ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÙ HỢP - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

GIANG KHÁNH LY

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN CÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÙ HỢP

HÀ NỘI, 2017
1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

GIANG KHÁNH LY

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN CÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÙ HỢP

Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã ngành: 52 85 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. Nguyễn Hà Linh

2


Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý của các Thầy, Cô trong khoa Môi trường,
trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Ban lãnh đạo, các Cán bộ tại Chi
cục bảo vệ môi trường tỉnh Yên Bái … đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình
hoàn thiện bài đồ án tốt nghiệp này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân và bạn
bè đã tạo điều kiện tốt nhất về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình thực hiện bài đồ
án.

Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên

Giang Khánh Ly

4


MỤC LỤC

5


DANH MỤC BẢNG

6


DANH MỤC HÌNH

7



Vật liệu xây dựng


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đê
Chất thải rắn (CTR) phát sinh từ các hoạt động của con người ngày càng gia
tăng cùng với sự phát triển dân số và kinh tế, đặc biệt là trong xã hội công nghiệp.
Cùng với các dạng chất thải khác như nước thải và khí thải, CTR nếu không được
quản lý và xử lý nghiêm túc sẽ có khả năng gây suy thoái môi trường nghiêm trọng.
Do đó, CTR đã trở thành vấn đề bức xúc đối với toàn xã hội và cần được sự quan
tâm quản lý, thu gom triệt để, vận chuyển an toàn và xử lý hiệu quả, về kỹ thuật lẫn
kinh tế.[5]
Việc thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy CTR đã và đang trở thành một
bài toán khó đối với các nhà quản lý tại hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là
các nước có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hiệu quả đạt được
trong công tác quản lý, xử lý chất thải có những hạn chế nhất định đồng thời việc xử
lý chất thải rắn không đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đã gây những tác
động tổng hợp tới môi trường, sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội.
Yên Bái là một tỉnh miền núi, lại nằm sâu trong nội địa nhưng có có tiềm năng
và nguồn nhân lực dồi dào. Trong những năm qua, với những lợi thế của mình nhất
là từ khi đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai đi vào hoạt động, kinh tế của tỉnh Yên
Bái đã có những bước chuyển mình nhất định. Nhiều dự án lớn của các tập đoàn
kinh tế, các công ty nước ngoài đã, đang và sẽ được triển khai trên địa bàn tỉnh. Số
lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tăng lên đáng kể. Chất lượng và nhu
cầu cuộc sống của người dân ngày càng được nâng lên.Việc gia tăng nhanh chóng
các khu công nghiệp (KCN) gây ra một vấn đề cấp thiết trong xã hội hiện nay đó là
nguy cơ ô nhiễm do CTR công nghiệp phát sinh.
Áp lực giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với tăng trưởng kinh tế và phát triển
bền vững đặt ra cho các cơ quan quản lý cần đánh giá thực tế tình hình quản lý CTR

phía Nam và KCN Âu Lâu trên địa bàn thành phố Yên Bái.

10


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan chung vê chất thải rắn công nghiệp
1.1.1. Định nghĩa chất thải rắn công nghiệp
Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý
chât thải và phế liệu, một số các khái niệm liên quan đến CTR như sau:
-

Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải dạng rắn được loại ra trong quá trình
sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động
khác mà con người không muốn giữ lại, bao gồm nguyên, nhiên liệu dư thừa, phế
thải trong quá trình công nghệ (phế phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm lỗi,hỏng), các
loại bao bì đóng gói nguyên vật liệu và sản phẩm, những loại xỉ sau quá trình đốt,
bùn từ hệ thống xử lý nước thải.
Các chất thải công nghiệp có thể ở dạng khí, lỏng, rắn. Lượng và loại chất
thải phụ thuộc vào loại hình công nghiệp, mức tiên tiến của công nghệ và thiết bị,
quy mô sản xuất.
CTR công nghiệp bao gồm CTR công nghiệp nguy hại và CTR công nghiệp
không nguy hại.
a. Phân loại về chất thải rắn công nghiệp không nguy hại
CTR công nghiệp không nguy hại là các CTR (dạng phế phẩm, phế liệu) từ
quá trình sản xuất công nghiệp không gây nguy hại cho sức khỏe con người, không
gây tai họa cho môi trường và các hệ sinh thái. Theo TCVN 6705:2009 chất thải
rắn không nguy hại, gồm 4 nhóm chính (A-B1, A-B2, A-B3, A-B4).

Theo Phụ lục 01 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày
30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (CTNH)
thì CTNH được phân loại dựa theo tính chất nguy hại như sau:
Bảng 1.1: Phân loại CTNH theo tính chất nguy hại
Tính chất
nguy hại


hiệu

Mô tả

Dễ nổ

N

Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có
thể nổ do kết quả của phản ứng hóa học (khi tiếp xúc với
ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát) hoặc tạo ra các loại khí ở
nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường
xung quanh.

Dễ cháy

C

- Chất thải lỏng dễ cháy: Các chất thải ở thể lỏng, hỗn
hợp chất lỏng hoặc chất lỏng chứa chất rắn hòa tan hoặc
lơ lửng, có nhiệt độ chớp cháy thấp theo QCKTMT về
ngưỡng CTNH.

Có độc tính

Đ

Oxy hóa

- Gây kích ứng: Các chất thải không ăn mòn có các thành
phần nguy hại gây sưng hoặc viêm khi tiếp xúc với da
hoặc màng nhầy.
- Gây hại: Các chất thải có các thành phần nguy hại gây
các rủi ro sức khỏe ở mức độ thấp thông qua đường ăn
uống, hô hấp hoặc qua da.
- Gây độc cấp tính: Các chất thải có các thành phần nguy
hại gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc tức thời
cho sức khỏe thông qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua
da.
- Gây độc từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có các thành
phần nguy hại gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe một cách
từ từ hoặc mãn tính thông qua đường ăn uống, hô hấp
hoặc qua da.
- Gây ung thư: Các chất thải có các thành phần nguy hại
có khả năng gây ra hoặc tăng tỉ lệ mắc ung thư thông qua
đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da.

13


- Gây độc cho sinh sản: Các chất thải có các thành phần
nguy hại có khả năng gây tổn thương hoặc suy giảm khả
năng sinh sản của con người thông qua đường ăn uống, hô

động nên chất thải rắn phát sinh cũng rất đa dạng và phức tạp về thành phần, khối
lượng, nguồn phát sinh và mức độ nguy hại. Nguồn gốc phát sinh CTR công nghiệp
được chia làm 3 ngành công nghiệp chính sau:
-

Ngành công nghiệp khai khoáng: các chất thải rắn phát sinh trong ngành công
nghiệp này chính là các thành phần vật chất nằm trong các nguyên liệu tự nhiên.
Các ngành công nghiệp khai thác mỏ than, khai thác đá, khai thác gỗ và nông
nghiệp là những nguồn phát sinh chất thải rắn với lượng đáng kể. Ngoài ra công
nghiệp dầu mỏ cũng p hát sinh đáng kể vào tổng khối lượng CTR công nghiệp.

14


-

-

Ngành công nghiệp cơ bản: sử dụng các nguyên vật liệu thô cơ bản từ công nghiệp
khai khoáng để sản xuất thành các nguyên vật liệu tinh chế làm nguyên liệu đầu vào
cho các ngành công nghiệp khác sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa. Các
sản phẩm của ngành công nghiệp cơ bản bao gồm những vật liệu như là các thỏi,
tấm, ống, dây kim loại; các hóa chất công nghiệp; than; giấy; vật liệu nhựa; thủy
tinh; sợi tự nhiên và tổng hợp; gỗ xẻ, gỗ dán. So với chất thải rắn phát sinh từ công
nghiệp khai khoáng, các chất thải rắn có nguồn phát sinh từ các ngành công nghiệp
cơ bản có thành phần đa dạng hơn, và có tính chất khác biệt rõ rệt so với các
nguyên liệu thô ban đầu. Tám ngành công nghiệp cơ bản được coi là nguồn chủ yếu
phát sinh CTR công nghiệp bao gồm công nghiệp khai thác xử lý chế biến quặng
kim loại, công nghiệp hóa chất, giấy, nhựa, thủy tinh, dệt, sản phẩm gỗ và năng
lượng.

công
nghiệp

Hoạt động

Đóng gói

Chế tạo các vật dụng có thể
chứa, đựng, làm bao bì sản
phẩm.. từ các vật liệu cơ bản

Ôtô

- Sản xuất, phân phối các bộ
phận thành phần (săm, lốp,
rađio, bộ phận phát điện, bộ
chế hòa khí, đèn, bộ giảm sóc,
côngtơmét, vòng bi…)

Thành phần CTR

-

Nhôm, thép, thủy tinh, nhựa,
bìa các tông, tấm giấy - nhựa
và các loại giấy có hoặc không
có lớp tráng phủ bề mặt.

-



-

Phế thải từ quá trình gia công
các vật liệu như vải, da,
nhựa…

-

Đất, lá, vỏ, hạt…

-

Xương,bì,lông,da,vảy,nội

- Hoạt động lắp ráp hoàn thiện
- Sản xuất linh kiện
Điện tử - Lắp ráp

Giấy văn
phòng phẩm
và trong gia
đình

-

-

Máy móc
thiết bị

Làm gia tăng các dòng thải, trong đó có CTNH vào môi trường, có nguy cơ dẫn đến
ONMT khu vực, đặc biệt là môi trường không khí, môi trường đất, môi trường
nước,... và tác động tới sức khỏe cộng đồng.

-

Gia tăng tốc độ khai thác và sử dụng TNTN, đặc biệt là TNKS (phục vụ công
nghiệp khai thác, chế biến VLXD) và tài nguyên nước phát triển thủy điện.

-

Gia tăng tác động của giao thông vận tải đến môi trường không khí khu vực.

-

Khai thác tài nguyên sẽ gây ONMT không khí, gây suy thoái đất đai, suy giảm tài
nguyên rừng, suy giảm tầng nước ngầm, thúc đẩy các hiện tượng thiên tai như sạt lở
đất, rửa trôi, xói mòn, lũ quét, tác động đến môi trường cảnh quan.[2].
1.3. Hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn công nghiệp
1.3.1. Hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn công nghiệp trên thế giới
Hiện nay, bảo vệ môi trường, trong đó có việc xử lý rác thải là vấn đề mang
tính toàn cầu. Chính phủ các nước đang cố gắng tìm biện pháp giải quyết vấn đề
này một cách hiệu quả nhất.
Ở nhiều quốc gia châu Âu và một số quốc gia tiên tiến ở Châu Á dã thực
hiện quản lý chất thải thông qua phân loại tại nguồn và xử lý tốt, đạt hiệu quả cao
về kinh tế và môi truờng. Tại các quốc gia này nhu Ðan Mạch, Anh, Hà Lan, Ðức
(châu Âu) hay các quốc gia Nhật, Hàn Quốc, Singapo (châu Á)... việc quản lý chất
thải rắn được thực hiện rất chặt chẽ.
Phương pháp thiêu đốt được sử dụng rộng rãi ở một số nước như Nhật Bản,
Đức, Thuỵ Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch… là những nước có số lượng đất cho các khu thải

thuận lợi cho quản lý chất thải tuy nhiên cho đến nay bên cạnh các KCN thực hiện
đúng quy định pháp luật về quản lý chất thải nhiều KCN vẫn chưa hoàn thiện các
công trình thu gom, xử lý chất thải tập trung.
Thực tế, còn tồn tại hiện tượng các chất thải không có giá trị kinh tế được thu
gom và đổ lẫn với chất thải sinh hoạt thậm chí còn lẫn cả với chất thải nguy hại, gây
khó khăn cho quá trình thu gom, xử lý. Trước khi được chuyển giao cho các đơn vị
hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển, chất thải rắn công nghiệp thường
được chất thành đống trong kho chứa, hoặc tại các khu vực trống trong các khuôn
viên cơ sở. Tuy nhiên, tại nhiều cơ sở sản xuất hệ thống kho chứa chất thải rắn công
19


nghiệp còn chưa đạt yêu cầu, không có mái che, để lộ thiên trong khuôn viên cơ sở.
Việc thu gom chất thải rắn công nghiệp trong nội bộ các nhà máy, xí nghiệp trong
khu, cụm công nghiệp do đội vệ sinh của nhà máy, xí nghiệp đó đảm nhiệm và Ban
quản lý khu, cụm công nghiệp chịu trách nhiệm quản lý chung. Tại nhiều khu công
nghiệp chưa có điểm tập trung thu gom chất thải rắn theo quy định.
Theo kết quả điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì tỷ lệ thu gom
CTR công nghiệp khá cao, đạt trên 90% khối lượng CTR công nghiệp phát sinh. Tỷ
lệ này đạt được do chủ nguồn thải xác định và có đăng ký với Ban quản lý khu công
nghiệp. Hầu hết các cơ sở trong khu công nghiệp ký hợp đồng với các đơn vị hoạt
động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển chất thải; các cơ sở bán chất thải có giá trị
kinh tế; một số cơ sở thực hiện nghiền nát chất thải làm nguyên liệu đun.
Hiện nay, trong cả nước đang rất thiếu các khu xử lý chất thải rắn công
nghiệp, đặc biệt là khu xử lý chất thải trung quy mô lớn. Việc xử lý chất thải rắn
công nghiệp mới chỉ thực hiện ở các đơn vị có quy mô nhỏ. Ngoài ra, có một số cơ
sở sản xuất công nghiệp ngoài cụm công nghiệp, khu công nghiệp hợp đồng với các
tổ chức, cá nhân không có chức năng thu gom, vận chuyển, dẫn đến việc đổ chất
thải không đúng nơi quy định, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ
người dân.

Quyết định số 1440/2008/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch các cơ sở xử lý chất thải tại
ba vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, Trung, Nam đến năm 2020.
Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng
chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm
2015, tầm nhìn đến năm 2050.
Quyết định số 1154/QĐ-TTg ngày 28 tháng 8 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ :
Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Yên Bái
đến năm 2020.
Quyết định số 01/2016/QĐ- UBND ngày 7/1/2016 của ủy ban nhân dân tỉnh ban
hành quy định một số nội dung về công tác BVMT tại tỉnh Yên Bái.
1.5. Tổng quan vê khu vực nghiên cứu
1.5.1. Điều kiện tự nhiên
Thành phố Yên Bái là đô thị miền núi phía bắc, giữ vị trí cửa ngõ đi vào khu
Tây Bắc của tỉnh Yên Bái và của cả nước, có toạ độ địa lý 21 040’-21016’độ vĩ bắc;
104050’08’’-104058’15’’ độ kinh đông. Tổng dân số trung bình thành phố đến năm
2016 là 94.716 người.
Phía Bắc, và phía Tây, phía Nam giáp huyện Trấn Yên và tỉnh Phú Thọ.
Phía Đông, Đông Bắc giáp huyện Yên Bình

Hình 1.1: Bản đồ hành chính thành phố Yên Bái
Thành phố Yên Bái có diện tích tự nhiên là 10.674.19 ha bao gồm 17 đơn vị
hành chính với 7 phường, 10 xã; dân số thành phố năm 2016 có 94.716 người. Là
trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng của cả tỉnh. Có vị
21


trí và mối quan hệ với hành lang kinh tế xuyên Á (Vân Nam - Lào Cai - Hà Nội Hải Phòng) thông qua hệ thống giao thông đường bộ cao tốc Nội Bài - Lào cai;
đường sắt, đường thủy cấp quốc gia. Là đầu mối giao thông quan trọng giữa các
huyện, thị trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực.
Với địa hình thành phố đất đồi rừng chiếm diện tích chủ yếu, do vậy thích


Về sản xuất nông - lâm nghiệp:
Năm 2014, thành phố có diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt là 1.301
ha với sản lượng là 5.671 tấn. Do địa hình ở ven sông, đất đai màu mỡ nên thành
22


phố có một vùng chuyên canh rau là 503 ha với sản lượng là 8.019 tấn. Diện tích
trồng chè là 775 ha, sản lượng là 5.071 tấn. Tổng đàn trâu là 974 con, đàn bò 533
con và đàn lợn là 27.654 con.
Toàn thành phố có 4.500,15 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng sản xuất
là 4.331,96 ha, rừng phòng hộ là 168,19 ha chủ yếu là trồng các cây nguyên liệu
giấy như bạch đàn, bồ đề, keo, nứa, vầu...
-

Thương mại, dịch vụ:
Ngày nay, thành phố đã có một hệ thống chợ đã đáp ứng được nhu cầu trao
đổi, mua bán của thị trường. Chợ Yên Bái (chợ Ga) là trung tâm thương mại của
tỉnh nằm ở vị trí tập trung các đầu mối giao thông. Hàng hoá ở đây được chuyển đi
các nơi trong tỉnh và các vùng lân cận. Có thể gọi đây là một chợ đầu mối. Hoạt
động dịch vụ của thành phố đa dạng phong phú.

-

Văn hoá - xã hội:
Cùng với sự phát triển về kinh tế, sự nghiệp văn hoá xã hội của thành phố có
nhiều tiến bộ góp phần phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị của địa phương và
nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
Đánh giá chung: Trong những năm qua, tình hình xã hội của thành phố Yên
Bái rất ổn định, kinh tế phát triển. Tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố tăng

Hiện nay tỉ lệ lấp đầy của KCN phía Nam là 61.55%.[4]
1. Địa điểm: Xã Văn Tiến, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, với quy mô diện
tích 137,80 ha. Hiện nay đang điều chỉnh, mở rộng thêm 150ha.
2. Vị trí:
+ Phía Bắc giáp tuyến đường cảng Hương Lý đi cầu Văn Phú;
+ Phía Nam giáp khu vực đồi trồng rừng;
+ Phía Tây giáp UBND xã Văn Tiến và khu dân cư.

24


Hình 1.2: Bản đồ Khu công nghiệp Phía Nam
3. Tính chất khu công nghiệp:
Khu công nghiệp phía Nam, tỉnh Yên Bái là khu công nghiệp đa ngành thuộc
hệ thống các khu công nghiệp Quốc gia, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước
đầu tư vào khu công nghiệp trong các lĩnh vực:
-

Sản xuất vật liệu xây dựng

+ Sản xuất ván sợi nhân tạo, gỗ cao cấp;
+ Sản xuất các loại vật liệu xây dựng cao cấp.
-

Chế biến khoáng sản

+ Nghiền Fendspat;
+ Chế biến các sản phẩm CaCo3;
+ Luyện gang thép, chì, kẽm...
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status