TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
MAI THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÙ HỢP
Khoa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Quản lý tài nguyên Môi Trường
(Chương trình đào tạo chuẩn)
Hà Nội, 2016
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BẢNG
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTR
Chất thải rắn
khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh
viện đa khoa Đống Đa, thành phố Hà Nội và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp”.
5
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy Dương
Ngọc Bách và cô Nguyễn Khánh Linh đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành khóa
luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Môi trường đã cung cấp
tài liệu, đóng góp ý kiến tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, giúp
đỡ và động viên trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm chuyên môn rất ít nên khóa luận không
tránh khỏi thiếu sót. Kính mong được sự góp ý, nhận xét, bổ sung của các thầy cô
và các bạn sinh viên để chuyên đề hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2016
Người thực hiện
Sinh viên
Mai Thùy Linh
6
Mở đầu
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ.
Đời sống của người dân ngày càng được cải thiện hơn và họ đã nhận thức khá đầy
đủ rằng sự phát triển kinh tế - xã hội một mặt nâng cao mức sống, mặt khác gây ảnh
hưởng tiêu cực đến con người và tự nhiện. Đây là vấn đề không phải lúc nào cũng
Tổng quan về chất thải y tế
1.1.
1.1.1. Khái niệm về chất thải y tế
Theo quy chế quản lý chất thải y tế (Bộ y tế), chất thải y tế là vật chất ở thể
rắn, lỏng, khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất
thải thông thường.
Như vậy, chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng, khí và thường có đặc tính và
tác động xấu đối với môi trường và sức khỏe con người. Người ta thường phân biệt
hai loại chất thải y tế: Chất thải nguy hại và không nguy hại.
Theo Thông tư số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT: Chất thải y tế là chất thải
phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy
hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT: Chất thải rắn y tế là vật chất ở thể
rắn được thải ra từ các cơ sở y tế, bao gồm chất thải rắn y tế nguy hại và chất thải
rắn thông thường.
Theo Tổ chức Y tế Thế Giới-WHO: Chất thải rắn y tế còn bao gồm cả những
chất thải có nguồn gốc từ các nguồn khác nhau, như được tạo ra trong quá trình
chăm sóc sức khỏe tại nhà.
a. Chất thải y tế nguy hại
- Chất thải nguy hại: Là chất thải có chứa các chất hoặc hóa chất có một hoặc các đặc
tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy nổ, làm ngộ độc, gây ăn mòn, dễ lây nhiễm và
các đặc tính nguy hại), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi
-
trường và sức khỏe con người.
Một số thuật ngữ liên quan đến chất thải rắn y tế được quy định từ Quy chế quản lý
chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành kèm theo QĐ số 43/2007/QĐ-BYT như sau:
khỏe con người và môi trường.
b. Phân loại chất thải y tế
- Theo WHO
Chất thải rắn y tế nguy hại được phân thành 9 nhóm [12] sau:
+ Chất thải lây nhiễm: Là chất thải có chứa các mầm bệnh như: Vi khuẩn, vi
rút, ký sinh trùng, nấm với số lượng đủ lớn để gây bệnh cho những người dễ bị cảm
nhiễm (vi dụ: Chất thải từ các phòng xét nghiệm, phòng mổ, phòng cách ly…)
+ Chất thải bệnh phẩm và chất thải giải phẫu: Là chất thải có chứa cac mô,
bệnh phẩm, bộ phận cơ thể hoặc các dịch cơ thể như máu, dịch màng phổi…chất
thải bệnh phẩm và chất thải giải phẫu có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm
khuẩn. Tuy nhiên, theo khuyến cáo những chất thải này nên được coi như là chất
thải lây nhiễm.
+ Chất thải dược phẩm: Bao gồm các thuốc quá hạn, không sử dụng, đổ,
vỡ…kể cả những dụng cụ, chai lọ chứa đựng chúng.
+ Chất thải hóa học: Có thể dưới dạng đặc, lỏng, khí được sinh ra trong quá
trình chẩn đoán, điều trị, tẩy rửa, khử trùng, thí nghiệm của bệnh viện…
9
+ Chất thải chứa kim loại nặng, độc hại: Là loại chất thải có chứa chất gây
độc tiềm ẩn như Cd, Chì, Thủy ngân…có trong pin hỏng, nhiệt kế vỡ và một số
dụng cụ y tế hỏng. Chất thải chứa kim loại nặng, độc hại này có thể coi là 1 phần
của chất thải hóa học nên được xử lý riêng.
+ Các bình chứa khí nén: Như bình đựng ôxy, CO2, khí mê, bình cứu hỏa.
+ Chất thải vật sắc nhọn: Đây là loại chất thải có nguy cơ gây tổn thương cho
da như đứt, thủng (Ví dụ: Kim tiêm, dao mổ, tuýp thủy tinh vỡ…). Cho dù chất thải
này có bị nhiễm khuẩn hay không thì chúng vẫn được coi như loại chất thải có nguy
cơ lây nhiễm và nguy hại cao. Vì vậy, chất thải vật sắc nhọn phải được quan tâm
Chất gây độc tế bào: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây
độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân
bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin,ắc quy), chì (từ tấm gỗ
bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình
ảnh, xạ trị)
+ Chất thải phóng xạ: Gốm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh
từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. danh mục thuốc phóng
xạ và hợp chất đánh dấu trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo quyết định
số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế (BYT)
+ Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO 2, bình ga, bình khí dung.
Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
+ Chất thải thông thường: chất thải thông thường là chất thải không chứa các
yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ buồng cách ly).
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ, thủy
tinh, huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương. Những chất
thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng chứa các tông, túi nilon, túi đựng phim.
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.1.2. Nguồn gốc, thành phần và khối lượng
Thành phần và khối lượng của từng loại chất thải y tế có đặc trưng theo chức
năng, nhiệm vụ chuyên môn của từng bệnh viện. Chúng có nguồn gốc chủ yếu từ
các phòng khám, khoa chức năng, phòng hành chính-tổng hợp, và khu dịch vụ trong
-
-
Không
Chai nhựa PVC,PE,PP
10,1
Có
Bông băng
8,8
Có
Vỏ hộp kim loại
2,9
Không
Xi lanh, chai lọ thủy tinh
2,3
Có
Kim tiêm, ống tiêm
0,9
(Nguồn: Nguyễn Đức Khiển, 2003)
Một cách đánh giá thuyết phục để có thể dự báo và ước lượng chất thải y tế
nói chung và số lượng hay tỷ lệ chất thải nguy hại nói riêng phải dựa vào các yếu tố
sau:
+ Số lượng, đặc điểm, phạm vi cứu chữa, quy mô khám bệnh, điều trị của tất
cả các cơ sở y tế.
+ Số lượng giường bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giường bệnh từ
tuyến huyện và tương đương trở lên (do ngành y tế quản lý và do các ngành khác
quản lý).
+ Lượng chất thải y tế phát thải mỗi ngày (kg/rác/giường bệnh.ngày đêm).
+ Tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trên tổng chất thải y tế chung của giường bệnh
(giường bệnh cấp bệnh viện) mỗi ngày.
12
+ Trên cơ sở này, có thể áp dụng ước lượng khối lượng chất thải của bệnh
viện cụ thể của khu vực, thậm chí có thể ước lượng khối lượng chất thải rắn cho
phạm vi toàn quốc.
+ Khối lượng chất thải y tế không chỉ thay đổi từng khu vực địa lý, mà còn
phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như:
+ Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm họa đột xuất
+ Loại và quy mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa
+ Số lượng bệnh nhân, khám chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và
ngoại trú
+ Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực
+ Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và
chăm sóc.
+ Số lượng người nhà được pháp đến thăm bệnh nhân.
Các tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại
nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD (Bộ Y tế, 2010).
Tác động đến môi trường không khí:
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được
thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khí
rác thải đưa vào quá nhiều gây ra nhiều khói đen. Việc đốt chất thải y tế đựng trong
túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit, thường
là HCl và SO2. Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F,Cl,Br,I…) ở nhiệt độ
thấp thường tạo ra axit như: hydrochloride (HCl). Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo
thành dioxin, một lọa hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp. Các kim
loại nặng như thủy ngân có thể phát thải theo khí lò đốt (Bộ Y tế, 2010).
Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức khỏe
con người trong dài hạn (Bộ Y tế,2010).
Tác động tiềm ẩn khác đối với môi trường là khi chất thải gây độc gen được
thải vào môi trường có thể gây ra hậu quả suy thoái về sinh thái. Ngoài ra, các bãi
tập kết chất thải rắn y tế không hợp lý sẽ gât mất mỹ quan, là điểm bùng phát các
dịch bệnh.
1.2.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe công đồng
Tất cả những người phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại đều là đối tượng
có nguy cơ. Họ có thể là nhân viên và người bệnh trong các cơ sở y tế làm phát sinh
ra chất thải, những người trực tiếp tham gia xử lý, tiêu hủy chất thải và những người
dân trong cộng cồng dân cư trong trường hợp chất thải chưa được xử lý chính đáng.
Nhóm người nguy cơ chính bao gồm: Bác sĩ, y tá, nhân viên, người bệnh, nhân viên
thu gom, cộng đồng dân cư.
Đối với sức khỏe: việc tiếp xúc với các chất y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc
tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn (như kim tiêm). Các vật sắc nhọn này
không chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu
vật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh. Như vậy, những vật sắc nhọn ở đây
được coi là chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổn thương kép (vừa gây tổn thương
ruột là 1/104-106 thì trong nước thải của khoa lây tỉ lệ này là 1/10 2-103, gấp từ 1001000 lần. Người ta còn nhận thấy, trung bình trong một lít nước thải bệnh viện có từ
5.000-10.000 vi rút gây bệnh, 10-15 trứng giun đũa. Trong một lít nước thải bệnh
viện lao có thể từ 106-109 trực khuẩn lao có sức đề kháng cao ở ngoại cảnh, thậm
chí còn tìm được trực khuẩn lao ở cách nới thải nước cống bệnh viện xa tới 500m.
Ở trong nước vi khuẩn thương hàn có khả năng sống từ 2-93 ngày, vi khuẩn lỵ sống
từ 12-15 ngày, vi khuẩn tả sống từ 4-28 ngày.
Đối với những bệnh nguy hiểm cho virut gây ra như HIV/AIDS; viêm gan B
hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt là các y tá là những người có nguy cơ nhiễm
cao nhất qua những vết thương do các vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây
nên, những người vận hành quản lý chất thải xung quanh bệnh viện cũng có nguy
15
cơ lây nhiễm đáng kể, như những nhân viên quét dọn, những người bới rác tại các
-
bãi đổ rác.
Ảnh hưởng của loại chất thải hóa học và dược phẩm
Đã có nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm đôc do vận chuyển hóa chất và dược
phẩm trong bệnh viện không đảm bảo. Các dược sĩ, bác sĩ gây mê, y tá, kỹ thuật
viên, cán bộ hành chính có thể có nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da
do tiếp xúc với các loại hóa chất lỏng bay hơi, dạng phun sương và các dung dịch
khác. Để hạn chế tới mức thấp nhất là nguy cơ nghề nghiệp này nên thay thế giảm
lượng hóa chất độc hại xuống bất cứ lúc nào có thể và cung cấp các phương tiện
bảo hộ cho những người tiếp xúc với hóa chất. Những nơi sử dụng và bảo quản loại
hóa chất nguy hiểm cũng nên được thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện
-
môi trường có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là yếu tố lý học, hóa
học môi trường như nhiệt độ môi trường, hoạt độ nước, tia cực tím, pH của môi
trường, oxy tự do,….
Virus viêm gan B khá bền vững trong điều kiện không khí khô và có thể tồn
lưu trong nhiều tuần lễ trên một số các bề mặt vật ô nhiễm. Loại tác nhân này có thể
tồn lưu trong dung dịch sát khuẩn 70% cồn ethanol hay tồn tại tới 10 giờ trong nhiệt
độ 60oC. Hiệp hội Nhật bản nghiên cứu về chất thải cho biết, tác nhân virus viêm
gan B và C có thể tồn tại cả tuần lễ trong các giọt máu còn lưu lại trong kim tiêm.
Virus HIV có thời gian tồn lưu ngắn hơn, chúng có thể tồn tại không quá 15
phút khi bị tác động của cồn ethanol 70% hoặc là chỉ có thể tồn lưu từ 3-7 ngày
trong điều kiện nhiệt độ ngoại cảnh và chúng bị bất hoạt nhanh chóng tại nhiệt độ
56oC.
Trên thực tế các tác nhân gây bệnh có trong bệnh phẩm, trong chất bài tiết
của bệnh nhân không phải lúc nào cũng quá nhiều do tác dụng điều trị của các loại
thuốc tác dụng của các hóa chất khử trùng…Tuy nhiên, trong khía cạnh này, nên
quan tâm cao tới sự lan truyền tác nhân gây bệnh như loài gián, loài ăn chất thối
rữa, chuột, các loại côn trùng như ruồi, nhất à ở những nơi việc cô lập chất thải
chưa được thực hiện đúng quy cách.
1.2.3. Nguyên tắc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn tại các cơ sở
y tế.
Theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ y tế ban hành kèm theo Quyết
định số 43/2007/QĐ-BYT thì nguyên tắc về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu
-
giữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế như sau:
Phân loại chất thải rắn trong cơ sở y tế
+ Người làm phát sinh chất thải phải thực hiện phân loại ngay tại nơi phát
sinh chất thải.
+ Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã mầu kèm biểu
+ Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu trữ trong các
buồng riêng biệt.
+ Chất thải để tái sử dụng, tái chế được lưu giữ riêng.
+ Nơi lưu trữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau:
Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông
người tối thiếu là 10m. Có đường xe chuyển chở chất thải từ bên ngoài đến.
Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế.
Nhà lưu trữ phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khóa. Không
để súc vật, các loài gặm nhấm và người không có nhiệm vụ tự do xâm nhập.
Có phương tiện rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ hóa
chất làm vệ sinh.
Có hệ thống rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ hóa chất
làm vệ sinh.
Có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, thông khí tốt.
Khuyến khích các cơ sở y tế lưu giữ chất thải trong nhà có bảo quản lạnh.
+ Thời gian lưu giữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế không quá 48 giờ.
+ Lưu trữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu
trữ có thể đến 72 giờ.
+ Chất thải giải phẫu phải chuyển đi chôn hoặc tiêu hủy hàng ngày.
+ Đối với các cở sở y tế có lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh dưới 5
-
kg/ngày, thời gian thu gom tối thiểu hai lần trong một tuần (Bộ y tế, 2007).
Vận chuyển chất thải rắn trong các cơ sở y tế
18
+ Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phát sinh tại các
khoa/phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu trữ chất thải của cơ sở y tế ít
Với cơ sở y tế dung máy tiêu hủy vật sắc nhọn thì hộp đựng chất thải này
phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng.
+ Tiêu chuẩn thùng đựng chất thải:
Phải làm bằng nhựa có tỷ trọng cao, thành dày và cứng hoặc bằng kim loại
có nắp đậy mở bằng đạp chân. Những thùng thu gom có dung tích từ 50 lít trở lên
cần có bánh xe đẩy.
Thùng màu nào thì thu gom túi màu đó.
Bên ngoài thùng có vạch báo hiệu ở mức ¾ thùng và ghi dòng chữ “KHÔNG
ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”.
19
Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo có thành, có nắp, có đáy kín, dễ cho
chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch,dễ tẩy uế,dễ làm khô (Bộ Y tế, 2007)
Tổng quan về quản lý chất thải y tế
1.3.1. Tổng quan về quản lý chất thải y tế trên thế giới
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc quản lý chất thải đặc
1.3.
biệt là chất thải y tế bới những đặc tính nguy hại của chúng có thể gây ra cho cộng
đồng và môi trường. Sự quan tâm của các quốc gia phát triển, nước có tiềm lực và
kinh tế về chất thải y tế cao hơn nhiều so với các quốc gia đang phát triển. Một điều
dễ nhận thấy trên thực tế những nước có thu nhập cao thường tạo ra nhiều chất thải
hơn nước có thu nhập trung bình và nước có thu nhập thấp, lượng chất thải được tạo
ra từ bệnh viện cấp trên cao hơn so với bệnh viện cấp dưới.
Bảng 1.2: Khối lượng chất thải y tế phát sinh theo mức thu nhập của người dân
Nước có thu nhập cao
Nước có thu nhập trung bình
Nước có thu nhập thấp
Nguyên tắc proximiry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được
tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt. Tránh tình trạng chất thải bị lưu
giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường.
Nguyên tắc polluter pay: Nếu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất
thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và
giữ cho môi trường trong sạch.
Xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công
nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác
thải nguy hại này.
Các nước phát triển:
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong bệnh viện cơ sở
chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý loại phế thải y tế. Đó là các
loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 1000 oC đến trên 4000oC. Tuy
nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khi bụi sau
khi đốt được thải hồi vào không khí. Các phế thải y tế trong khí đốt, thải hồi vào
không khí có nhiều hạt bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình
thiêu đốt như axit clohidric, điôxin/furan, và một số kim loại độc hại như thủy ngân,
chì hoặc asen, cadmi. Do đó, tại Hoa Kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu điều luật về khí
thải của lò đốt và yêu cầu khí phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơ
tùy theo loại phế thải.
1.3.2. Tổng quan về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
a. Tình hình phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Hệ thống các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn toàn quốc được
phân cấp quản lý theo tính chất chuyên khoa. Cụ thể, Bộ Y tế quản lý 11 bệnh viện
đa khoa tuyến trung ương, 25 bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương, địa phương
quản lý 743 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/thành phố, 239 bệnh viện chuyên khoa
tuyến tỉnh/thành phố, 595 bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị xã và 11,810 trung tâm
y tế các cấp, các đơn vị khác quản lý 88 trung tâm/nhà điều dưỡng/bệnh viện tư
CTR y tế
p
(tấn/năm
)
Đắk
Tỉn
h có
đô
Lắk
khánh
Hòa
thị
loại
I
Lâm
Đồng
Nam
Định
Nghệ
22
276,3
thị
Dương
loại
Điện
III
Biên
Hà
Giang
Hà
134,8
1.241
Loạ
i đô
Lượng
Tỉnh/ Tp
thị
Tỉn
CTR y tế
Vĩnh
175
400 (**)
340,26
An
An
Giang
Nam
320,1
Tỉn
h có Cà Mau
159,5
đô
thị
Đồng
loại
Nai
430,8
Đô
Yên Bái
108,542
Hà Nội
~5000
thị
Tp.
loại
Chí
đặc
Minh
Hồ
2800(**)
biệt
Ghi chú : (*) số liệu năm 2006; (**) số liệu
2007(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường địa phương 2006-2010, sở TNMT, các
địa phương 2010)
0,21-0,35
BV huyện, ngành
0,17-0,22
0,21-0,28
BV đa khoa TW
BV chuyên khoa TW
BV đa khoa tỉnh
(Nguồn: Bộ TN & MT,2011)
Ngoài ra, lượng CTRYT phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện
tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viên chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên
môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng (Bộ TN &
MT, 2011).
+ Tính riêng cho 36 bênh viện thuộc Bộ y tế quản lý, theo khảo sát năm 2009
tổng lượng rác thải y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53
kg/giường/ngày. Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh
viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều Dưỡng- Phục hồi
chức năng Trung ương và bệnh viện tâm thần Trung ương 2 với 0,01
kg/giường/ngày.
+ Lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện
tùy thuộc vào số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật
chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng
Theo kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao Động và Vệ sinh
Môi trường năm 2006 và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009:
có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng cụ
tách riêng vật sắc nhọn. Theo báo cáo kiểm tra của các tính và nhận xét của đoàn
viện sử dụng thùng nhựa có xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác. Một
số khu vực lưu trữ chất thải rắn trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý
bên ngoài được trang bị điều hòa và hệ thống thông gió theo quy định.
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là
các xe chuyện dụng. Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ
sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty Môi trường đô thị đảm nhiệm,
không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn.
25