Đ Ạ I HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
$ $ ỉ|c $ $ $ $
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN TRÙNG NƯỚC
VÀ ĐỂ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN CÁC LOÀI ĐẶC HỮU
TẠI VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, LÀO CAI
MÃ SỐ: QG.07.14
Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Văn Vịnh
Các cán bộ tham gia:
P G S .T S . N g u y ễ n X u â n Q u ý n h
T h s. B ù i T h a n h V ân
C N . N g ô X u â n N a m
C N . N g ô M in h Thu
C N . H o à n g Q u ố c K h á nh
N C S. N g u y ễ n Q u a n g H u y
C N . N g u y ễ n T h anh Sơn
Hà Nội, 2009
BÁO CÁO TÓM TẮT
â. Tên đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước và đề xuất giải pháp bảo
tổn các loài đặc hữu tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai”
c. Các cán bộ tham gia: PGS.TS. Nguyễn Xuân Quýnh, Ths. Bùi Thanh Vân , CN.
Ngô Xuân Nam, CN. Ngô Minh Thu, CN. Hoàng Quốc Khánh , NCS. Nguyễn Quang
Huy, CN. Nguyễn Thanh Sơn
d. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu đa dạng sinh học Côn trùng nước và trên cơ sở đó đề xuất giải pháp bảo
tồn các loài đặc hữu tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai.
- Thu thập toàn bộ tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đãc biệt chú trọng đến
tài liệu nghiên cứu về phân loại học, địa động vật cũng như sinh thái học của Côn
trùng nước vùng nhiệt đới và khu vực Đông nam á.
- Tổ chức các đợt điều tra thu thập mẫu vật ngoài thực địa .Mẫu vật được điều tra
M ục 111 Thông tin liên lạc
Tiết 15 Chi khác
M ục 112
Hội nghị
3.800.000 đ
Tiết 02 Bồi dưỡng báo cáo viên
M ục 113
Công tác p hí
8.000.000 đ
Tiết 01
Vé máy bay, tàu xe
M ục 114 Chi phí thuê mướn
32.000.000 đ
Tiết 01
Thuê phương tiện vận chuyển
Tiết 07 Thuê lao động trong nước
Tiết 15 Chi phí thuê mướn khác (thuê dịch tài liệu)
M ục 119 Chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành
10.000.000 đ
Tiết 01 Vật tư
Tiết 02 Trang thiết bị không phải là TSCĐ
Tiết 14
Thanh toán hợp đồng với bên ngoài
Tiết 15
Chi khác (QLCS) 4%
Tổng cộng:
60.000.000 đ
KHOA QUẢN LÝ
(K ý và ghi rõ họ tên)
CHỦ TRÌ ĐỂ TÀI
Educatỉon
- 04 Bachelor thesis
- 02 Msc thesis (during time 2007-2009)
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỂ TÀI
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU 3
2 . TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cú u TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
2.1. Tinh hình nghiên cứu trẽn thê giới 3
2.2. Tinh hình nghiên cứu ở Việt Nam 8
3. ĐIỀU KIỆN TựNHIÊN CỦA KHU v ự c NGHIÊN c ú u
3.1. Vị trí địa lý 10
3.2. Địa hình 10
3.3. Địa chất và thổ nhưỡng 10
3.4. Khí hậu 11
3.5. Thủy văn 11
4. THÒI GIAN, ĐỊA ĐIEM và phươ n g ph á p n g h iên c ú u
12
4.1. Thời gian 12
4.2. Địa điểm 12
4.3. Phương pháp nghiên cứu
17
5. KẾT QUẢ NGHIÊN c ú u 18
5.1. Một sô chỉ sỏ lý hoá học tại các khu vực nghiên cứu
18
5.2. Đa dạng về loài của cón trùng nước tại khu vực nghiên cứu
19
5.3. Một sô đặc điểm của quần xã cỏn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
đa dạng của côn trùng nước, rất cần được sự quan tâm nghiên cứu. Chính vì vậy chúng
tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học Côn trùng nước và đề xuất
giải pháp bảo tồn các loài đặc hữu tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai” Mục
tiêu chính của đề tài là đánh giá đa dạng của Côn trùng nước , và trên cơ sở các kết quả
nghiên cứu định hướng công tác bảo tồn các loài đặc hữu ở khu vực nghiên cứu.
2 . TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cú u TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thê giới
Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu ở những nước phát
triển. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến từng bộ, từ những nghiên
cứu về phân loại học (Eaton, 1871, 1883-1888; McCafferty, 1973, 1981; Kawai, 1961,
1968, 1969) sinh thái học (Corbet, 1980; Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972
McCafferty, 1991,1999) đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984).
Côn trùng nước gắn bó chật chẽ vói hoạt động của con người nên đã có rất nhiều
nghiên cứu về các nhóm côn trùng nước gây hại, truyển bệnh như ruồi, muỗi (Resh và
Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984; Merritt và Newson, 1978; Kim và
Merritt, 1987).
3
Các nhà khoa học trên thế giới cũng sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn
trùng nước trong hệ sinh thái, từ những năm 60 của thế kỷ trưóc, Kuehne (1962),
Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris (1968) đã bắt đầu sử dụng côn trùng nước
làm sinh vật chỉ thị chất lượng nước. Tiến sang thập niên 70 và 80, côn trùng nước trở
thành vấn đề được quan tâm nhiều hơn nhất là các nghiên cứu về sinh thái học cơ bản
tại các thủy vực nước ngọt (Bames và Minshall, 1983). Phạm vi nghiên cứu côn trùng
nước ngày càng mở rộng hơn cả về sự biến động quần thể của chúng, các mối quan hệ
linh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins
994).
Sang cuối thế kỷ 20, hàng loạt các nghiên cứu về côn trùng nước đã được công
ố (Kawai T. ,1985;Yoon, I.B., 1995; Merritt, R.w. và Cummins K.w„ 1996). Các
ịhiên cứu này đã bổ sung và cung cấp rất nhiều các kiến thức về côn trùng nước bao
'>m cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng
dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins
1994).
Sang cuối thế kỷ 20, hàng loạt các nghiên cứu về côn trùng nước đã được công
bố (Kawai T. ,1985;Yoon, I.B., 1995; Merritt, R.w. và Cummins K.w., 1996). Các
nghiên cứu này đã bổ sung và cung cấp rất nhiều các kiến thức về côn trùng nước bao
gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng
Qua các công trình nghiên cứu đã được công bố, cho đến nay đã xác định có 9
bộ thuộc côn trùng nước đó là các bộ: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn
(Odonata), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh lông (Tricoptera), Cánh
cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Meganoptera), Cánh vảy
(Lepidoptera).
Nghiên cứu về Bộ Phù (Ephemeroptera)
Cho đến nay trên toàn thế giới đã công bố hơn 2000 loài, thuộc 371 giống và 26
họ (McCafferty,1981) của bộ Phù du. Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học
Phù du được thực hiện bởi nhà Tự nhiên học Linnaeus vào năm 1758. Trong công trình
này ông đã mô tả 6 loài phù du thu được ở châu Âu và đều xếp chúng thành một nhóm
là E ph em era. V ào những thập niên cuối của thế kỷ 19 nhà Côn trùng học Eaton đã
công bố một loạt các công trình nghiên cứu về Phù du, trong đó nổi bật là công trình
"A monograph on the Ephemeridae" được công bố vào năm 1871 (Eaton, 1871). Công
trình này đã cung cấp những kiến thức cơ bản về Phù du, đặc biệt là những đặc điểm về
hình thái của cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, dùng cho việc xây dựng khoá định
loại đến các họ và giống. Công trình nghiên cứu này được xem như là chìa khoá cho
việc thực hiện các nghiên cứu về phân loại Phù du tiếp sau này. Đến đầu thế kỷ 19 đã
có một số nhà khoa học châu Âu và châu Mỹ quan tâm nghiên cứu về phân loại của
Phù du, điển hình là các nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925 1932-1933), Navás
(1920, 1930).Tiếp theo Emunds (1963) đã đưa ra một hệ thống phân loại đến các họ
Phù du trên toàn thế giới. Hệ thống phân loại này đã đưa ra m ột bức tranh tổng thể về
khoá phân loại bậc cao, cũng như nguồn gốc phát sinh của Phù du.
4
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Phù du được thực
nghiên cứu về sinh học và sinh thái học (Corbet, 1980, Hutchinson, 1993 ). Các khoá
định loại về Chuồn chuồn cũng đã được thực hiện nhiều tác giả, và đối vói giai đoạn
trưởng thành, các khoá định loại khá chi tiết. Riêng đối với giai đoạn ấu trùng Ishida &
5
Ishida (1985) đã xây dựng khoá định loại có kèm theo hình vẽ rất rõ ràng tới giống ở
giai đoạn ấu trùng vùng Châu á.
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Cho đến hiện nay trên toàn thế giới đã xác định được hơn 1.800 loài thuộc bộ Cánh
úp. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về phân loại học của bộ này trên thê
giới. Đặc biệt những nghiên cứu về bộ này ở khu vực Đông nam á và vùng Phương
Đông (ấn Độ - Mã Lai) đẫ được đề cập đến từ khá sớm. Hai nhà Côn trùng học Wu và
Claassen (1934, 1935, 1937, 1938) đã công bố một loạt các công trình phân loại Cánh
úp ở miền nam Trung quốc. Kavvai (1961-1975), Jewett (1975) đẫ đưa ra những dẫn
liệu khá phong phú về khu hộ Cánh úp ở khu vực Đông Nam A, An Độ, Sri Lanka,
Bangladesh v.v Zwich và Sivec (1980) công bố về khu hệ Cánh úp ở dãy núi cao
Himalaya. Zwick (1980, 1983, 1985, 1988), Stark (1979, 1987,1983, 1991, 1999) đẫ
công b ố và bổ sung m ột loạt các công trình về phân loaị cũng như phân bố của các loài
Cánh úp ở vùng Ấn Độ - Mã Lai, cũng như khu vực Đông nam Châu á. Uchida và cộng
sự (1988, 1999) đẫ tiến hành các nghiên cứu về khu hệ Cánh úp ở nhiều nước ở Châu
Á, đặc biệt là Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, v.v
Nghiên cứu về bộ Cánh lỏng (Trichoptera)
Bộ Cánh lông là bộ cỏn trùng nước đa dạng nhất trong hệ sinh thái nước ngọt và
phân bố trên tất cả các vùng địa lý trên trái đất. Những nghiên cứu về hệ thống phân
loại bậc cao được thực hiện bởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và
hoàn thiện bởi Morse, 1997. ở Châu Á, những nghiên cứu về phân loại Cánh lông đã
được thực hiện bởi khá nhiều các nhà Côn trùng học như Ulmer
(1911,1915,1925,1927,1930,1932) với các công trình về khu hệ Cánh lông ở Indonesia
Các nghiên cứu về khu hệ Cánh lông ở Ân Độ, Srilanca được thực hiện bời Martynov
(1935,1936). Theo công bố của Schmid (1984) thì chỉ tính riêng vùng Ấn Độ - Mã Lai
đẫ có trên 50.000 loài. Các nghiên cứu ở Borneo (Kimmins, 1955), ở New Guinea
& Balke (1997) Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998, 2003) đã cung cấp khá đầy đủ
những dẫn liệu vể phân loại học của bộ Cánh cứng ở Châu á. Khoá định loại đến họ và
đến giống đã được nhiều tác giả đề cập đến và đến năm 1996 White & Brigham đã xây
dựng một khoá đinh loại khá hoàn chỉnh cho cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành.
Tuy nhiên khoá định loại đến loài có sự khác nhau theo khu vực địa lý. Các tác giả
Jach & Ji (1995, 1998, 2003) đã xây dựng một khóa định loại rất chi tiết đến loài của
khu hệ côn trùng nước ở Trung Quốc.
Nghiên cứu về bộ Hai Cánh (Diptera)
Hai cánh là một trong những bộ côn trùng có số lượng loài phong phú. Kết quả
nghiên cứu về Hai cánh sống ở nước đã thống kê được trên 120000 loài. Đây là bộ có
nhiều họ rất phổ biến và được nghiên cứu rất kỹ, do chúng có quan hệ chặt chẽ với đời
sống con người như họ muồi (Culicidae), họ ruồi đen (Simuliidae). Bộ hai cánh không
chì đa dạng về thành phần loài mà chúng còn đa dạng về các dạng hình thái cơ thể
cũng như những đặc tính sinh thái học. Những nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất
nhiều các nhà khoa học công bố, trong đó điển hình là các nghiên cứu của A lexander
(1931), Mayer (1934), Z w ich & Hortle (1989). Đối với khu vực Châu á, Delfinado &
7
Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của
Hai cánh ở M iền Ân độ - Mã Lai. Khoá định loại tới họ và g iống hiện nay chủ yếu thực
hiện theo khoá định loại được xây dựng bởi Harris (1990).
Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (M eganoptera)
Bộ Cánh rộng chỉ gồm có hai họ đó là họ Sialidae và Corydalidae. Các loài
thuộc họ Sialidae phân bố hẹp, cho đến nay ở Châu á họ này chỉ phân bố ở vùng ôn đới
thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940). Các loài thuộc
họ Corydalidae có phân bố ở hầu hết các khu vực ở Châu á (Bank, 1940; G hosh, 1981;
Yang & Yang, 1986, 1991, 1992, 1993).
Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Bộ Cánh vảy sống ở nước chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae và
Crambidae. Các nghiên cứu về bộ này ở Châu á chủ yếu về phân loại học trong đó có
các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995).
Nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Chuồn chuồn ở Việt Nam đã được thực hiện bởi
Martin (1904), chủ yếu là mô tả một số loài mới của phân họ Chuồn chuồn ngô. Fraser
(1919) đã công bố 39 loài Chuồn chuồn ớ Miền Bắc Việt Nam. Từ nãm 1980 đến nay
đã có thêm khá nhiều các công trình nghiên cứu vể Chuồn chuồn ở Việt Nam được
công bố như Pritykina (1992), Asahina (1995,1996), Do Manh Cuong (2006). Cho đến
nay đã mô tả và công bố 234 loài Chuồn chuồn ở Việt Nam (Do Manh Cuong, 2006).
Tuy nhiên hầu hết các công trình này đều tập chung chủ yếu vào giai đoạn trưởng
thành. Do vậy cần phải có các nghiên cứu ở giai đoạn thiếu trùng của Chuồn chuồn ở
Việt Nam.
Đối với Việt Nam, những nghiên cứu về khu hệ Cánh úp còn tản mạn. Cho đến
nay cũng mới chỉ có một số tác giả, chủ yếu là các nhà Côn trùng học người nước
ngoài như Kawai (1968, 1969), Zwich (1988) và Stark (1999). Các nghiên cứu này
cũng chỉ mới tập trung vào việc mô tả và công bố một số loài mới dựa vào mẫu vật giai
đoạn trưởng thành thu được ở một vài địa điểm của Việt Nam. Các công bố gần đây dã
xác định được 50 loài Cánh úp ở Việt Nam (Cao Thi Kim Thu, 2002). Những nghiên
cứu về Cánh úp ở Việt Nam cũng đang tiếp tục được nghiên cứu.
Những nghiên cứu đầu tiên về bộ Cánh lông ở Việt Nam đã được đề cập đến
trong các tài liệu của một số nhà côn trùng học ở các nước Châu Âu như Đức (Ulmer,
1907), Tây Ban Nha (Navas, 1913). Tiếp theo những nghiên cứu này có một số công
trình nghiên cứu của từng tổng họ, hoặc các họ riêng biệt. Trong đó phải kể đến công
trình của Navas (1913, 1917, 1922, 1930, 1932, 1933), Bank (1931), Mosely (1934)
mô tả một số loài thuộc tổng họ Hydrosychoidea, Philopotamoidea, Leptoceroidea
Limnephiloidea và Rhyacophiloidea ở Việt Nam. Gần đây cũng có một số công trình
nghiên cứu bổ sung thêm dẫn liệu của bộ này, cụ thể Mey (1995, 1996, 1997, 1998) và
Malicky (1994, 1995, 1998) tập trung nghiên cứu các loài thuộc tổng họ
9
Hydrosychoidea, Philopotamoidea, Leptoceroidea, Sericostomatoidea, Limnephiloidea,
G lossosom atoid ea, H yđroptiloiea và Rhyacophiloidea dựa vào các mẫu vật thu được ờ
m ột số địa điểm ở V iệt Nam . Nguyễn Văn V ịnh và cộng sự (2 0 0 1 ) nghiên cứu về sự
phân bố của Côn trùng nước ở Vườn quốc gia Tam Đảo đã công bố 23 loài, thuộc 16
thể hiện rõ, thuận lợi cho việc trồng rừng và phục hổi rừng. Trên địa hình dốc đất dễ bị
rửa trôi và bào mòn, kết hợp với quá trình hoạt động địa chất lâu dài, những hoạt động
10
xâm thực, phong hóa, bồi tụ đã hình thành nên các thung lũng phủ đầy phù sa màu mỡ
nằm rải rác trong VQG Hoàng Liên.
3.4. Khí hậu
Do ở phía Đông của dãy Hoàng Liên, có địa hình phức tạp nên khí hậu ở Vườn
Quốc gia Hoàng Liên cũng bị phân hóa mạnh mẽ theo độ cao và hướng địa hình. Một
đặc trưng của khí hậu Hoàng Liên là hầu như quanh năm duy trì tình trạng ẩm ướt. Độ
ẩm tương đối trung bình năm khoảng trên 85%, tháng mưa ít nhất trung bình cũng đạt
20 - 30 mm. Đặc biệt hiện tượng mưa phùn cuối mùa đỏng diễn ra mạnh mẽ vì các
thung lũng mở rộng về phía đồng bằng đã tạo điều kiện tích tụ các luồng gió nổm ấm
thổi từ biển tới. Tổng bức xạ mặt trời có chỉ số phổ biến từ 100 - 135 Kcal/crrr/nãm.
Nhiệt độ không khí trung bình năm từ 13 -21°c, lớn ở sườn Tây, nhỏ ở sườn Đông.
Nhiệt độ cao đạt đỉnh vào tháng 6-7 có chỉ số 16 - 25 °c. Nhiệt độ thấp nhất vào các
tháng 12 và tháng 1, nhiều năm xuống dưới 5 °c. Vào mùa đông thường có băng giá và
tuyết rơi đôi khi có thể xuống dưới - 3 °c. Lượng mưa phân bố không đều giữa các
tháng trong năm, đặc biệt vào các tháng mùa hè, lượng mưa tương đối cao. Mùa mưa
bắt đầu từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 10, trong đó hai tháng có lượng mưa lớn là
tháng 7 (454,3 mm) và tháng 8 (453,8 mm). Vào mùa đông, do nhiệt độ hạ thấp, hạn
chế lượng bay hơi nước, vì vậy, đây là khoảng thời gian mưa ít nhất trong năm, lượng
mưa trung bình tháng khoảng 50 -100 mm, thấp nhất vào tháng 12 (63,6 mm) nhưng
do nhiệt độ thấp nên thấy rằng khu vực Hoàng Liên không có tháng nào khô. Lượng
nước bốc hơi trong vùng có ảnh hưởng tới độ ẩm, nhiệt độ chung cho toàn khu vực. Độ
ẩm không khí ở khu vực H oàng Liên tương đối cao, trung bình năm khoảng 86%.
Tháng có độ ẩm lớn nhất là tháng 9 và tháng 11 với giá trị 90%, tháng có độ ẩm nhỏ
nhất là tháng 4 có giá trị 82% (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008).
Ngoài những yếu tố thời tiết chung, Vườn Quốc gia Hoàng Liên còn có những
hiện tượng thời tiết đặc biệt như: sương mù, băng giá, sương muối, mưa đá,
■ Điểm 4 (Đ4): Sín Chải
■ Điểm 5 (Đ5): Cát Cát
■ Điểm 6 (Đ 6): Tả Van
■ Điểm 7 (Đ 7): Cầu M ây
■ Điểm 8 (Đ8): Bản Hồ
■ Điểm 9 (Đ9): Gia Phú, Bến Đ ền
Một số đặc điểm chính của các điểm thu mẫu:
• Điểm 1. Đỉnh Thác Bạc
- Đ ộ cao suôi là 2.040m .
12
Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu và các điểm thu mảu
- Chiều rộng suối: 5-10 m, chiều rộng dòng chảy: 1-3 m, độ sâu dòng chảy
nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 10 cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ờ chỗ
nước đứng 20 cm, pH: 5,8; nhiệt độ nước: 1 l,5°c.
- Tọa độ 22°21’846” vĩ Bắc, 103046’5 7 r ’ kinh Đông.
- Suối nằm trên đỉnh Thác Bạc, rừng quanh suối đang phục hồi sau một đợt
cháy lớn khoảng 10 năm trước. Nước suối trong, sạch, chảy mạnh. Nền đáy
suối chủ yếu là đá cuội nhỏ xen kẽ các tảng đá lớn. Xung quanh suối là cây
bụi, tre, cây gỗ lớn và nhỏ, độ che phủ đạt khoảng 90%
• Điểm 2. Chân Thác Bạc
- Tọa độ: 22°21 ’846” vĩ Bắc, 103°46’57” kinh Đông.
- Độ cao suối là 1830 m.
- Chiều rộng suối: 9-18 m, chiều rộng dòng chảy 1-2 m, độ sâu dòng chảy
nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 10 cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ờ chỗ
nước đứng 18 cm, pH: 6,9, nhiệt độ nước: 12,6°c.
- Khu vực suối dưới chân Thác Bạc là điểm du lịch của Thác Bạc. Nước cháy
mạnh, trong. Do đó khu vực này có nhiều đá tảng lớn và đặc trưng là nền
đáy với đá cuội lớn. Xung quanh hai bên bờ suối có nhiều cây bụi, cây leo,
cây gỗ nhỏ, độ che phủ khoảng 80%. Suối thường xuyên chịu tác động của
khách du lịch. Bên cạnh đó người dân còn xây đạp bê tông nhỏ lấy nước
- Điểm lấy mẫu này nằm ngay sau một con đập nhỏ. Nước suối trong, sạch.
Dòng chảy mạnh nên nền đáy chủ yếu là đá cuội cỡ lớn và trung bình, tuy
nhiên cung xem kẽ nhiều vũng nước với đáy là cát và các chất hữu cơ lắng
đọng. Sinh cảnh hai bên chủ yếu là cây bụi, tre và cả ruộng lúa nhỏ của
ngưòi dân, nhìn chung độ che phủ khoảng 30%. Đây cũng là một địa điểm
thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan.
• Điểm 6. Tả Van
- Tọa độ: 22°18’279” vĩ Bắc, 103°53’304” kinh Đông.
- Độ cao của suối so với mặt nước biển là 982 m.
- Chiểu rộng của suối: 80-90 m, chiều rộng dòng chảy: 40-45 m, độ sâu dòng
chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 15 cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ờ
chỗ nước đứng 30 cm , pH: 8,2; nhiệt độ nước: 18,7°c.
- Suối có nền đáy là đá cuội lớn và trung bình. Nước chảy khá mạnh, sạch, có
nhiều chỗ rất sâu. Xung quanh hai bên bờ suối là ruộng hoặc vách đói có
cây bụi nhỏ, tre, Độ che phủ khoảng 1%.
• Điểm 7. Cầu Mây
- Tọa độ: 22°17’250” vĩ Bắc, 103°55’184” kinh Đông.
15
- Độ cao của suối so với mật biển là 643m.
- Chiều rộng suối: 50-60 m, chiều rộng dòng chảy: 35-38 m, độ sâu dòng
chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy 23 cm, độ sáu dòng chảy nơi thu mẫu ở
chỗ nưóc đứng 40 cm , pH: 7,2; nhiệt độ nước: 18,4°c.
- Nước suối sạch, chảy mạnh, nền đáy cứng, chủ yếu là đá cuội cỡ lớn. Lòng
suối có nhiều đá tảng cỡ lớn và trung bình, và thỉnh thoảng cũng có các
vũng nước đọng. Xung quanh suối là những ruộng bậc thang, có nhiều cây
bụi nhỏ hoặc vách đồi. Độ che phủ dưới 1%. Suối cũng là nơi tham quan
của khách du lịch.
• Điểm 8. Bản Hồ
- Tọa độ: 22°15’956” vĩ Bắc, 103°58’048” kinh Đông.
- Độ cao của suối so với mặt nước biển là 404m.
hẹp thì việc thu mẫu được thực hiện bằng vợt cầm tay.
Đối với mẫu định lượng, lấy hai mẫu 1 ở nơi nước đứng và 1 ờ nơi nước chày
Mẫu sau khi lấy được làm sạch bùn đất. Do côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ
nát nên phải nhẹ nhàng và nhật sơ qua mẫu ngay tại thực địa. Mẫu vật thu được ngoài
thực địa được định hình bằng dung dịch Kahle’s, ghi etiket đầy đủ.Toàn bộ mẫu vật thu
được đem về phòng thí nghiệm lưu trữ tại phòng thí nghiệm Đa dạng sinh học của bộ
môn Động vật không xương sống, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự Nhiên
Hà Nội.
4.3.2. Phương pháp phân tích mẫu
Phân tích mẫu bao gồm hai công đoạn: nhặt mẫu và định loại mẫu. Mẫu được
rửa sạch, cho ra khay, rồi dùng panh nhặt toàn bộ côn trùng nước trong đó, và mẫu sau
khi nhặt được định hình trong cồn 70 — 80. Tiếp theo, bước định loại mẫu vật được
tiến hành dựa trên các khóa định loại đã công bố trong và ngoài nước, điển hình là tài
liệu định loại của Meritt & Cummins (1996), Braasch & Soldan (1984, 1986, 1988),
Nguyen & Bae (2003, 2004), Nguyễn Văn Vịnh (2003), Cao Thị Kim Thu (2003),
Hoàng Đức Huy (2005), Zwich & Sivec (1980), Stark (1979, 1987, 1983, 1991, 1999),
Mey (1995, 1996, 1997, 1998), Malicky (1994, 1995, 1998),
Dụng cụ phân tích mẫu bao gồm: kính lúp, kính hiển vi, đĩa petri, khay, panh
mểm kim nhọn lam kính, lamen, Khi tiến hành phân tích mẫu cần cẩn thán, nhẹ
thàng, tránh làm nát mẫu.
Các chỉ số đa dạng sinh học được tính toán dựa vào các công thức sau:
4.3. Phương pháp nghiên cứu
17
ĐAI HOC QUÕC GIA ma no
TRUNG TÀM thõng tin TH /'ẼN
ì i i l B ầ ũ
______
+ Chỉ số Shannon — Weiner : H'= -C]T p (log2 p )
■V
H’: Chỉ sô đa dạng Shannon — Weiner
thu
mẫu
Độ
cao
(m)
Chiều
rộng
suối
(m)
Chiều
rộng
mặt
nước
(m)
Độ
sâu
nước
chảy
(cm)
Đô sâu
nước
đứng
(cm)
Các chỉ số thủy lý hóa học
Nhiệt
độ
nước
(°C)
pH
DO
23 12,5
6,9 8,1
0 0
0
Đ5 1.250 25-30 10-12 30 41
13,0 7,8 7,5 0 0
0
Đ6 982 80-90 40-45
15 30 18,7
8,2
7,1
0.01 2
0
Đ7 643
50-60 35-38
23 40 18,4 7,2
6,9
0.01 0 0
Đ8
404
95-
100
50-57
30 31 18,5
7,9
8,4
0
3
0
Đ9 79