LỜI CAM ĐOAN
Tôi Lê Đức Anh xin cam đoan:
Đồ án tốt nghiệp là thành quả từ sự nghiên cứu hoàn toàn thực tế trên cơ sở các số
liệu thực tế và được thực hiện theo hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn.
Đồ án được thực hiện hoàn toàn mới, là thành quả của riêng tôi, không sao chép
theo bất cứ đồ án nào tương tự.
Mọi sự tham khảo sử dụng trong đồ án đều được trích dẫn các nguồn tài liệu trong
báo cáo và danh mục tham khảo.
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm các quy chế của nhà trường, tôi hoàn toàn
chịu trách nhiệm.
Hà Nôi, ngày 31 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Lê Đức Anh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
các thầy cô, các anh chị công tác tại Phòng tài nguyên và môi trường huyện Ba Vì,
cùng với sự quan tâm giúp đỡ từ các cá nhân trong và ngoài trường.
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Khoa Môi trường – Trường Đại
học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em nghiên cứu
hoàn thành đồ án
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất tới Th.S Nguyễn
Thị Thanh Nhàn – cán bộ công ty TNHH nhà nước một thành viên xử lí và chế biến
chất thải Phú Thọ và cô giáo Th.S Nguyễn Khánh Linh – giảng viên Khoa Môi trường
– Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, tạo điều
kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đồ án
tốt nghiệp này.
Nhân dịp này, em cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên,
ủng hộ em trong suốt quá trình thực hiện.
: Tài nguyên
UBND
: Ủy ban nhân dân
VSMT
: Vệ sinh môi trường
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần của CTRSH
Bảng 1.2: Ưu, nhược điểm của phương pháp ủ sinh học
Bảng 1.3: Ưu, nhược điểm của phương pháp đốt
Bảng 1.4: Ưu, nhược điểm của phương pháp chôn lấp
Bảng 3.1. Nguồn phát sinh CTRSH trên địa bàn huyện Ba Vì năm 2015
Bảng 3.2. Khối lượng CTRSH phát sinh và thu gom trên địa bàn huyện Ba Vì
Bảng 3.3. Khối lượng CTRSH cân tại các hộ của TT Tây Đằng
Bảng 3.5. Khối lượng CTRSH cân tại các hộ của xã Đồng Thái
Bảng 3.4. Khối lượng CTRSH cân tại các hộ của xã Vật Lại
Bảng 3.6. Khối lượng CTRSH cân tại các hộ của xã Cẩm Lĩnh
Bảng 3.7. Khối lượng CTRSH cân tại các hộ của xã Vân Hòa
Bảng 3.8. Lượng CTRSH cân tại các hộ dân của 5 xã/ thị trấn
Bảng 3.9. Tổng lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Ba Vì
Bảng 3.10. Thành phần CTRSH trên địa bàn huyện Ba Vì giai đoạn 2013 – 2015
Bảng 3.11. Thành phần CTRSH trên địa bàn huyện Ba Vì
Bảng 3.12. Phương tiện, nhân lực thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn huyện Ba
Vì năm 2015
Hình 3.7. Tuyến thu gom và các bãi tập kết CTRSH của xã Vật Lại
Hình 3.8. Tuyến thu gom và các bãi tập kết CTRSH xã Đồng Thái
Hình 3.10. Tuyến thu gom và các bãi tập kết CTRSH của xã Vân Hòa
Hình 3.11. Biểu đồ đánh giá ý thức người dân trong vấn đề môi trường trên địa bàn các
xã/thị trấn nghiên cứu
Hình 3.12. Biều đồ đánh giá của người dân về thời gian, tần suất thu gom CTRSH trên
địa bàn huyện Ba Vì
Hình 3.13. Biểu đồ đánh giá của người dân về mức thu phí đối với CTRSH
Hình 3.14. Biểu đô tỉ lệ hộ dân phân loại CTRSH tại nguồn các xã/thị trấn nghiên cứu
Hình 3.15. Biểu đồ dự báo dân số huyện Ba Vì đến năm 2025
Hình 3.16. Biểu đồ dự báo lượng CTRSH phát sinh đến năm 2025 của huyện Ba vì
Hình 3.17. Sơ đồ phân loại CTRSH tại nguồn trên địa bàn huyện Ba Vì
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Đất nước ta
hiện nay đang trong quá trình đô thị hóa phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn qui
mô, số lượng và chất lượng. Bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc thì
vẫn còn tồn tại những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không một đất nước phát triển
nào không phải đối mặt – đó là tình trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm, ô nhiễm
đất – nước – không khí và tình trạng tại nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt.
Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng cao,
điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt. Chất thải rắn sinh hoạt
phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thải vào môi trường
ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị
ô nhiễm. Nếu không có một giải pháp phối hợp đồng bộ, thu gom hợp lí thì rác thải
sinh hoạt sẽ là mối nguy hại đối với môi trường.
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội. Ba
Vì có điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, dịch vụ đặc biệt là du lịch do được
- Nguồn phát sinh, khối lượng, thành phần CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện
Ba Vì.
-Phương tiện thu gom, vận chuyển, nhân lực duy trì: Số lượng, chủng loại phương
tiện thu gom, vận chuyển; Số nhân công thu gom,vận chuyển.
- Tình hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt: Phương pháp thu gom; Tần suất, thời
gian thu gom, các điểm tập kết, hiệu suất thu gom, tuyến thu gom sơ cấp và thứ cấp.
- Tình hình phân loại; Phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
- Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đến năm 2025.
3.2. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRSH trên địa bàn
huyện Ba Vì
-Giải pháp về nâng cao hiệu quả công tác thu gom, vận chuyển, xử líCTRSH
- Giải pháp về nâng cao chất lượng quản lý chất thải sinh hoạt
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt
1.1.1. Cơ sở pháp lí về quản lí chất thải rắn
+ Luật Số 55/2014/QH13 luật bảo vệ môi trường 2014 và các văn bản hướng dẫn
thi hành Luật.
+ Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
+ Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/4/2015 quy định về quản lý chất thải và
phế liệu.
+ Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ quy định về phí
bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
+ Quyết định số 798/QĐ-TTg ngày 25/5/2011 của Thủ tướng chính phủ về phê
duyệt chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 do Thủ tướng chính
phủ ban hành.
1.1.2. Khái niệm chất thải rắn [8]
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ
Chất thải rắn
Bệnh viện, cơ sở y tế
Giao thông, xây dựng, làng nghề Chính quyền, địa phương
Khu công nghiệ, nhà máy, xí nghiệp
Hình 1.1. Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn tại Việt Nam [7]
1.1.4. Phân loại chất thải rắn
Phân loại chất thải rắn có thể dựa vào nguồn gốc phát sinh, đặc tính chất thải,,
mục đích quản lí.... Hiện nay, ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, chất thải rắn được
phân loại theo: công nghệ xử lí và bản chất nguồn tạo thành. Các loại chất thải được
thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách:
a. Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay CTR trong nhà, ngoài
nhà,trên đường phố, chợ...
b. Theo thành phần hóa học và vật lí: phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô
cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, cao su, chất dẻo,...
c. Theo bản chất nguồn tạo thành, CTR được phân thành các loại:
11
- Chất thải rắn sinh hoạt: là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày
của con người. Theo nghị định số 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/4/2015 của chính phủ quy
định về quản lí chất thải và phế liệu, chất thải rắn sinh hoạt được phân loại thành các
nhóm như sau:
+ Nhóm hữu cơ dễ phân hủy (nhóm thức ăn thừa, lá cây, rau, củ, quả, xác động
vật);
+ Nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế (nhóm giấy, nhựa, kim loại, cao su, ni
lông, thủy tinh);
+Các loại ống tiêm, kim tiêm
+Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ
+Chất thải sinh hoạt từ bệnh nhân
+Chất thải có chứa nồng độ cao như: chì, thủy ngân, cadimi, arsen, xianua…
-Các chất thải nguy hại từ các hoạt động nông nghiệp chủ yếu là các loại phân
bón hóa học, các loại thuốc bảo vệ thực vật.
-Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất và hợp
chất có một trong những đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất
khác
1.1.5. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt [5]
Khác với rác thải, phế thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt là một tập hợp không
đồng nhất. Tính không đồng nhất biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát được các
nguyên liệu ban đầu dùng cho thương mại và sinh hoạt. Sự không đồng nhất này tạo
nên một số đặc tính rất khác biệt trong các thành phần của rác thải sinh hoạt.
Thành phần cơ học:Thành phần chất thải sinh hoạt có thể bao gồm:
- Các chất dễ phân hủy sinh học: Thực phẩm thừa, cuộng, lá rau, lá cây, xác động
vật chết, vỏ hoa quả…
- Các chất khó bị phân hủy sinh học: Gỗ, cành cây, cao su, túi nylon.
- Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: Kim loại, thủy tinh, mảnh sành,
gạch, ngói, vôi, vữa khô, đá, sỏi, cát, vỏ ốc hến…
Thành phần hóa học: Trong các chất hữu cơ của rác thải sinh hoạt, thành phần
hóa học của chúng chủ yếu là H,O,N,S và các chất tro.
13
Bảng 1.1: Thành phần của CTRSH [5]
% trọng lượng
Hợp phần
4 – 10
6
32 – 128
81,6
Giấy
3 – 15
4
4–8
5
38 – 80
49,6
Catton
2–8
3
1–4
96 – 192
128
Cao su
0–2
0,5
8 – 12
10
96 – 256
160
Da vụn
0 – 20
12
30 – 80
60
84 – 224
Thủy tinh
2–8
6
2–4
3
48 – 160
88
Can hộp
0–1
1
2–4
2
64 – 240
160
Kim loại không
thép
180 – 420
300
Kim loại thép
Bụi, tro, gạch
Tổng hợp
1.1.6. Các phương pháp xử lí chất thải rắn sinh hoạt [7]
a. Xử lí CTRSH bằng phương pháp ủ sinh học
Ủ sinh học là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để thành các chất mùn
với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học tạo môi trường tối ưu đối với quá
14
trình. Phương pháp chế biến CTR có nguồn gốc hữu cơ thành phân ủ hữu cơ
( compost): sản xuất phân bón hữu cơ là một phương pháp truyền thống, được sử dụng
hiệu quảđược áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Quá trình ủ được coi như quá trình lên men yếm khí mùn hoặc hoạt chất mùn. Sản
phẩm thu hồi là hợp chất mùn không mùi, không chứa vi sinh vật gây bệnh và hạt cỏ.
Việc ủ CTRSH với thành phần chủ yếu là chất hữu cơ cỏ thể phân hủy được, nhất là có
thể tiến hành với quy mô hộ gia đình.
Bảng 1.2: Ưu, nhược điểm của phương pháp ủ sinh học
Ưu điểm
Nhược điểm
- Giảm thiểu ô nhiễm cho nguồn đất, nước
Nhược điểm
- Xử lí triệt để các chỉ tiêu của CTRSH
- Vận hành dây chuyền phức tập, đòi hỏi
năng lực kĩ thuật và tay nghề cao
- phương pháp này cho phép xử lí được
nhiều chất thải mà không cần nhiều diện
tích đất sử dụng làm bãi chôn lấp rác
- Giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao
năng lượng và chi phí xử lí cao
- có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
không khí
c. Xử lí CTRSH bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh
Phương pháp truyền thống đơn giản nhất là chôn lấp rác. Phương pháp này có chi
phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển.
Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách dùng xe chuyên dụng chở rác tới các bãi
đã xây dựng trước. Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi san bằng, đầm nén trên bề mặt và
đổ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt ruồi muỗi, rắc vôi bột… theo thời gian,
sự phân hủy của vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp và thể tích của bãi rác giảm
xuống. Việc đổ rác lại được tiếp tục cho đến khi bãi rác đầy thì chuyển sang bãi rác
mới.
Hiện nay việc chôn lấp CTRSH được sử dụng chủ yếu ở các nước đang phát triển
nhưng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường một cách nghiêm ngặt. Việc
chôn lấp rác có xu hướng giảm dần, tiến tới chấm dứt ở các nước đang phát triển.
Các bãi chôn lấp rác phải cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước ngầm và
+ CTRSH không được thu gom đều được lưu giữ lại trong đất, một số loại chất
thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon… nằm lại trong đất làm ảnh
hưởng tới môi trường đất: làm thay đổi thành phần và pH của đất, làm cho đất bị thoái
hóa.
- Đối với môi trường nước
+Lượng CTRSH rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi sẽ theo
dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ, sông ngòi,
gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận.
+Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước làm
lạnh tro xỉ, nước làm sạch khí của các lò thiêu làm ô nhiễm nước ngầm.
- Đối với môi trường không khí
+Khí thoát ra từ các hố hoặc các chất làm phân, chất thải chôn lấp rác chứa CH 4,
H2S, CO2, NH3, các khí độc hại hữu cơ...
+ Khí từ các lò thiêu chứa bụi, SO 2, NOx, CO, CO2, HCI, HF, dioxin, kim loại,
oxit kim loại thăng hoa...
+ Bụi sinh ra trong quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng,
các chất độc hại lẫn trong rác.
- Đối với sức khỏe con người
- Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lên
các thành phần môi trường. Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe
con người thông qua chuỗi thức ăn.
- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ
đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở thành
17
nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc
hại tại các bãi rác co nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp
xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh.
- Đối với mĩ quan đô thị:
An,…Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người thấp nhất tại
thành phố Đồng Hới, thành phố Kon Tum, thị xã Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đăk Nông,
thành phố Cao Bằng từ 0,31-0,38 kg/người/ngày.
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2014 khoảng 23
triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đô
thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày. Chỉ tính riêng tại thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là: 6.420 tấn/ngày và 6.739
tấn/ngày.
1.2.2. Tình hình quản lí và xử lí chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam
a. Tình hình thu gom, vận chuyển [6]
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị
trung bình đạt khoảng 85% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và tại khu
vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng chất thải rắn
sinh hoạt phát sinh. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn
thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh, tỷ lệ
thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn ven đô hoặc các thị trấn, thị tứ
cao hơn tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng sâu, vùng xa.
Tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt do Công ty môi
trường đô thị hoặc Công ty công trình đô thị thực hiện. Bên cạnh đó, trong thời gian
qua với chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường của Nhà nước, đã có các đơn
vị tư nhân tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị.
Nguồn kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị hiện
nay do Nhà nước bù đắp một phần từ nguồn thu phí vệ sinh trên địa bàn. Mức thu phí
vệ sinh hiện nay từ 4000-6000 đồng/người/tháng hoặc từ 10.000-30.000 đồng/hộ/tháng
tùy theo mỗi địa phương. Mức thu tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ từ 120.000-200.000
đồng/cơ sở/tháng tùy theo quy mô, địa phương
Tại khu vực nông thôn, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phần lớn
là do các hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm nhiệm với chi phí thu gom thỏa thuận với
người dân đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương. Mức thu và cách thu
Việt Nam; Khu xử lý chất thải Nam Sơn thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị
Hà Nội,…Trên thực tế, tại nhiều cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp, quá
trình kiểm soát ô nhiễm chưa thực sự đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi
trường, hiện vẫn đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Bên cạnh đó, chưa có cơ sở
xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp nào tận thu được nguồn năng lượng từ khí
thải thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải, gây lãng phí nguồn tài nguyên.
Hiện nay, các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành phân hữu cơ sử dụng công
nghệ ủ hiếu khí, một số cơ sở xử lý đang hoạt động: Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh
20
hoạt Nam Bình Dương thuộc Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và môi trường Bình
Dương; Nhà máy xử lý và chế biến chất thải Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh thuộc Công ty
TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh;…Hệ thống thiết bị trong dây chuyền
công nghệ của các cơ sở xử lý được thiết kế chế tạo trong nước hoặc cải tiến từ công
nghệ nước ngoài. Một số công nghệ mới được nghiên cứu và áp dụng trong nước đáp
ứng được tiêu chí hạn chế chôn lấp nhưng việc hoàn thiện công nghệ và triển khai nhân
rộng còn gặp nhiều khó khăn do vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế;
tính đồng bộ, hiện đại, mức độ tự động hóa của hệ thống thiết bị trong dây chuyền
công nghệ chưa cao; các công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được sản xuất ở quy mô
công nghiệp.
Tại Việt Nam hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải rắn sinh
hoạt ở tuyến huyện, xã. Do vậy, đang tồn tại tình trạng mỗi huyện, xã tự đầu tư lò đốt
công suất nhỏ để xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn. Theo báo cáo của
các địa phương, trên cả nước có khoảng 50 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, đa số là các lò
đốt cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ, các thông số chi tiết về tính năng kỹ thuật
khác của lò đốt chất thải chưa được thống kê đầy đủ. Trong đó có khoảng 2/3 lò đốt
được sản xuất, lắp ráp trong nước.
Một số cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng công nghệ đốt công suất lớn,
hiện đang hoạt động: Nhà máy xử lý chất thải Sơn Tây thuộc Công ty cổ phần dịch vụ
Đông Bắc huyện từ Hà Nội đến Hoà Bình qua sông Hồng và sông Đà với chiều dài
trên 70 Km.
Với vị trí địa lý và giao thông thuỷ bộ thuận tiện huyện Ba Vì rất có điều kiện để
phát triển kinh tế xã hội như: Trao đổi hàng hoá, tiếp thu thông tin, khoa học kỹ thuật,
công nghệ và vốn đầu tư tạo điều kiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế đa dạng, nông - lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, du lịch.
22
Hình 1.2: Vị trí địa lí huyện Ba Vì
b. Địa hình, địa mạo
Ba Vì có núi Ba Vì với đỉnh cao 1.296 m và hai con sông lớn chảy vòng quanh là
sông Đà và sông Hồng, tạo nên một sắc thái riêng về tự nhiên, khả năng đa dạng hoá
các loại cây trồng và phát triển kinh tế xã hội.
Nhìn chung địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc,
từ Tây sang Đông có thể phân thành 03 tiểu vùng khác nhau:
- Vùng núi: Có diện tích tự nhiên là 19.932,11 ha chiếm 46,5% diện tích tự nhiên
của toàn huyện; có 5694.80 ha đất nông nghiệp, chiếm 28,5 % tổng diện tích toàn
vùng. Vùng này có hai loại địa hình: Núi cao thuộc vườn Quốc gia Ba Vì, đồi thấp
thuộc 07 xã miền núi. Độ cao trung bình toàn vùng từ 150 đến 300 m.
- Vùng đồi gò: Địa hình thấp dần từ 100 m xuống 20 - 25 m theo hướng Tây Bắc
thuộc địa bàn của 13 xã với diện tích tự nhiên là 14.840,15 ha chiếm 34,66% diện tích
toàn huyện bao gồm 7.510,17 ha đất nông nghiệp, chiếm 50,6%; đất lâm nghiệp 1956,4
ha chiếm 13 % diện tích của vùng.
- Vùng đồng bằng sông Hồng: Có địa hình tương đối bằng phẳng, gồm 12 xã, địa
hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ đê sông Hồng đến tả ngạn sông Tích. Diện tích tự
nhiên của vùng là 8.032,11 ha chiếm 18,48% diện tích tự nhiên toàn huyện gồm
3.634,59 ha đất nôngnghiệp.
c. Đặc trưng khí hậu
khác.
Ngoài hệ thống sông suối, Ba Vì còn có các ao, hồ và đầm, đặc biệt có những hồ,
đầm có cảnh quan đẹp đã và đang được cải tạo khai thác vào mục đích kinh doanh du
lịch, dịch vụ như: hồ Suối Hai, hồ Đầm Long, hồ Hoóc Cua, Ao Vua, hồ Khoang
Xanh, hồ Vai Sô.
24
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Dân số, lao động và việc làm
- Dân số
Tính đến quý I năm 2016, dân số trung bình của toàn huyện là 275054người. Tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên của toàn huyện là 1,2%/năm. Mật độ dân số trung bình là 65404
người/km2. Trong đó dân số nam là 134937 người chiếm 49,06% dân số, dân số nữ là
140.117 người chiếm 50,94% dân số. Dân số ở nông thôn là 259.582 người chiếm
94.44% dân số và dân số ở thành thị là 15.472 người chiếm5,56% dân số. Ba Vì là một
trong các huyện có mật độ dân số thấp và không đồng đều giữa các xã trong huyện.
- Lao động - việc làm
Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 136.456 người chiếm
49,61% dân số toàn huyện.
Lao động của huyện được phân phối trong các ngành không đều, lực lượng lao
động trong ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn, cụ thể: lao động đang làm việc
trong ngành nông nghiệp là 113.200 người; Công nghiệp và xây dựng là 9.000 người;
Dịch vụ là 9.256 người. Triển khai có hiệu quả chương trình Quốc gia về giải quyết
việc làm, xóa đói giảm nghèo. Hàng năm tạo việc làm mới cho 8.200 lao động (mục
tiêu 7.500 lao động). Trong 5 năm đã đưa 2.020 lượt người đi lao động nước ngoài;
dạy nghề cho 14.960 người; xóa nhà dột nát, xuống cấp cho 641 hộ.
b. Tình hình phát triển kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế
Tổng giá trị tăng thêm từ 1.051 tỷ đồng năm 2010 tăng lên 3.974 tỷ đồng năm