theo nghị quyết 132/2010/NQ-HĐND thì mục tiêu đến năm 2015, 100%
tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo
vệ sinh môi trường, 80% tổng lượng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại phát
sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 70% được thu hồi để tái
chế, tái sử dụng, tuy nhiên đến nay tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị mới chỉ đạt
65%, tỷ lệ chất thải rắn công nghiệp thu gom chưa thống kê được đầy đủ nhưng
nhìn chung còn thấp.
Tại khu vực nông thôn, công tác thu gom và vận chuyển chất thải rắn đến bãi
chôn lấp và xử lý mới chỉ được một số thôn, xóm, cụm dân cư trung tâm thành lập
các tổ vệ sinh môi trường đứng ra thực hiện nên còn chưa đồng bộ và tồn tại nhiều
bất cập. Tại nhiều hộ gia đình vẫn giữ cách làm cũ tự thu gom và đem đổ xuống
sông hoặc các bãi đất trống. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn khu vực nông thôn
so với tỷ lệ phát sinh còn rất thấp.
Nguyên nhân là do:
+ Việc sử dụng túi nilon trên địa bàn còn khá nhiều: Tại nghị quyết 132 cũng
đã đưa ra mục tiêu đến năm 2015 giảm khối lượng túi nilon sử dụng tại các siêu thị
và trung tâm thương mại so với năm 2010 là 40% và đến năm 2020 giảm 85%. Tuy
nhiên trên thực tế lượng túi nilon đang sử dụng khá nhiều. Tại các khu vực chợ,
trung tâm thương mại, túi nilon được sử dụng tràn lan, hầu hết tất cả các hoạt động
mua bán đều sử dụng túi nilon. Túi nilon là một trong những thành phần khó phân

20

20


hủy. Vì vậy việc sử dụng túi nilon tràn lan như hiện nay sẽ là một thách thức đối với
môi trường trong tương lai.
+ Nhận thức của một bộ phận cán bộ, nhân dân còn hạn chế: Mặc dù tỉnh đã

21

21


Bên cạnh đó, việc phân loại chất thải công nghiệp tại các KCN, CCN hầu như
chưa được thực hiện, còn để lẫn lộn chất thải nguy hại với không nguy hại và chất
thải sinh hoạt. Phân loại chất thải rắn y tế, tuy đã thực hiện ngay tại các khoa phòng,
nhưng việc trang bị các phương tiện, dụng cụ, túi đựng còn chưa đầy đủ, chưa đúng
cách, vẫn để lẫn với chất thải rắn sinh hoạt. Việc tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt
còn tự phát và được tổ chức tái chế không chính thức bởi các cơ sở ở một số làng
nghề cơ khí gây thêm nhiều ô nhiễm môi trường. Hoạt động tái chế chất thải rắn
công nghiệp mới có một phần nhỏ các chất thải được tuần hoàn, tái sử dụng bên
trong và bên ngoài các cơ sở xí nghiệp như: nilon, nhựa, nhôm, sắt vụn...[1]
c. Về xử lý, tiêu hủy chất thải rắn sinh hoạt
Hầu hết lượng rác thải thu gom đều là rác thải sinh hoạt ở các đô thị, còn rác
sinh hoạt ở nông thôn chủ yếu được tái sử dụng hoặc chôn lấp tại vườn, tỷ lệ thu
gom ở khu vực này rất thấp. Đối với chất thải rắn từ sản xuất công nghiệp chủ yếu
được tái chế, tái sử dụng và thu gom vào các khu xử lý chất thải rắn đã được quy
hoạch tập trung cho khu công nghiệp. Còn đối với chất thải rắn từ sản xuất nông
nghiệp chủ yếu được sử dụng làm chất đốt, ủ phân bón ruộng hoặc chôn lấp tại
vườn từng hộ gia định. Riêng chất thải y tế được phân loại, thu gom, vận chuyển và
xử lý theo quy trình riêng; đến nay hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện
đều đã đầu tư dây chuyền công nghệ đốt chất thải rắn y tế.
Tỉnh Hà Tĩnh có 12 huyện, thị xã, thành phố với 262 xã, phường, thị
trấn.Lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng nhiều.Tuy nhiên, số lượng nhà máy xử
lý và bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh trên địa bàn còn rất ít, chưa đáp ứng
được nhu cầu xử lý rác thải trên địa bàn.
Theo số liệu thống kê năm 2005 trên địa bàn tỉnh chỉ có 5 bãi chôn lấp chất
thải rắn được đầu tư gồm: bãi rác Kỳ Anh, bãi rác Đập Chùa- Thạch Yên- TP Hà

trạng ô nhiễm môi trường tại các bãi rác hiện nay đang là một trong những vấn đề
gây bức xúc. Về xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đã được thu gom và xử lý một
phần. Hiện tại, chỉ có 8 bệnh viện đã đầu tư lò đốt theo công nghệ tiên tiến, một số
bệnh viện đang sử dụng lò đốt thủ công và phấn đấu đến năm 2011 hoàn thành lắp
đặt lò đốt mới theo công nghệ tiên tiến.
Ngày 09/12/2008, UBND tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định số 3531/QĐ-UBND về
việc phê duyệt Quy hoạch các khu xử lý chất thải rắn cho các đô thị tỉnh Hà Tĩnh
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Trong đó, có 4 địa điểm với vị trí, quy
mô, công suất dự kiến theo từng giai đoạn và phạm vi phục vụ như sau:

23

23


Bảng 1.4: Các khu quy hoạch xử lý chất thải rắn đô thị tỉnh Hà Tĩnh
Công suất
T
T

1

2

Địa điểm

(tấn/ngày)

Quy mô
(ha)


3

Kỳ Tân-Kỳ Anh

18

200

400

4

Tây Sơn-Hương Sơn

15

100

360

Thạch Hà,
Cẩm Xuyên
TX.Hồng Lĩnh, Nghi
Xuân, Đức Thọ, Can Lộc
Huyện Kỳ Anh, KKT
Vũng Áng
H.Hương Sơn,

KKTCKQT Cầu Treo


1.5

6
7

TT Nghèn-Can Lộc
P.Nam Hồng-TX Hồng Lĩnh

1.5
2.5

8

Xã Đức Bồng-Vũ Quang

5

9

Phạm vi phục vụ
Huyện Thạch Hà
Huyện Lộc Hà
Huyện Đức Thọ
Huyện Hương Sơn
KKT Cửa khẩu Quốc tế Cầu
Treo
Huyện Can Lộc
TX. Hồng Lĩnh
TT Vũ Quang, khu thương mại

nhiên do hạn chế về kinh phí vì vậy việc triển khai thực hiện quy hoạch còn quá
chậm. Đến nay toàn tỉnh mới chỉ có 5 bãi chôn lấp hợp vệ sinh, mới chỉ đầu tư nhà
máy sản xuất chế biến phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt tại xã Cẩm Quan, huyện
Cẩm Xuyên, đang triển khai đầu tư bãi chôn lấp và xử lý chất thải rắn huyện Can
Lộc và Lộc Hà. Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn hiện tại, việc quản lý vận hành
cũng không được thực hiện đúng quy trình vệ sinh, một số bãi chôn lấp được đầu tư
khá lâu như bãi rác thị xã Hồng Lĩnh đến nay công trình đã xuống cấp, tường rào bị
đổ, hệ thống thu gom nước rỉ rác chưa được đầu tư theo quy định, nơi xử lý trở
thành nơi phát tán ô nhiễm. Lượng rác thải được thu gom này lại là nguyên nhân
gây ra tình trạng ô nhiễm tập trung cục bộ tại các nơi đổ rác.
Còn lại hầu hết các địa phương đều chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh, rác thải
sinh hoạt được đổ vào một số điểm tập kết không có hàng rào bao quanh, không có
nền rắn chắc, vị trí tập kết không đảm bảo khoảng cách vệ sinh an toàn đối với khu
dân cư, đối với nguồn nước... Vì vậy nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm
nguồn nước mặt, nước ngầm và ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, sức khỏe của
người dân là rất cao [1].
d. Về tuyên truyền, nâng cao nhận thức quản lý chất thải rắn sinh hoạt

25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status