1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------------------------Thái Nguyên - 2016
LÊ ANH CHIẾN
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH
HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2014 - 2016
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số ngành:……….
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN
THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Chí Hiểu
CHỮ KÝ PHÒNG QLĐTSĐH
CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN
Thái Nguyên - 2016
CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
2
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đê
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng
trường đang trở thành vấn đề quan tâm của toàn nhân loại. Hoạt động bảo vệ môi
trường trong thời đại chúng ta là một trong những hoạt động quan trọng của xã hội
loài người, nhằm duy trì và sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên hướng tới sự phát
triển bền vững. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động bảo vệ môi trường, sự quản lý
của các cấp chính quyền về môi trường vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức
đặc biệt ở các huyện ngoại thành Hà Nội.
Phúc Thọ Huyện Phúc Thọ nằm ở phía Tây của thành phố Hà Nội, trung tâm
huyện cách trung tâm thành phố 30 km (theo QL 32). Huyện có diện tích tự nhiên
11719,27 ha, trong đó đất nông nghiệp là 6510,29 ha, về hành chính chia thành 22
xã và 1 thị trấn (TT Phúc Thọ), dân số 168,3 nghìn người.
Trong giai đoạn 2010-2015, nền kinh tế - xã hội của huyện phát triển và đạt
được những thành quả đáng khích lệ.
Tốc độ tăng trưởng giá trị giá tăng (VA) trên địa bàn đạt bình quân
9,12%/năm, trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 16,49%/năm, nông lâm thuỷ sản
tăng bình quân 3,62%/năm và dịch vụ tăng 14,52%/năm.
Cơ cấu giá trị gia tăng của huyện đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ
trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông lâm thuỷ sản. Năm
2015 cơ cấu nông nghiệp 39,84% (giảm so với năm 2010 là 24,74%); Công nghiệp
- xây dựng chiếm 30,31% (tăng so với năm 2010 là 13,74%); thương mại dịch vụ
chiếm 29,85% (tăng so với năm 2010 là 10,99%).
Ngày 4 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010-2020, TP Hà Nội nói chung, huyện Phúc Thọ nói riêng đã tiến
hành lập đề án xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 đòi hỏi nông nghiệp, nông
4
thôn Phúc Thọ trong thời gian tới phải có bước phát triển vượt bậc nhằm đáp ứng
4. Ý nghĩa của đê tài
* Trong học tập và nghiên cứu khoa học:
- Đề tài sẽ là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế, là cơ hội tiếp cận với
thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề.
- Đề tài là cơ sở để lựa chọn, áp dụng các biện pháp quản lý rác thải phù hợp
mang lại hiệu quả cao.
* Trong thực tiễn:
- Đánh giá được toàn diện các vấn đề về công tác quản lý, thu gom rác thải
sinh hoạt, từ đó đề xuất hướng xử lý, góp phần giảm thiểu được tình trạng ô nhiễm
môi trường tại địa phương.
6
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Cơ sở khoa học của đê tài
1.1. Cơ sở pháp lý
Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến và quản lý chất thải:
Trong nước, những năm gần đây, vấn đề quản lý rác thải rắn đô thị nói chung
và quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói riêng đã được Quốc hội, Chính phủ Việt Nam
và các cơ quan chức năng cụ thể hoá bằng các văn bản pháp lý. Hàng loạt các văn
bản ra đời quy định cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm và phương thức quản lý
nguồn rác thải sinh hoạt đô thị.
- Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Luật bảo vệ môi trường 2014, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/4/2014 có hiệu lực ngày từ ngày 01/01/2015.
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
- Chất thải rắn sinh hoạt: Là chất thải ở trạng thái rắn phát sinh trong các
hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người từ các khu dân cư, làng mạc, trường
học… Chất thải sinh hoạt hay còn gọi là rác thải sinh hoạt cần được phân loại và có
biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lý hợp lí để thu hồi năng lượng và bảo vệ môi
trường. (Trương Thành Nam, 2007).
- Hoạt động quản lý chất thải rắn: Bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản
lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom,
lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa,
giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.
- Thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ
tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
8
- Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian
nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở
xử lý.
- Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát
sinh, thu gom, lưu giữ,trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi
chôn lấp cuối cùng.
- Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật
làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải
rắn.
- Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các
yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh. (Luật Bảo
vệ Môi trường, 2013).
1.3. Nguồn gốc, phân loại và thành phần chất thải rắn
nghiệp, nhà máy
Dịch vụ
thương mại
Chất thải rắn
sinh hoạt
(CTR)
Bệnh viện, cơ
sở y tế
Cơ quan
trường học
Nông nghiệp,
hoạt động xử lý
rác thải
Du lịch giải trí
Hình 1.1: Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
1.3.2. Phân loại chất thải rắn
* Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải sinh ra từ các hoạt động hàng ngày
của con người…Theo phương diện khoa học có thể phân các loại chất thải rắn như
sau:
- Chất thải thực phẩm bao gồm các loại thức ăn dư thừa, rau, quả... được sinh
ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn... Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ các gia
* Chất thải từ nhà máy xử lý
Chất thải từ nhà máy xử lý là chất thải rắn từ hệ thống xử lý nước, nước thải,
nhà máy xử lý chất thải công nghiệp.
* Chất thải nông nghiệp
11
Chất thải nông nghiệp bao gồm các vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất
nông nghiệp như gốc rơm rạ, cây trồng, chăn nuôi, bao bì đựng phân bón và hoá
chất bảo vệ thực vật.
* Chất thải y tế nguy hại
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa các chất có chứa một trong các
đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới
môi trường và sức khoẻ con người. Theo quy chế quản lý chất thải y tế, các loại
chất thải y tế được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnh viện,
trạm xá và các trạm y tế.
Các nguồn phát sinh chất thải bệnh viện bao gồm:
- Các loại bông băng, gạc, nẹp, dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật.
- Các loại kim tiêm, ống tiêm.
- Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ.
- Chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân.
- Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thuỷ ngân,
cadimi, asen, cianua...
- Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện.
1.3.2.1 Lợi ích của phân loại chất thải
* Lợi ích kinh tế
Phân loại chất thải rắn mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Trước hết, nó tạo
nguồn nguyên liệu sạch cho sản xuất phân compost. Giảm khối lượng rác mang đi
chôn lấp, diện tích đất phục vụ cho việc chôn lấp rác cũng sẽ giảm đáng kể. Bên
trình phân loại chất thải rắn tại nguồn.
- Ý thức của người dân chưa cao.
1.3.3. Thành phần chất thải rắn
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất
tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.
Chất thải rắn nói chung là một khối hỗn hợp không đồng nhất và phức tạp của
nhiều vật chất khác nhau. Tùy theo cách phân loại, mỗi loại chất thải rắn có một số
thành phần đặc trưng nhất định. Thành phần của chất thải rắn đô thị bao gồm mọi thứ
13
chất liệu từ nhiều nguồn gốc khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn
nuôi, xác chết, rác đường phố, …).
Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau:
- Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27 - 62,22%);
- Chứa nhiều đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ, …;
- Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900kcal/kg).
1.4. Những tác động của RTSH đến môi trường
1.4.1. Làm ô nhiễm môi trường đất:
Các chất hữu cơ còn phân hủy được trong môi trường đất tương đối nhanh
chóng trong điều kiện yếm khí và háo khí, khi có độ ẩm thích hợp qua hàng loạt
sản phẩm trung gian cuối cùng tạo ra các khoang chất đơn giản như nước, khí
cacbonic. Nếu trong điều kiện yếm khí thì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là CH4,
H2O, CO2 gây ngộ độc cho môi trường đất.
Khi thải ra môi trường một lượng rác thải sinh hoạt quá nhiều làm cho môi trường
đất quá tải, không kịp làm sạch và tiêu hủy hết các chất thải sẽ gây ra tình trạng ô
nhiễm, sự ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước
trong đất chảy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước
mặt trong đất
và xử lý thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch
bệnh. Chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gõy cỏc bệnh hiểm
nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh.
Rác thải còn tồn đọng tại các khu vực và bãi rác không hợp vệ sinh là nguyên
nhân làm phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người. Theo
nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu
vực gần bói chụn lấp rác thải chiếm tới 15,25% dân số. Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại
khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25%. [3]
1.4.5. Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
15
Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý hoặc thu
gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… gây
mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm.
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân
chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh
vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và
thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ.
1.5. Cơ sở thực tiễn của đê tài
1.5.1.Tình hình quản lý chất thải sinh hoạt trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1.1 Tình hình quản lý chất thải sinh hoạt trên thế giới
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới quá trình công nghiệp hóa và đô thi
hóa diễn ra mạnh mẽ khiến cho lượng chất thải gia tăng nhanh chóng. Rác thải sinh
hoạt là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí và môi
trường đất, nước có mùi hôi thối, rỉ nước rác, ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Theo Nguyễn Thị Anh Hoa (2006) mức đô thị hóa càng cao thì lượng chất
rắn cũng tăng lên theo đầu người, lượng chất thải rắn bình quân trên đầu người ở 1
số quốc gia trên thế giới như:
LPSCTRĐT hiện nay
(% tổng số)
(kg/người/ngày)
Nước thu nhập thấp
15,92
0,40
Nepal
13,7
0,50
Bangladesh
18,3
0,49
Việt Nam
20,8
0,55
Ấn Độ
26,8
0,46
Nước thu nhập trung bình
40,8
0,79
Indonesia
35,4
0,76
Philippines
54,0
0,52
Thái Lan
cơ sở tái chế hàng hoá. Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy
trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng
một cách triệt để. Sau quá trình xử lý đú, rỏc chỉ còn như một loại cát mịn và nước
thải giảm ô nhiễm. Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên
gạch lát vỉ hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa. (Dự án Danida
(2007), Nâng cao năng lực quy hoạch và quản lý môi trường đô thị, Nxb Đại học
Kiến Trúc Hà Nội, Hà Nội).
Mỹ: hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210 triệu tấn.
Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2 kg rác/ngày. Hầu như thành phần các
loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất
không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô
cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dể lý giải đối với nhịp điệu phát
triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực
phẩm ăn sẵn cựng cỏc vật liệu có nguồn gốc vô cơ. Trong thành phần rác thải sinh
hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ các loại kim loại cũng khá cao là 7,7%.
Như vậy trong rác thải sinh hoạt Mỹ các loại có thể qua phân loại, xử lý để tái sinh
sử dụng chiếm tỷ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại,
thuỷ tinh, gốm, sứ) chiếm khoảng hơn 20%. (Lê Văn Nhương (2001), Báo cáo tổng
kết công nghệ xử lý một số phế thải nông sản chủ yếu (lá mía, vỏ cà phê, rác thải
nông nghiệp) thành phân bón hữu cơ vi sinh vật, Đại học Bách Khoa Hà Nội).
Hiện nay có rất nhiều các phương pháp khác nhau để xử lý rác thải. Tỷ lệ rác
thải được xử lý theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được
giới thiệu ở bảng sau:
Bảng 1.4: Tỷ lệ CTR xử lí bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước
18
ĐVT: %
STT
Đức
16
2
46
36
6
Ý
3
3
74
20
7
Thụy Điển
16
34
47
3
8
Thụy Sĩ
22
2
17
59
9
Mỹ
15
2
67
16
(Nguồn: Đỗ Thị Lan, Nguyễn Chí Hiểu, Trương Thành Nam (2007), Bài giảng kinh tế
thải với quy mô, công nghệ, nguồn đầu tư khác nhau triển khai ở nhiều địa phương
trong cả nước theo mô hình xã hội hóa. Tuy chưa có tổng kết đầy đủ nhưng nhìn
chung công nghệ chưa phù hợp với tính chất rác thải cũng như thói quen phân loại
tại nguồn của sinh hoạt dân cư hiện nay. Các cơ chế, chính sách ưu đãi về đầu tư xử
lý CTRSH đã có nhưng việc áp dụng còn nhiều khó khăn.
Những vấn đề nói trên dẫn tới tình trạng kinh phí cho hoạt động thu gom,
vận chuyển, xử lý CTRSH, mức thu phí vệ sinh còn rất thấp, chưa khuyến khích
được các thành phần kinh tế tham gia, việc xã hội hóa gặp nhiều khó khăn.
Trước thực trạng này, Chính phủ nêu rõ chủ trương thúc đẩy, triển khai quyết
liệt hơn nữa các quy định trong Quyết định 798/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về đầu tư xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt.
Trong đó, vấn đề lớn nhất, cần tập trung khắc phục là sự lúng túng trong việc
tìm ra những mô hình thực sự phù hợp, hiệu quả trong xử lý CTRSH theo tính chất
rác thải từng khu vực cũng như tập quán sinh hoạt của người dân. Bộ Xây dựng
sớm tổng kết, xây dựng mô hình công nghệ, cho triển khai thí điểm một số dự án,
công nghệ với các cơ chế, chính sách phù hợp để đảm bảo tính kỹ thuật, kinh tế, tài
chính, nhất là bài toán hiệu quả để nhà đầu tư có thể thu hồi vốn, thực hiện được
chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực. Các Bộ, ngành hữu quan tiếp tục xây dựng đề
án huy động vốn để triển khai chủ trương quan trọng và cấp thiết này, xây dựng
20
chương trình và tổ chức tuyên truyền, truyền thông nâng cao ý thức người dân trong
bảo vệ môi trường, thói quen phân loại rác từ nguồn, ...
1.5.1.3. Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Phúc Thọ, Thành
phố Hà Nội.
Đến nay, các loại chất thải rắn chưa được phân loại nên tỷ lệ các thành phần
chưa thể thống kê được. Tuy nhiên, có thể đánh giá dựa vào đặc điểm của từng khu
vực như sau: Phúc Thọ là một huyện ngoại thành Hà Nội kinh tế phát triển dựa chủ
- Địa điểm: Khu vực huyện Phúc Thọ Thành phố Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 12/2015 – 08/2016.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Phúc Thọ Thành
phố Hà Nội ảnh hưởng đến phát thải rắn.
- Điều tra đánh giá Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Phúc Thọ
Thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2016.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Phúc
Thọ Thành phố Hà Nội đến năm 2020.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp điều tra, phỏng vấn
* Phỏng vấn bằng phiếu điều tra
Lập phiếu điều tra, phỏng vấn.
Thành lập bộ câu hỏi đánh giá nhanh, tiến hành phát phiếu điều tra, phỏng
vấn 30 phiếu cho cán bộ: công chức - viên chức, 40 phiếu cho người dân và 30
phiếu cho đối tượng thu gom trực tiếp.
Nội dung điều tra bao gồm:
- Thông tin môi trường được biết đến.
- Thực trạng phân loại, thu gom, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt ở địa
phương hiện nay.
- Khả năng nhận thức về phân loại và công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt
ở địa phương.
- Phương pháp điều tra theo bảng hỏi (mẫu phiếu điều tra xem phần phụ lục):
22
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
* Số liệu thứ cấp:
- Những số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.
nguồn và để rác thải lại để cân.
+ Đến từng hộ gia đình thí điểm cân rác vào giờ cố định trong ngày
1lần/ngày.
+ Số lần cân rác của mỗi hộ gia đình lặp lại 3 lần/tháng (cân trong 4 tháng).
Giữa các ngày cân rác trong tuần, trong tháng có sự luân chuyển để cân được vào
các ngày đầu tuần, giữa tuần, cuối tuần trong tháng. Rác sau khi thu gom, cân thô
được đổ vào xe thu gom vào các điểm tập trung rác của từng phường, xã.
+ Từ kết quả cân thực tế rác tại các hộ gia đình, tính được lượng rác thải
trung bình của 1 hộ/ngày, và lượng rác thải bình quân/người/ngày.
+ Phân loại rác tập trung tại bãi rác khu dân cư tiến hành phân loại rác trong
1 tháng, mỗi tuần 2 lần vào 2 ngày cố định trong tuần thu gom, cân trọng lượng rác
thải vô cơ, hữu cơ quy thành tỷ lệ % trọng lượng.
+ Nếu xã nào được thu gom rác thải tập trung thì tiến hành đếm số xe đẩy tay
chở rác trong ngày, tháng. Sau đó ước tính khối lượng trung bình lượng
rác/ngày/tháng, sẽ biết được lượng phát sinh và thu gom.
+ Nếu , xã nào chưa tổ chức thu gom rác: sau mỗi lần họp chợ, khi rác được
thu gom thành đống thì tiến hành cân và tính khối lượng trung bình/ngày/tháng.
- Đối với rác tại các cơ quan công sở, trường học: Do các đặc điểm nghề
nghiệp và tính chất công việc, nên thành phần là khá giống nhau. Đầu tiên tiến
hành điều tra về số lượng các cơ quan, trường học, ở các phường, xã các thông tin
về: số nhân viên, số học sinh, sinh viên, số cán bộ giáo viên, loại hình sản xuất, đặc
thù rác thải của cơ quan, trường học. Sau đó căn cứ vào quy mô, lượng người của
từng nhóm công sở, trường học để ước tính khối lượng rác thải cho những nhóm có
đặc điểm tương tự nhau: lựa chọn một số cơ quan, trường học (mẫu giáo, tiểu học,
trung học, UBND) và sau đó cân thí điểm rồi tính trung bình lượng rác/ngày/tháng
hoặc tiến hành đếm các xe thu gom (nếu có thể). Rồi ước tính khối lượng rác được
thu gom, phát sinh và sau đó tính trung bình lượng rác/ngày/tháng.
24
P
: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
V
: Tỷ lệ tăng dân số cơ học
t
: Số năm dự báo
(P ± V = R)
R: Tỷ suất tăng dân số bình quân (dựa theo tỷ suất tăng dân số
bình quân trên cả nước để đưa ra tỷ suất tăng dân số bình quân của
huyện Phúc Thọ).
Dựa vào lượng rác thải tính theo bình quân trên đầu người ở Thành thị và
Nông thôn (tính theo tiêu chuẩn dự báo của Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự), sẽ đưa ra
được lượng rác thải phát sinh mà ta dự đoán.
3.4.5. Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu
Từ các số liệu thu thập được tổng hợp xử lý bằng world, excel.
3.4.6. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
25
Tham khảo ý kiến của thầy cô, những người có liên quan, ý kiến đóng góp
của cán bộ phòng tài nguyên môi trường huyện.