Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại suối Thác Bạc độ cao trên 600m thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 50

TRƢỜNG
ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
D:\khóa luận
tt
KHOA SINH - KTNN

======

VŨ NGỌC MAI

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN TRÙNG NƢỚC
TẠI SUỐI THÁC BẠC ĐỘ CAO TRÊN 600M THUỘC
VƢỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học

HÀ NỘI, 2018


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

======

VŨ NGỌC MAI

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN TRÙNG NƢỚC
TẠI SUỐI THÁC BẠC ĐỘ CAO TRÊN 600M THUỘC
VƢỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của PGS.TS.Nguyễn
Văn Vịnh.
Các số liệu, những nghiên cứu đƣợc trình bày trong khóa luận này trung
thực và chƣa từng đƣợc công bố dƣới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Vũ Ngọc Mai


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ...................................................... 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
1.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nƣớc trên thế giới ................................ 3
1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nƣớc ở Việt Nam ............................... 10
Chƣơng 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 16
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu .......................................................................... 16
2.2. Thời gian nghiên cứu ........................................................................... 16
2.3. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 16
2.4. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 16
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................... 17
2.5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên ........................................ 17
2.5.2. Phƣơng pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: ................... 17

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Một số điều kiện tự nhiên tại các điểm thu mẫu ở suối Thác
ạc -Vƣờn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ................................ 16
Bảng 3.1. Số lƣợng các taxon thuộc các bậc phân loài của ............... 25
các bộ côn trùng nƣớc tại khu vực nghiên cứu................................... 25
Bảng 3.2. Thành phần loài của từng bộ côn trùng thu đƣợc .............. 27
ở các điểm nghiên cứu ........................................................................ 27
Bảng 3.3 . Số loài thu đƣợc của mỗi bộ côn trùng nƣớc .................... 32
ở các điểm nghiên cứu ........................................................................ 32
Bảng 3.4. Chỉ số Jacca - Sorenαsen giữa các điểm nghiên cứu ......... 34
Bảng 3.5. Số lƣợng cá thể các bộ côn trùng nƣớc .............................. 35
tại khu vực nghiên cứu ....................................................................... 35
Bảng 3.6. Loài ƣu thế, chỉ số loài ƣu thế (DI) và chỉ số Đa dạng sinh
học Shannon – Weiner (H’) ................................................................ 37
Bảng 3.7. Số lƣợng loài và số lƣợng cá thể côn trùng nƣớc ở nơi nƣớc
chảy và nƣớc đứng trên đơn vị diện tích 0,25 m2............................... 38


DANH LỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu.............................. 26
Hình 3.2. Số loài thu đƣợc của mỗi bộ côn trùng nƣớc ở các điểm nghiên
cứu ................................................................................................................... 31
Hình 3.3. Sơ đồ Jacca - Sorensen thể hiện mối liên quan giữa các điểm
nghiên cứu ....................................................................................................... 32
Hình 3.4 Số cá thể thu đƣợc ở mỗi bộ côn trùng nƣớc tại khu vực nghiên
cứu ................................................................................................................... 34
Hình 3.5. So sánh số loài trung bình giữa nơi nƣớc chảy và nơi nƣớc
đứng tại các điểm nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,25m2) ......................... 37
Hình 3.6. So sánh số cá thể trung bình giữa nơi nƣớc chảy và nơi nƣớc
đứng tại các điểm nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,25m2) ......................... 37

1


trùng nƣớc cũng đã đƣợc quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ở các Vƣờn Quốc
gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, những nơi có hệ thống sông, suối phong
phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nƣớc cao.
Suối Thác ạc thuộc Vƣờn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc với hệ
động thực vật phong phú và đa dạng đã thu hút nhiều nghiên cứu của các nhà
khoa học, nhƣng chƣa có nhiều nghiên cứu về côn trùng nƣớc. Chính vì thế
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học côn
trùng nƣớc tại suối Thác Bạc độ cao trên 600m thuộc Vƣờn quốc gia
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định thành phần loài côn trùng nƣớc ở độ cao trên 600m tại suối
Thác ạc - Vƣờn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nghiên cứu một số đặc điểm của quần xã côn trùng nƣớc tại khu vực
nghiên cứu nhƣ: mật độ, phân bố, các chỉ số đa dạng.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu đa dạng sinh học về loài của nhóm côn
trùng nƣớc và sự phân bố của chúng theo tính chất của thủy vực ở độ cao trên
600m tại suối Thác ạc, Vƣờn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tƣ liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu về côn trùng nƣớc sau này tại suối Thác

ạc - Vƣờn quốc gia

Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở đƣa ra các giải pháp nhằm bảo tồn,

còn đi sâu vào các cơ chế bên trong nhƣ: biến động quần thể côn trùng, các
mối quan hệ dinh dƣỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và

3


Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) (dẫn theo Merritt & Cummins (1996)
[16]) .
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố
hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nƣớc nhƣ: McCafferty,
1983; Kawai, 1985; John, Yang và Tian, 1994; Yoon, 1995; Merritt và
Cummins, 1996;… Các nghiên cứu này đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến
thức về côn trùng nƣớc bao gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng
dụng...
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhóm
Côn trùng ở nƣớc: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh
lông (Trichoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng
(Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy
(Lepidoptera).
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
ộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tƣơng đối nguyên thủy, thậm chí
còn đƣợc xem nhƣ một trong những tổ tiên của côn trùng. Dựa vào những
bằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ
Cacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh (cách đây khoảng 250 triệu năm).
Các loài thuộc bộ Phù du đƣợc mô tả từ rất sớm. Công trình nghiên cứu đầu
tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758).
Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm
là Ephemera (dẫn theo Nguyen V.V (2003) [21]).
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển
hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933),

1979; Kumar & Khanna, 1983). Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơi
nƣớc đứng cũng nhƣ nƣớc chảy với số lƣợng loài vô cùng phong phú [17].
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công
trình nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet
(1999), Silsby (2001) (dẫn theo Đặng Quốc Quân (2008) [3]). Các công trình
nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trƣởng thành. Đối với giai đoạn

5


thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo
hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á (dẫn theo Đỗ Mạnh Cƣờng (2004)
[1]).
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp đƣợc biết khoảng 2.000 loài và là một
trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh
hiện nay. Hóa thạch của chúng đƣợc tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có
những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần
ngực (Hynes, 1976) (dẫn theo Cao T.K.T (2002) [13]).
Để nhận dạng bộ Cánh úp, ngƣời ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có
3 đốt bàn nhƣng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy nhƣ
một số loài thuộc bộ Cánh thẳng (nhƣ dế và châu chấu). Chúng có ăng ten dài
dạng chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nƣớc. Hầu hết, cánh của
các loài thuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhƣng đôi khi lại ngắn. Các đặc điểm
đó dùng để phân biệt chúng với bộ Cánh màng. Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua
thời gian dài sống ở nƣớc. Các thiếu trùng Cánh úp giống con trƣởng thành ở
nhiều đặc điểm. Thiếu trùng luôn có tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở
giữa. Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phần ngực và phần bụng đƣợc tạo thành
giữa các tơ đuôi. Thiếu trùng sống chủ yếu ở nƣớc, có một vài loài sống trong
đất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) (dẫn theo Cao T.K.T (2002) [13]).

1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994),
Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong
(2003) (dẫn theo Hoang D.H. (2005) [15]). Ismail (1993, 1996, 1997) cũng
tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng Cánh lông tại một số nƣớc ở khu vực Đông
Nam Á (dẫn theo Morse,Yang & Tian (1994) [17]).
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nƣớc Đông Nam Á, khu hệ Cánh
lông cũng đƣợc quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác nhƣ: Ấn Độ,
Srilanka đƣợc nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc
(Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật ản (Iwata, 1927; Tanida, 1987). Trong
giai đoạn hiện nay, hƣớng nghiên cứu đánh giá chất lƣợng nƣớc dựa trên đối
tƣợng là các loài thuộc nhóm côn trùng này đƣợc nhiều nhà khoa học quan

7


tâm tìm hiểu. Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện
ngày càng đồ sộ nhƣ nghiên cứu của Wiggins (1996) (dẫn theo Cao T. K. T &
Bae (2007) [14]). Ở khu vực

ắc Mỹ, Merritt & Cummins (1996), đã xây

dựng khóa định loại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và
trƣởng thành [16].
* Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
ộ Cánh rộng đƣợc xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn
trùng biến thái hoàn toàn. Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài đƣợc
biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae. Giai đoạn
trƣởng thành ở cạn và ăn thịt, thƣờng hoạt động vào ban đêm. Tuy nhiên, giai
đoạn ấu trùng lại sống dƣới nƣớc và ăn thịt các loài động vật [17].
Số lƣợng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nƣớc ngọt

thuộc bộ Cánh cứng (dẫn theo Morse,Yang and Tian (1994) [17]).
* Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã đƣợc rất nhiều các nhà khoa học công
bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer
(1934), Zwich & Hortle (1989). Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy
(1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài
của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai. Khóa định loại tới họ và giống hiện
nay chủ yếu thực hiện theo khóa định loại đƣợc xây dựng bởi Harris (1990).
Trong những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến việc sử dụng ấu trùng bộ Hai cánh đặc biệt là họ Chironomidae nhƣ
là sinh vật chỉ thị chất lƣợng môi trƣờng nƣớc (dẫn theo Morse,Yang & Tian
(1994) [17]).
* Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định đƣợc trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh
nửa sống ở nƣớc (Dudgeon, 1999). Trong đó, khu vực châu Á có số lƣợng
loài chiếm ƣu thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những
phân họ đặc hữu ở khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994)
(dẫn theo Narumon & oonsatien (2004) [18]).
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á đƣợc bắt đầu khá
sớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury
(1972, 1973) (dẫn theo Morse,Yang & Tian (1994) [17]). Các họ trong bộ
này cũng đƣợc nghiên cứu khá tỷ mỷ nhƣ: Nepidae đƣợc nghiên cứu bởi

9


Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới châu Á đã đƣợc
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhƣ Nieser & Chen (1991, 1992), Sites và
cộng sự (1997) (dẫn theo Narumon &




(1922, 1925) đã công bố hai loài Ephemera longiventris và Ephemera innotata,
cũng dựa trên các mẫu vật thu đƣợc ở miền ắc Việt Nam. Cho đến nay, hai
loài này cũng chƣa tìm thấy ở các khu vực phân bố khác, nên có thể xem
chúng nhƣ là loài đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera ở Việt Nam.
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại các
nhóm động vật không xƣơng sống nƣớc ngọt thƣờng gặp ở Việt Nam đã đƣa
ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [4].
Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006,
2007, 2008) ở một số Vƣờn Quốc gia của Việt Nam. Những nghiên cứu này,
đã công bố hàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và
đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng nhƣ xây dựng
các khóa định loại tới loài [19] [20] [22] [23] [24] [25] [26].
Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định đƣợc 102 loài thuộc 50 giống và
14 họ Phù du ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa
định loại và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở
Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hƣớng nghiên cứu tiếp
theo về bộ Phù du ở nƣớc ta [20].
Những nghiên cứu gần đây về bộ Phù du chủ yếu tập trung nghiên cứu
đa dạng thành phần loài của bộ này ở các Vƣờn Quốc gia (VQG). Cụ thể
Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở VQG Tam Đảo đã xác
định đƣợc 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ. Trong đó, có 10 loài lần đầu tiên
ghi nhận cho khu hệ động vật Việt Nam cũng nhƣ VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc
[6].
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vƣờn Quốc gia
a Vì, Hà Tây đã thu đƣợc 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ. Trong đó có một
loài ghi nhận lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858)
[7].


Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng
nƣớc ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo đã xác định đƣợc 26 loài thuộc 12 họ của bộ
Chuồn chuồn ở khu vực này. Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại

12


thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít. Do đó, những mẫu vật thu đƣợc
mới chỉ phân loại đến bậc giống (dẫn theo Nguyễn Văn Hiếu [2]).
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã đƣợc quan tâm nghiên
cứu trong thời gian gần đây. Một vài loài đã đƣợc mô tả bởi Kawai (1968,
1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999) (dẫn theo Cao T.K.T (2002)
[13]), nhƣng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn trƣởng thành. Mục đích của
những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ
Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trƣớc đó và những điều tra về sau của cả
giai đoạn trƣởng thành và ấu trùng đƣợc thu thập ở Việt Nam. Thêm vào đó là
việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trƣởng
thành và ấu trùng ở Việt Nam cũng nhƣ sinh thái, nơi ở của chúng.
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng
nƣớc ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp.
Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc
3 họ [19].
Cao Thị Kim Thu (2002) đã công bố dẫn liệu mô tả 50 loài thuộc 22
giống, 4 họ ở Việt Nam dựa trên những đặc điểm của cả hai giai đoạn trƣởng
thành và ấu trùng. Tác giả đã xây dựng khóa định loại cho cả côn trùng
trƣởng thành và thiếu trùng Cánh úp ở Việt Nam đồng thời cung cấp những
miêu tả chi tiết về hình thái của thiếu trùng bộ Cánh úp. Công trình này là cơ
sở khoa học cho các nghiên cứu sau này về bộ Cánh úp ở nƣớc ta [13].
Cao Thị Kim Thu (2007) công bố hai loài mới thuộc họ Cánh úp lớn


Rhyacophiloidae. Banks (1931) và Mosely (1934) (dẫn theo Hoang D.H
(2005) [15])

nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và

Rhyacopphiloidae.

Oláh

(1987

-

1989)



tả

các

loài

thuộc

Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae (dẫn theo Hoang D.H
(2005) [15]).
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng
khóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thƣờng gặp ở nƣớc ta. Hoàng Đức

Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của
các loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam. Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên
cứu về bộ Cánh nửa ở nƣớc ta [27].

15


Chƣơng 2
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nƣớc tại suối Thác ạc độ cao
trên 600m thuộc Vƣờn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc thực hiện từ tháng 3/2016 đến tháng 5/2018. Mẫu vật
sử dụng trong nghiên cứu đƣợc thu từ ngày 12/11/2016 đến ngày 17/11/2016.
Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên đƣợc bảo quản và lƣu trữ tại phòng thí
nghiệm Động vật Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiện, Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Các điểm lấy mẫu điều tra (đƣợc đánh số thứ tự từ TĐ1 đến TĐ4) thuộc
khu vực suối Thác ạc, vƣờn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bảng 2.1. Một số điều kiện tự nhiên tại các điểm thu mẫu ở suối Thác Bạc
-Vƣờn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Ký hiệu Điểm thu mẫu

Độ cao(m)/

Khái quát điểu kiện tự nhiên



ẩm 70%, nhiệt độ dòng suối


19,30C, độ pH 7,09.
TĐ3

Điểm 3

863m

Nhiệt độ không khí xung quanh

N: 210 27,203'

điểm thu mẫu là 20,50C, độ ẩm

E: 1050 38,627'

76%, nhiệt độ dòng suối
18,40 C, độ pH 7,55.

TĐ4

Điểm 4

788m

Nhiệt độ không khí xung quanh





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status