Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) ở đai cao 600 900m của vườn quốc gia tam đảo tỉnh vĩnh phúc - Pdf 31

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Động vật đất có vai trò quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không
thể thay thế trong các quá trình sinh học xảy ra trong đất và trong sinh quyển
nói chung. Nhóm động vật đất tham gia vào mọi chu trình trong tự nhiên và
quyết định hoạt tính sinh học của môi trường nơi chúng sống. Chúng có mối
quan hệ mật thiết đến quá trình tạo đất và làm tăng độ phì của đất, cải tạo và
bảo vệ môi trường đất.
Trong cấu trúc hệ động vật đất, động vật Chân khớp bé
(Microarthropoda) với kích thước cơ thể nhỏ bé (từ 0,1-0,2mm đến 2,03,0mm) thường chiếm ưu thế về số lượng so với các nhóm khác, mật độ từ
hàng chục đến hàng trăm nghìn cá thể trên một mét vuông. Hai đại diện chính
của nhóm này là: Ve giáp (Acari) và Bọ nhảy (Collembola), ngoài ra, còn có
số lượng không đáng kể các nhóm Chân khớp bé khác như: rết tơ
(Myriapoda: Symphyla), côn trùng đuôi nguyên thủy, bọ hai đuôi và bọ ba
đuôi (Insecta: Protura, Diplura, Thysanura). Chúng tham gia tích cực vào quá
trình sinh học của đất, quá trình vận chuyển năng lượng và vật chất, quá trình
làm sạch đất khỏi các ô nhiễm chất thải (hữu cơ, vô cơ, chất phóng xạ) (Vũ
Quang Mạnh, 2003) [7].
Nhiều thực nghiệm đã chứng minh rằng Chân khớp bé trong đó có ve
giáp là những động vật rất nhạy cảm với sự thay đổi các yếu tố môi trường
như: nhiệt độ, pH, chất khoáng, hàm lượng mùn, và các sản phẩm hóa chất
trong nông nghiệp (Vương Thị Hòa và cộng sự, 2005) [3].
Trong hoạt động sống của mình, Ve giáp hoàn trả lại cho đất các
nguyên tố như Canxi, Cacbon…góp phần thay đổi hàm lượng mùn, góp phần
cải tạo đất. Do có kích thước nhỏ, số lượng lớn, vòng đời ngắn sống ở nhiều
loại hình sinh cảnh, độ thích nghi cao, phương pháp thu bắt dễ dàng nên Ve
1


giáp là đối tượng thích hợp phục vụ nghiên cứu về hình thái, sinh thái cá thể
và quần thể, là vật chỉ thị sinh học tốt trong việc đánh giá các yếu tố tác động


3


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
Vào những năm 40-50 của thế kỉ XX, bộ môn khoa học sinh học mới:
khoa học sinh thái đất được hình thành như một chuyên ngành khoa học
riêng. Sinh thái đất là bộ môn khoa học nghiên cứu các nhóm sinh vật đất
cùng với các hoạt động sống của chúng, liên quan chặt chẽ với môi trường
sống.
Chân khớp bé với 2 đại diện chủ yếu là: Ve giáp (Acari: Oribatida) và
Bọ nhảy (Collembola) được biết từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm, nhưng
các hoạt động nghiên cứu còn lẻ tẻ. Mấy chục năm gần đây, các hoạt động
nghiên cứu về Oribatida diễn ra mạnh mẽ và nhiều kết quả được công bố.
Ve giáp (Acari: Oribatida) được coi là cư dân truyền thống của đất và
thảm mục. Việc nghiên cứu mức độ phong phú của khu hệ Ve giáp sống tự do,
cư trú trên tán cây rừng nhiệt đới, ôn đới. Chúng được thu thập từ vỏ cây, rêu,
địa y biểu sinh, hay từ tán cây khi phun thuốc trừ sâu. Các kết quả nghiên cứu
này đã cho thấy 1 bức tranh đa dạng về nơi sống của ve giáp (Andre’ et
al.,1984) [19].
Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh vật chỉ
thị trong việc đánh giá chất lượng hệ sinh thái trên cạn ở chỗ: chúng có độ đa
dạng cao, thu lượm với số lượng lớn một cách dễ dàng, ở tất cả các mùa trong
năm, trong nhiều sinh cảnh; việc định loại cá thể trưởng thành tương đối dễ
dàng; hầu hết chúng sống trong tầng hữu cơ của lớp đất màu mỡ và chúng là
nhóm dinh dưỡng không đồng nhất. Chúng bao gồm các taxon được đặc trưng
bởi sự sinh sản nhanh, thời gian sinh sống của các con non và con trưởng
thành dài, khả năng tăng quần thể chậm... (Behan – Pelletire, 1999) [22].
Rusek, 1986 đã nghiên cứu quần xã Oribatida và phân bố trong các loại

còn chưa được nghiên cứu sâu và đồng bộ. Năm 1967, hai tác giả người
Hungari là Balogh J và Mahunka S lần đầu trên đã nghiên cứu và giới thiệu
5


khu hệ, danh pháp đặc điểm phân bố của 33 loài Oribatida trong công trình “
New Oribatids from Viet Nam”, trong đó mô tả 29 loài và 4 giống mới, tiếp
theo là công trình nghiên cứu của hai tác giả Tiệp Khắc, trước đây là A.
Rajski và R. Szudrwicz (Balogh J. et al.; Rajski A. et Szudrwicz R., 1974)
[20] [29].
Từ sau 1975, các tác giả trong nước bắt đầu có các nghiên cứu độc lập
về Oribatida. Đầu tiên là công trình nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh (1980)
về thành phần, phân bố và số lượng của các nhóm Chân khớp bé ở một số
kiểu hệ sinh thái đồng bằng sông Hồng và rừng nhiệt đới. Trong công trình
này, tác giả đã nghiên cứu về ảnh hưởng của một số nhân tố tự nhiên tới sự
phân bố và sự biến động số lượng của hai nhóm Acari và Collembola ở đất
(Vũ Quang Mạnh, 1980) [5].
Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva (1987) đã giới thiệu đặc điểm phân bố và
danh pháp phân loại học của 11 loài ve giáp mới cho khu hệ ve giáp của Việt
Nam và 1 loài mới cho khoa học (Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva, 1987) [13] .
Vũ Quang Mạnh, Cao Văn Thuật (1990)

xác định được 24 loài

Oribatida ở vùng đồi núi Đông Bắc Việt Nam khi tiến hành nghiên cứu cấu
trúc định lượng của nhóm chân khớp bé ở 7 kiểu sinh thái, ở 5 dải độ cao khí
hậu và 3 loại đất. Theo 2 tác giả này, trong nhóm chân khớp bé, Oribatida
luôn chiếm số lượng chủ yếu từ 70 – 80% tổng số lượng, còn nhóm
Collembola chỉ chiếm 10% (Vũ Quang Mạnh, Cao Văn Thuật, 1990) [14].
Vương Thị Hòa, Vũ Quang Mạnh (1995) đã giới thiệu danh sách 146

7


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhóm Ve giáp (Acari: Oribatida) thuộc lớp Hình nhện (Arachnida),
phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda)
ở bốn sinh cảnh thuộc đai cao 600-900m của vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh
Vĩnh Phúc.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 04 năm 2012 đến tháng 05 năm 2013.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Các mẫu Ve giáp được điều tra, thu thập tại đai cao 600 – 900m ở vườn
quốc gia Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Sử dụng phương pháp nghiên cứu chuẩn trong điều tra thực địa và
phòng thí nghiệm của Ghilarov (1975) [24]. Các mẫu thu ngoài thực địa bao
gồm:
Mẫu thảm rêu: mẫu định lượng 200 gram Rêu bám trên thân cây gỗ
rừng, xác vụn thực vật ở trên mặt đất nằm ở độ cao từ (0 - 100)cm trên mặt
đất.
Mẫu thảm lá rừng phủ trên mặt đất, gồm tất cả lá mục, cành cây, xác
hữu cơ phủ trên mặt đất có diện tích (20x20)cm, đem cân và ghi lại trọng
lượng.
Mẫu đất được lấy ở độ sâu (0 - 10)cm, và (11 - 20)cm. Kích thước của
mỗi mẫu thu là (5x5x10)cm.

8


2.4.3. Phân tích mẫu và xử lý số liệu.
- Phân tích mẫu
Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống
nghiệm lên tờ giấy lọc đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu.
Đến lúc đã lọc hết dung dịch trong giấy lọc thì đặt giấy lọc ra đĩa petri và tiến
hành phân tích dưới kính hiển vi. Khi soi mẫu dưới kính hiển vi, dùng kim
phân tích nhặt từng cá thể động vật để tập trung tại một góc của đĩa petri,
nhận dạng và ghi số lượng từng nhóm vào sổ bảo tàng.
Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng
loại phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J. và Balogh P., 1992.
Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c. Định loại tên loài theo
các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả: Ghilarov M., et al.,
1975; Norton R.A.,1986; Vũ Quang Mạnh, 2007 [21], [25], [27], [8].
Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều
được Tiến sĩ Đào Duy Trinh kiểm định lại, các mẫu được lưu trữ tại phòng thí
nghiệm Tổ Động vật của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu, trên
nền phần mềm Primer - E, 2001 [28]; phần mềm Excell 2003.
Công thức tính toán gồm:
+ Số lượng loài: được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên
cứu của tất cả các lần thu mẫu.
+ Mật độ trung bình: được tính bằng số lượng cá thể trung bình
(con/m2 đối với mẫu đất, thảm lá, con/kg đối với mẫu rêu) trong tất cả các lần
thu mẫu ở điểm nghiên cứu.

10



H’: là chỉ số đa dạng loài
S: số loài có trong sinh cảnh.

Giá trị J’ dao động trong khoảng 0 đến 1.
+ Độ ưu thế (D):

Trong đó:

na: số lượng cá thể của loài a
n : tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay địa
điểm

Theo Vũ Quang Mạnh, 2007 [7]: loài Oribatida ưu thế là những loài
có độ ưu thế đạt giá trị 5% trở lên.

11


2.5. Một vài nét khái quát về khu vực nghiên cứu

Biểu đồ 1. Bản đồ hành chính vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc
2.5.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Tam Đảo là tên gọi của 3 đỉnh núi cao: Thiên Thị (1375m); Thạch Bàn
(1388m); Phù Nghĩa (1375m). Dãy núi Tam Đảo kéo dài trên 80 km, với
khoảng 20 đỉnh núi cao, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc (1592 m). Vườn quốc
gia Tam Đảo nằm trong dãy núi Tam Đảo, chạy dài trên 80 km theo hướng
Tây Bắc – Đông Nam có toạ độ địa lý từ 21021’ - 21042’ vĩ độ Bắc, 105023’ 105044’ kinh độ Đông; trên địa giới hành chính 3 tỉnh: Vĩnh phúc, Thái
Nguyên và Tuyên Quang. Trung tâm vườn quốc gia Tam Đảo cách thủ đô Hà
Nội 75 km về phía Tây Bắc và cách thành phố Vĩnh Yên 13 km về phía Bắc.
Vườn quốc gia Tam Đảo được quy hoạch ban đầu có diện tích là 36

làm các thuỷ điện nhỏ.
2.5.3. Tài nguyên sinh vật
*Hệ thực vật : Theo kết quả điều tra từ 1997-2000, đã ghi nhận được
tại VQG Tam Đảo 1282 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 660 chi, 179 họ.
Trong số 1282 loài thực vật được phát hiện tại Tam Đảo có 66 loài cây quý
13


hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam: Trầm hương, Kim tuyến, Trầu tiên, Vù
hương, Đỗ trọng bắc, Sưa bắc bộ, Vàng tâm, Đinh hương, Kim giao vv... Đặc
biệt, trong số đó có 42 loài thực vật được coi là đặc hữu của Vườn quốc gia
Tam Đảo .
*Hệ động vật rừng : Theo kết quả điều tra, tính đến năm 2003, đã phát
hiện được tại Vườn quốc gia Tam đảo 70 loài thú, 248 loài chim, 132 loài bò
sát 62 loài ếch nhái và 651 loài côn trùng. Với số liệu trên, nếu đánh giá theo
chỉ số đa dạng sinh học thì khu hệ động vật Tam Đảo có mức độ đa dạng rất
cao về bộ, họ và đa dạng cao về thành phần loài so với toàn quốc.
2.5.4. Địa chất
Trong quá trình điều tra thực địa 4 loại đất chính ở Tam Đảo được phát
hiện là:
1. Đất Feralit mùn vàng nhạt: Loại đất này phát triển trên núi trung
bình, diện tích 8 968 ha, chiếm 17,1 % diện tích.
2. Đất Feralit mùn vàng đỏ: Loại đất này phân bố trên núi thấp, diện
tích 9 292 ha, chiếm 17,8 % diện tích.
3. Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau: Loại đất
này có diện tích 24641 ha, chiếm 47,0 % diện tích.
4. Đất phù sa và dốc tụ: Loại đất này có diện tích 9497 ha, chiếm
18,1%.
2.5.5. Điều kiện kinh tế - xã hội
Theo số liệu của vườn quốc gia (2001), vùng đệm của vườn quốc gia

Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
3.1.1 Danh sách loài
Danh sách loài Oribatida ghi nhận ở đai cao 600-900m ở vườn quốc gia
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc gồm 73 loài thuộc 53 giống, 36 họ(bảng 1). Trong
số 73 loài Oribatida ghi nhận được có 2 loài chưa định tên gồm: Cultroribula
sp.; Unguizetes sp.. Trên cơ sở phân tích so sánh các mẫu ve giáp ở khu vực
nghiên cứu với các mẫu vật lưu trữ tại phòng thí nghiệm cũng như các tài liệu
tham khảo của Vũ Quang Mạnh, chúng tôi tin rằng : trong 2 loài chưa được
định tên ở trên có thể là loài mới cho khoa học. Tuy nhiên, trong khuôn khổ
của một Luận văn cử nhân, do nhiều hạn chế về thời gian nên chúng tôi chưa
định rõ được tên của 2 loài này.
Bảng 3.1. Danh sách thành phần loài Oribatida theo các tầng phân bố ở
đai cao 600 – 900m củavườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
ĐAI CAO 600-900m
STT
I

Loài

A1

A2



rêu

x

x

Rhysotritia Maerkel et Meyer, 1959
4 Rhysotritia ardua C. L. Koch, 1841

x

5 Rhysotritia duplica Grandjean, 1953

x

6 Rhysotritia rasile, Mahunka, 1982
V

x

x
x

x

x

LOHMANNIIDAE BERLESE, 1916
Mixacarus Balogh, 1958
7 Mixacarus follifer Golosova, 1984

x

Papillacarus Kunst, 1959
8 Papilacarus aciculatus Berlese, 1905


13 Nothrus shapensis Krivolutsky, 1998

VIII

x

TRHYPOCHTHONIDAE WILLMANN, 1931
Archeozetes Grandjean, 1931
14 Archegozetes longisetosus Aoki, 1965

IX

x

x

x

NANHERMANNIIDAE SELLNICK, 1928
Nanhermannia Berlese, 1913
15 Nanhermannia thainensis Aoki, 1965

X

x

x

x



18 Liodes theleproctus Hermann, 1804
XII

x

x

CEPHEIDAE BERLESE, 1896
Sphodrocepheus Woolley et Higgins, 1963
19 Sphodrocepheus tuberculatus Mahunka, 1988

XIII

x

x

x

x

MICROTEGEIDAE BALOGH, 1972
Microtegeus Berlese, 1916
20 Microtegeus reticulatus Aoki, 1965

XIV

x


24 Cultroribula lata Aoki, 1961

x

x

x

x

25 Cultroribula lata sp.s

x

x

x

x

x

x

ASTEGISTIDAEBALOGH, 1961
Cultroribula Berlese, 1908

XVIII

PELOPPIIDAE BALOGH, 1943

NIPPOBODIDAE, 1959
Leobodes Aoki, 1965
31 Leobodes montsruosus Vu et Jeleva, 1987

XXI

x

TECTOCEPHEIDAE GRRANDJEAN, 1954
Tectocepheus Berlese, 1913
32 Tectocepheus cuspidentatus Knulle, 1954

XXII

x

OTOCEPHEIDAE BALOGH,1961
Acrotocepheus Berlese, 1905
33 Acrotocepheus duplicornutus Aoki, 1965

x

x

x

x

x


x

1967
Dolicheremaeus Jacot, 1938
35 Dolicheremaeus aoki Balogh et Mahunka, 1967
36 Dolicheremaeus inaequalis Balogh et Mahunka, 1967

x

37 Dolicheremaeus lineolatus Balogh et Mahunka, 1967

x

Fissicepheus Balogh et Mahunka, 1967
38 Fissicepheus elegans Balogh et Mahunka, 1967
XXIII

x

EREMELLIDAE BALOGH,1961
Eremella Berlese, 1913
39 Eremella vestita Berlese, 1913

XXIV

x

OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954
Pulchroppia Subias et Balogh, 1989



x

CYMBAEREMAEIDAE SELLNICK, 1928
Scapheremaeus Berlese, 1910
46 Scapheremaeus crassus Mahunka, 1988

XXVII

x

PARAKALUMIDAE GRANDJEAN, 1936
Neoribates Berlese, 1914

47 Neoribates aurantiacus Oudemans, 1913
XXVIII

x

MOCHLOZETIDAE GRANDJEAN, 1960
Unguizetes Sellnick, 1925

XIX

48 Unguizetes clavatus Aoki, 1967

x

x


x

x

52 Perxylobates vermiseta Balogh et Mahunka, 1968

x

x

x

53 Perxylobates vietnamensis Jeleva et Vu, 1987

x

x

Perxylobates Hammer, 1972

Xylobates Jacot, 1929
54 Xylobates capucinus Berlese, 1908

XXX

x

x

55 Xylobates lophotrichus Brerlese, 1904

58 Peloribates pseudoporosus Balogh et Mahunka, 1967

x

x

x

59 Peloribates gressitti Balogh et Mahunka, 1967

x
x

Rostrozetes Sellnick, 1925
60 Rostrozetes punctulifer Balogh et Mahunka, 1979

x

61 Rostrozetes trimorphus Balogh et Mahunka, 1979
XXXII

x
x

SCHELORIBATIDAE GRANDJEAN, 1953
Rhabdoribates Aoki, 1967

62 Rhabdoribates siamensis Aoki, 1967

x

x

x

x

ORIPODIDAE JACOT, 1925
Subpirnodus Mahunka, 1988

68 Subpirnodus mirabilis Mahunka, 1988

x

Cosmopirnodus Balogh, 1970
69 Cosmopirnodus tridactylus Mahunka, 1988
XXXIV

x

x

AUSTRACHIPTERIIDAE LUXTON, 1985
Lamellobates Hammer, 1958

70 Lamellobates ocularis Jeleva et Vu, 1987

x

Paralamellobates Bhaduri et Raychaudhuri, 1968
71 Paralamellobates schoutedeni Balogh, 1959


73

Tổng số loài

Ghi chú: A1: lớp đất mặt 0-10cm; A2: lớp đất ở độ sâu 11-20cm
So với khu hệ Vườn quốc gia Tam Đảo nghiên cứu bởi Vũ Quang Mạnh
năm 2004 (63 loài, 39 giống, 25 họ), khu hệ ve giáp ở đai cao 600-900m đã
bổ sung thêm 10 loài, 14 giống và 11 họ. Còn so với khu hệ vườn quốc gia
Xuân Sơn, Phú Thọ bởi Đào Duy Trinh, 2011 thì khu hệ ve giáp của vườn
quốc gia Tam Đảo đa dạng hơn về số họ và số giống (hơn 8 họ và 5 giống)
(Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm ,2004; Đào Duy Trinh, 2011) [12] [18].
Bảng 3.2: So sánh tính đa dạng các taxon họ, giống, loài của khu hệ ve
giáp ở đai cao 600-900 của vườn quốc gia Tam Đảo với các khu hệ ve giáp
khác được nghiên cứu trước đây
Đai cao 600-900
VQG Tam Đảo, Vĩnh
VQG Xuân Sơn,
Taxon
VQG Tam Đảo,
Phúc (2004)
Phú Thọ (2011)
Vĩnh Phúc
Loài

63

103

73

Papillacarus, Dolicheremaeus, Pulchroppia, Xylobates

có 3 loài/giống (

chiếm 9,43% tổng số giống), có 7 giống Phyllhermannia, Cultroribula,
Otocepheus, Unguizetes, Perxylobate, Peloribates Rostrozetes có 2 loài/giống
( chiếm 13,20% tổng số giống). Còn lại các giống chỉ có 1 loài/giống.
Như vậy, khu hệ ve giáp ở đai cao 600-900m của Vườn quốc gia Tam
Đảo có tính đa dạng cao tập trung ở 5 họ (Lohmanniidae, Oppiidae,
Otocepheidae, Scheloribatidae, Xylobatidae).
Bảng 3.3. Thành phần phân loại học Oribatida ở đai cao 600-900m ở Vườn
quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tỷ lệ % so với

Loài
Họ

Giống

tổng số

Đã xác

Chưa xác

Tổng

định

định


1,37

1,89

PHTHIRACARIDAE

1

1

0

1

1,37

1,89

EUPHTHIRACARIDAE

1

3

0

3

4,11


NOTHRIDAE

1

1

0

1

1,37

1,89

TRHYPOCHTHONIDAE

1

1

0

1

1,37

1,89

NANHERMANNIIDAE


1

0

1

1,37

1,89

CEPHEIDAE

1

1

0

1

1,37

1,89

MICROTEGEIDAE

1

1


1

1,37

1,89

23


ZETORCHESTIDAE

1

1

0

1

1,37

1,89

ASTEGISTIDAE

1

1


3

4,11

5,66

NIPPOBODIDAE

1

1

0

1

1,37

1,89

TECTOCEPHEIDAE

1

1

0

1


1,89

OPPIIDAE

3

5

0

5

6,85

5,66

LIMNOZETIDAE

1

1

0

1

1,37

1,89


1

1

1

2

2,74

1,89

XYLOBATIDAE

4

7

0

7

9,59

7,55

PROTORIBATIDAE

1


0

6

8,22

5,66

ORIPODIDAE

2

2

0

2

2,74

3,77

2

2

0

2


1,89

TỔNG

53

71

2

73

100

100

AUSTRACHIPTERIIDA
E

3.2. Đặc điểm phân bố của Oribatida ở đai cao 600-900m của vườn quốc
gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong 73 loài ghi nhận có 12 loài xuất hiện ở cả 4 tầng phân bố, gồm:
Phyllhermannia gladiata, Phyllhermannia similis, Zetochestes saltator,
Cultroribula lata, Cultroribula sp., Acrotocepheus triplicornutus, Eremella
vestita, Unguizetes clavatus, Unguizetes sp., Setoxylobates foveolatus,
Peloribates pseudoporosus, Scheloribates laevigatus.

24



3.3.1. Số loài
Kết quả ghi nhận được về số loài theo tầng phân bố trình bày ở bảng 3.4
cho thấy: số loài thu được là tương đương nhau ở cả 4 tầng phân bố (tương
ứng : 42 loài- tầng lá, 40 loài- tầng rêu, 36 loài- tầng A1, 33 loài- tầng A2).
Bảng 3.4. Một số chỉ số định lượng cấu trúc của Oribatida theo tầng phân
bố ở đai cao 600-900 ở VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc.

25


Trích đoạn ết quả nghiên cứu cho thấy tầng rêu có mật độ trung bình thu được thấp nhất (504 cá thể/kg), đến tầng lá (1207 cá thể/m2) và cao nhất ở tầng đất,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status