MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Động vật đất có vai trò quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không thể thay thế trong các
quá trình sinh học xảy ra trong đất và trong sinh quyển nói chung. Nhóm động yật đất tham gia vào
mọi chu trình trong tự nhiên và quyết định hoạt tính sinh học của môi trường noi chúng sống.
Chúng có mối quan hệ mật thiết đến quá trình tạo đất và làm tăng độ phì của đất, cải tạo và bảo vệ
môi trường đất.
Trong cấu trúc hệ động vật đất, động vật Chân khớp bé (Microarthropoda) với kích thước cơ
thể nhỏ bé (từ 0,l-0,2mm đến 2,0- 3,0mm) thường chiếm ưu thế về số lượng so vói các nhóm khác,
mật độ từ hàng chục đến hàng ttăm nghìn cá thể trên một mét vuông. Hai đại diện chính của nhóm
này là: Ve giáp (Acari) và Bọ nhảy (Collembola), ngoài ra, còn có số lượng không đáng kể các
nhóm Chân khớp bé khác như: rết tơ (Myriapoda: Symphyla), côn trùng đuôi nguyên thủy, bọ hai
đuôi và bọ ba đuôi (Insecta: Protura, Diplura, Thysanura). Chúng tham gia tích cực vào quá trình
sinh học của đất, quá trình vận chuyển năng lượng và vật chất, quá trình làm sạch đất khỏi các ô
nhiễm chất thải (hữu cơ, vô cơ, chất phóng xạ) (Vũ Quang Mạnh, 2003) [7].
Nhiều thực nghiệm đã chứng minh rằng Chân khớp bé trong đó có ve giáp là những động
vật rất nhạy cảm với sự thay đổi các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, chất khoáng, hàm lượng
mùn, và các sản phẩm hóa chất trong nông nghiệp (Vương Thị Hòa và cộng sự, 2005) [3].
Trong hoạt động sống của mình, Ve giáp hoàn ttả lại cho đất các nguyên tố như Canxi,
Cacbon .góp phần thay đổi hàm lượng mùn, góp phần cải tạo đất. Do có kích thước nhỏ, số lượng
lớn, vòng đòi ngắn sống ở nhiều loại hình sinh cảnh, độ thích nghi cao, phương pháp thu bắt dễ
dàng nên Ve giáp là đối tượng thích họp phục vụ nghiên cứu về hình thái, sinh thái cá thể và quần
thể, là vật chỉ thị sinh học tốt trong việc đánh giá các yếu tố tác động của môi trường.
Nghiên cứu nhóm động vật đất góp phần quan trọng tìm hiểu các đặc tính sinh học của đất
và đặc điểm đa dạng của giói sinh vật nói chung. Từ đó góp phần đưa ra các đề xuất cải tạo và tăng
độ phì cho đất hoặc giúp đánh giá sắp xếp các vùng địa lí tự nhiên, các vùng sinh thái, quy hoạch
phân bố các vùng sản xuất nông nghiệp.
Vườn quốc gia Tam Đảo là một trong những địa điểm có tính đa dạng sinh học cao. Tại đây,
hệ sinh thái rừng tự nhiên và thảm thực vật còn giữ được khá tốt. Đã có những nghiên cứu về hệ
động vật ở đây như: thú, chim, bò sát, lưỡng cư, nhưng riêng về khu hệ côn trùng và động yật
Chân khớp bé vẫn chưa được quan tâm.
quả nghiên cứu này đã cho thấy 1 bức tranh đa dạng về noi sống của ve giáp (Andre’ et al.,1984)
[19].
2
Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh yật chỉ thị trong việc đánh
giá chất lượng hệ sinh thái trên cạn ở chỗ: chúng có độ đa dạng cao, thu lượm vói số lượng lớn một
cách dễ dàng, ở tất cả các mùa ữong năm, trong nhiều sinh cảnh; việc định loại cá thể trưởng thành
tương đối dễ dàng; hầu hết chúng sống ttong tầng hữu cơ của lóp đất màu mỡ và chúng là nhóm
dinh dưỡng không đồng nhất. Chúng bao gồm các taxon được đặc trưng bởi sự sinh sản nhanh, thòi
gian sinh sống của các con non và con trưởng thành dài, khả năng tăng quàn thể chậm (Behan -
Pelletire, 1999) [22].
Rusek, 1986 đã nghiên cứu quần xã Oribatida và phân bố trong các loại đất khác nhau nhằm
đánh giá chất lượng đất thông qua các chỉ số của quần xã này (Ruseck, 1986) [30]. Các nghiên cứu
theo hướng đánh giá quần xã Oribatida như những sinh vật chỉ thị cho chất lượng đất được đề xuất
và nghiên cứu nhiều hơn (Van Straalen, 1998). Tuy nhiên, để đạt được điều này đòi hỏi phải có sự
hiểu biết về phân loại cũng như sinh thái của các loài trong quàn xã (Behan-Pelletier, 1999; Day,
1990) [22], [23].
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, cùng với kết quả nghiên cứu của
riêng mình, Schatz (2002) đã công bố và tổng hợp bản danh lục các loài Oribatida đã biết ở khu
vực Trung Châu Mỹ. Danh sách này gồm 543 loài Qribatida thuộc 87 họ. Ngoài ra, ông còn liệt kê
số lượng Oribatida đã thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác thuộc Trung Mỹ như: Cuba
(225 loài), Antilles (387 loài), Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21 loài)
(Schazt, 2002). Hiện tại 498 loài Oribatida đã được ghi nhận (gồm 300 loài đã xác định tên, 198
loài còn ở dạng sp.,). số lượng loài Oribatida của Trung Mĩ, bao gồm cả Mexico là 978 loài, nếu
cộng thêm cả Antilles nữa, con số này 1238 loài (Schazt, 2002) [31].
Năm 2004, Karasawa đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida ở đất treo và mối liên quan
giữa các nhân tố hữu sinh và vô sinh với sự đa dạng của chúng. Kết quả cho thấy, Oribatida là một
ữong những nhóm chiếm ưu thế về số lượng trong đất treo. Từ sinh cảnh này, thu được không ít
hơn 50 loài. Tuy nhiên, độ đa dạng loài Oribatida ở đất treo có thể thấp hơn so vói khu hệ Oribatida
ở đất rừng (Karasawa, 2004) [26].
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu ữên thế giới, được nghiên cứu
của nhóm Chân khớp bé (Vương Thị Hòa, 2005) [4].
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp trong cấu trúc của nhóm
Chân khớp bé (Microarthropoda) ở các đai cao địa lý của vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ. Kết
quả cho thấy ảnh hưởng của thòi tiết lên lên sự phân bố của nhóm Chân khớp bé theo tầng là rất cao
và phát hiện được 8 họ (Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006) [16].
Có thể nói, trong vòng chục năm trở lại đây, những đề tài nghiên cứu về động yật chân khớp
4
bé, trong đó có ve giáp đã bổ sung nhiều dẫn liệu mới không chỉ về khu hệ và đặc điểm phân bố
theo kiểu sinh cảnh, theo độ sâu của đất, theo đai cao khí hậu mà còn đi sâu nghiên cứu về mối
quan hệ hữu cơ giữa đối tượng này với các điều kiện ngoại cảnh, về vai ttò chỉ thị sinh học của ve
giáp cho sự suy giảm của lớp phủ thực vật, cho sự suy thoái và mức độ ô nhiễm đất bởi chất thải
công nghiệp, bởi việc sử dụng không hợp lý các hóa chất bảo yệ thực vật, thuốc trừ sâu trong sản
xuất nông nghiệp phục vụ cho công tác kiểm ữa, giám sát sinh học, sinh thái môi trường sống
(Nguyễn Thị Thu Anh, Nguyễn Trí Tiến, Phan Thị Thu Hiền, 2008; Thái Trần Bái, Nguyễn Văn
Khang, 1998) [1], [2].
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1. Đổi tượng nghiên cứu
Nhóm Ve giáp (Acari: Orỉbatỉda) thuộc lớp Hình nhện ịArachnỉda), phân ngành Chân khớp
có kìm (Chelỉcerata), ngành Chân khớp (Arthropoda) ở bốn sinh cảnh thuộc đai cao 600-900m của
vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2. Thòi gian nghiên cứu
Từ tháng 04 năm 2012 đến tháng 05 năm 2013.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Các mẫu Ve giáp được điều tra, thu thập tại đai cao 600 - 900m ở vườn quốc gia Tam Đảo
tỉnh Vĩnh Phúc.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thục địa
Sử dụng phương pháp nghiên cứu chuẩn trong điều tra thực địa và phòng thí nghiệm của
Ghilarov (1975) [24]. Các mẫu thu ngoài thực địa bao gồm:
Mau thảm rêu: mẫu định lượng 200 gram Rêu bám trên thân cây gỗ rừng, xác vụn thực vật
đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu. Đến lúc đã lọc hết dung dịch trong giấy lọc
thì đặt giấy lọc ra đĩa petri và tiến hành phân tích dưới kính hiển vi. Khi soi mẫu dưới kính hiển vi,
dùng kim phân tích nhặt từng cá thể động vật để tập trung tại một góc của đĩa petri, nhận dạng và
ghi số lượng từng nhóm vào sổ bảo tàng.
Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng loại phát sinh dựa theo
hệ thống phân loại của Balogh J. và Balogh p., 1992. Các loài trong một giống được sắp xếp theo
vần a, b, c. Định loại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả:
Ghilarov M., et al., 1975; Norton R.A.,1986; Vũ Quang Mạnh, 2007 [21], [25], [27], [8].
Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều được Tiến sĩ Đào Duy
6
Trinh kiểm định lại, các mẫu được lưu trữ tại phòng thí nghiệm Tổ Động vật của trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2.
- Xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu, trên nền phần mềm Primer -
E, 2001 [28]; phần mềm Excell 2003.
Công thức tính toán gồm:
+ Số lượng loài: được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên cứu của tất cả các
làn thu mẫu.
+ Mật độ trung bình: được tính bằng số lượng cá thể trung bình (con/m2 đối với mẫu đất,
thảm lá, con/kg đối với mẫu rêu) trong tất cả các lần thu mẫu ở điểm nghiên cứu.
+ Chỉ số đa dạng loài (H5)
//'= Ỷ^-xln Í Ỉ N
Trong đó: s: số lượng loài.
ni; số lượng cá thể của loài thứ i N: tổng số lượng cá thể trong sinh
cảnh nghiên cứu Chỉ số đa dạng loài (H’) được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số lượng
loài trong quàn xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài trong quần xã.
Giá tri H’ dao động trong khoảng 0 đến 00.
+ Chỉ số đồng đều Pielou (J’):
ln s
Trong đó: H’: là chỉ số đa dạng loài
khá nhiều từ 142 -190 ngày /năm.
Do ảnh hưởng của điều kiện địa hình, địa mạo nên nhiệt độ bình quân/ năm vùng núi thấp là
23,7°C; Tháng nóng nhất ở vùng thấp là 28 c ° (tháng 7); Tháng lạnh nhất (<15°C) là tháng 1. Vùng
đinh có nền nhiệt độ thấp hơn, bình quân là 18°c. Tháng nóng nhất là tháng 7 (23°C) và tháng lạnh
nhất là tháng 1 (10.8°C).
Độ ẩm bình quân ở vùng dưới thấp >80%, trên cao 87%. Mùa mưa nhất là khi có mưa dầm
độ ẩm lên tới trên 90%, nhưng đến mùa khô hanh độ ẩm chỉ còn 70-75%, các biệt có ngày độ ẩm
chỉ còn 50-60% (vùng núi cao).
Trong khu vực có 2 hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây và Sông Công ở phía
Đông. Đường phân thuỷ của 2 hệ thống sông chính là dông núi Tam Đảo chạy từ Đèo Khế (Sơn
Dương) đến Mỹ Khê (Bình Xuyên). Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống các sông
chính như chân rết khá dày và ngắn, có cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân núi, lưu lượng
nước lớn; khi xuống tới các chân núi suối thường chảy dọc theo các chân thung lũng dài và hẹp
trước khi đổ ra vùng đồi và vùng đồng bằng. Tất cả các sông suối ữong vùng không có khả năng
yận chuyển thuỷ, chỉ có thể làm các thuỷ điện nhỏ.
2.5.3. Tài nguyên sinh vật
*Hệ thực vật : Theo kết quả điều tra từ 1997-2000, đã ghi nhận được tại VQG Tam Đảo
1282 loài thực yật bậc cao có mạch, thuộc 660 chi, 179 họ. Trong số 1282 loài thực vật được phát
hiện tại Tam Đảo có 66 loài cây quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam: Trầm hương, Kim tuyến,
Trầu tiên, Vù hương, Đỗ trọng bắc, Sưa bắc bộ, Vàng tâm, Đinh hương, Kim giao vv Đặc biệt,
trong số đó có 42 loài thực vật được coi là đặc hữu của Vườn quốc gia Tam Đảo.
*Hệ động vật rừng : Theo kết quả điều tra, tính đến năm 2003, đã phát hiện được tại Vườn
quốc gia Tam đảo 70 loài thú, 248 loài chim, 132 loài bò sát 62 loài ếch nhái và 651 loài côn trùng.
Với số liệu trên, nếu đánh giá theo chỉ số đa dạng sinh học thì khu hệ động yật Tam Đảo có mức độ
đa dạng rất cao về bộ, họ và đa dạng cao về thành phần loài so vói toàn quốc.
2.5.4. Đm chất
9
Trong quá trình điều tra thực địa 4 loại đất chính ở Tam Đảo được phát hiện là:
1. Đất Feralit mùn vàng nhạt: Loại đất này phát triển trên núi trung bình, diện tích 8 968 ha, chiếm
17,1 % diện tích.
Danh sách loài Oribatida ghi nhận ở đai cao 600-900m ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh
Vĩnh Phúc gồm 73 loài thuộc 53 giống, 36 họ(bảng 1). Trong số 73 loài Oribatida ghi nhận được
có 2 loài chưa định tên gồm: Cultrorỉbula sp.; Unguizetes sp Trên cơ sở phân tích so sánh các
mẫu ve giáp ở khu vực nghiên cứu vói các mẫu yật lưu trữ tại phòng thí nghiệm cũng như các tài
liệu tham khảo của Vũ Quang Mạnh, chúng tôi tin rằng : trong 2 loài chưa được định tên ở trên
có thể là loài mới cho khoa học. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một Luận văn cử nhân, do nhiều
hạn chế về thòi gian nên chúng tôi chưa định rõ được tên của 2 loài này.
Bảng 3.1. Danh sách thành phần loài Oríbatida theo các tầng phân bố ở
1
đai cao 600 - 900m củavườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
STT Loài
ĐAI CAO 600-
900m
A
I
A
2
l
á
rê
u
I HYPOCHTHONIIDAE BERLESE, 1910
Eniochthonius Berlese, 1910
X
1 Eniochthonỉus minutissimus Berlese, 1904
II COSMOCHTHONIIDAE GRANDJEAN, 1974
Cosmochthonius Berlese, 1910
2 Cosmochthonius lanatus Michael, 1887
X
III PHTHIRACARIDAE PERTY, 1841
VII NOTHRIDAE BERLESE, 1896
Nothrus C. L. Koch, 1836
13 Nothrus shapensis Krivolutsky, 1998
X
VIII TRHYPOCHTHONIDAE WILLMANN, 1931
Archeozetes Grandjean, 1931
14 Archegozetes longisetosus Aoki, 1965
X X X
IX NANHERMANNIIDAE SELLNICK, 1928
Nanhermannia Berlese, 1913
15 Nanhermannia thainensis Aoki, 1965
X X X
X HERMANNIIDAE SELLNICK, 1928
Phyllhermannia Berlese, 1916
16 Pkyllhermannia gladiata Aoki, 1965
X X X X
17 Phyllhermannia similis Balogh et Mahunka, 1967
X X X X
XI LIODIDAE GRANDJEAN, 1954
Liodes von Heyden, 1826
18 Liodes theleproctus Hermann, 1804
X X
XII CEPHEIDAE BERLESE, 1896
Sphodrocepheus Woolley et Higgins, 1963
19 Sphodrocepheus tuberculatus Mahunka, 1988
X X
XIII MICROTEGEIDAE BALOGH, 1972
Microtegeus Berlese, 1916
20 Microtegeus reticulatus Aoki, 1965
X X X
29
Austrocarabodes szentivanyi Balogh et Mahunka,
1967
X
1
Gibbicepheus Balogh, 1958
30 Gibbicepheus baccanensis Jeleva et Yu, 1987
X
XX NIPPOBODIDAE, 1959
Leobodes Aoki, 1965
31 Leobodes montsruosus Vu et Jeleva, 1987
X
XXI TECTOCEPHEIDAE GRRANDJEAN, 1954
Tectocepheus Berlese, 1913
32 Tectocepheus cuspidentatus Knulle, 1954
X
XXII OTOCEPHEIDAE BALOGH,1961
Acrotocepheus Berlese, 1905
33 Acrotocepheus duplicomutus Aoki, 1965
X X
34
Acrotocepheus triplicomutus Balogh et Mahunka,
1967
X X X X
Dolicheremaeus Jacot, 1938
35 Dolicheremaeus aoki Balogh et Mahunka, 1967
X X X
36
Dolicheremaeus inaequalis Balogh et Mahunka,
X X X
XXVI CYMBAEREMAEIDAE SELLNICK, 1928
Scapheremaeus Berlese, 1910
46 Scapheremaeus crassus Mahunka, 1988
X
XXVII PARAKALUMIDAE GRANDJEAN, 1936
Neoribates Berlese, 1914
47 Neoribates aurantiacus Oudemans, 1913
X
XXVI
II
MOCHLOZETIDAE GRANDJEAN, 1960
Unguizetes Sellnick, 1925
48 Unguizetes clavatus Aoki, 1967
X X X X
49 Unguizetes sp.
X X X X
XIX
XYLOBATIDAE J.BALOGH ET
P.BALOGH,
1984
Brasilobates Perez-Inigo et Baggio, 1980
50 Brasilobates maximus Mahunka, 1988
X X
Setoxylobates Balogh et Mahunka, 1967
51 Setoxylobates foveolatus Balogh et Mahunka, 1967
X X X X
Perxylobates Hammer, 1972
52 Perxylobates vermiseta Balogh et Mahunka, 1968
X X X
XXXII S CHELORIBATIDAE GRANDJEAN, 1953
Rhabdoribates Aoki, 1967
62 Rhabdoribates siamensis Aoki, 1967
X
Euscheloribates Kunst, 1958
63 Euscheloribates samsinaki Kunst, 1958
X
Scheloribates Berlese, 1908
64 Scheloribates cruciseta Vu et Jeleva, 1987
X X
65 Scheloribates laevigatus C. L. Koch, 1836
X X X X
66 Scheloribates latipes C. L. Koch, 1841
X X
67 Scheloribates pallidulus C. L. Koch, 1840
X X X
XXXI
II
ORIPODIDAE JACOT, 1925
Subpimodus Mahunka, 1988
68 Subpimodus mirabilis Mahunka, 1988
X
Cosmopimodus Balogh, 1970
69 Cosmopimodus tridactylus Mahunka, 1988
X X
XXXI
V
AUSTRACHIPTERIIDAE LUXTON, 1985
Lamellobates Hammer, 1958
70 Lamellobates ocularis Jeleva et Vu, 1987
(Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm ,2004; Đào Duy Trinh, 2011) [12] [18].
Bảng 3.2: So sánh tính đa dạng các taxon họ, giống, loài của khu hệ ve giáp ở đai cao 600-900
của vườn quốc gia Tam Đảo với các khu hệ ve giáp
3.1.2. Thành phần phân loại học
Phân tích thành phần phân loại học quần xã Oribatida ở đai cao 600-
900m của vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc cho thấy : có 1 họ Xylobatidae có số loài nhiều
nhất (7 loài/họ tương ứng chiếm 9,59% tổng số loài). Tiếp đến là 2 họ Otocepheidae,
Scheloribatidae cùng có 6 loài/họ (chiếm 8,22% tổng số loài).
Có 2 họ Lohmanniidae, Oppiidae cùng có 5 loài, chiếm 6,85% tổng số loài. Các họ còn lại
có từ 2-4 loài, chiếm tương ứng từ 2,74% đến 5,48% tổng số loài. Có 22 họ chỉ có 1 giống 1 loài.
Giống Schelorỉbates thuộc họ Scheloribatidae có số loài nhiều nhất (4 loài/giống, chiếm
1,89% tổng số giống ), có 5 giống Rhysotrìtia, Papillacarus, Dolìcheremaeus, Pulchroppỉa,
Xylobates có 3 loài/giống ( chiếm 9,43% tổng số giống), có 7 giống Phyllhermannỉa, Cultrorỉbula,
Otocepheus, Unguizetes, Perxylobate, Pelorỉbates Rostrozetes có 2 loài/giống (chiếm 13,20% tổng
số giống). Còn lại các giống chỉ có 1 loài/giống.
Như vậy, khu hệ ve giáp ở đai cao 600-900m của Vườn quốc gia Tam Đảo có tính đa dạng
cao tập trung ở 5 họ (Lohmanniidae, Oppiidae, Otocepheidae, Scheloribatidae, Xylobatidae).
Bảng 3.3. Thành phần phân loại học Oribatida ở đai cao 600-900m ở Vườn
1
khác được nghiên cứu trước đây
Taxon
VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc
(2004)
VQG Xuân Sơn,
Phú Thọ (2011)
Đai cao 600-900
VQG Tam Đảo,
Vĩnh Phúc
Loài 63 103 73
Giông 39 48 53
1 1 0 1 1,37 1,89
HERMANNIIDAE 1 2 0 2 2,74 1,89
LIODIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
CEPHEIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
MICROTEGEIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
MICROZETIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
EREMOBELBIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
ZETORCHESTIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
ASTEGISTIDAE 1 1 1 2 2,74 1,89
PELOPPIIDAE 2 2 0 2 2,74 3,77
CARABODIDAE 3 3 0 3 4,11 5,66
NIPPOBODIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
TECTOCEPHEIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
OTOCEPHEIDAE 3 6 0 6 8,22 5,66
EREMELLIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
OPPIIDAE 3 5 0 5 6,85 5,66
LIMNOZETIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
CYMBAEREMAEIDA
E
1 1 0 1 1,37 1,89
PARAKALUMIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
MOCHLOZETIDAE 1 1 1 2 2,74 1,89
XYLOBATIDAE 4 7 0 7 9,59 7,55
PROTORIBATIDAE 1 1 0 1 1,37 1,89
HAPLOZETIDAE 2 4 0 4 5,48 3,77
SCHELORIBATIDAE 3 6 0 6 8,22 5,66
ORIPODIDAE 2 2 0 2 2,74 3,77
AUSTRACHIPTERIID
A
E
quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc
3.3.1. Số loài
Kết quả ghi nhận được về số loài theo tầng phân bố trình bày ở bảng 3.4 cho thấy: số loài
thu được là tương đương nhau ở cả 4 tầng phân bố (tương ứng : 42 loài- tàng lá, 40 loài- tàng rêu,
36 loài- tàng Al, 33 loài- tàng A2).
Bảng 3.4. Một số chỉ số định lượng cấu trúc của Oribatỉda theo tầng phân bố ở đai cao 600-900
1
ở VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
Ghi chú: H’ : chỉ số đa dạng J’ : chỉ số đồng đều MĐTB: Mật độ trung bình (đất, lá:
cá thể/m2; rêu: cá thể/kg)
3.3.2. Mật độ trung bình
Kết quả nghiên cứu cho thấy tầng rêu có mật độ trung bình thu được thấp nhất (504 cá
thể/kg), đến tàng lá (1207 cá thể/m2) và cao nhất ở tầng đất, trong đó: tàng A2 (4360 cá thể/m2),
tầng AI (4680 cá thể/m2) (bảng 3.4).
3.3.2. Chỉ số đa dạng loài H’
Chỉ số đa dạng loài H’ của Oribatida ghi nhận ở 4 tầng phân bố ở đai cao 600-900m đạt giá
trị cao, dao động tò H’=2,81 (tầng rêu) đến H’= 3,34 (tầng AI) (bảng 3.4)
3.3.3. Chỉ số đồng đểu J’
Kết quả nghiên cứu về giá trị của chỉ số đồng đều J’ trình bày ở bảng 3.4 cho thấy: chiều
hướng tăng giảm giá trị của chỉ số đồng đều J’ tương tự như chiều hướng tăng giảm giá trị của chỉ
số đa dạng H’ và đạt giá tn cao.
Như vậy, khu hệ ve giáp Oribatida ở đai cao 600-900m rất đa dạng, kết hợp với điều tra
ngoài thực tế cho thấy sinh cảnh rừng ở đai cao này hoàn toànchưa bị tác động, thảm thực vật ở đây
rất phong phú vềchủng loại. Đây
cũng là nguồn thức ăn cung cấp cho ve giáp sinh trưởng và phát triển.Chính vì vậy mà tất
cả giá trị định lượng của ve giáp được phân tích ở đai cao này ở các tầng phân bố đều rất cao.
3.4. Những loài Oribatida ưu thế trong 4 tầng phân bố của đai cao 600- 900m của vườn quốc
gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
Loài Oribatida ưu thế là những loài có độ ưu thế chiếm từ 5% tổng số cá thể chung của quần
xã trở lên (Ermilov S.G., Chistyakov M.P., 2007) [25]. Ở mỗi sinh cảnh, mỗi tầng phân bố ữong
Loài ưu thế Tầng phân bố
AI A2 Lá Rêu
1 Xylobates lophotrichus
13,7
6
16,
36
2 Enỉochthonius minutissimus
11,0
1
3 Perxylobates vietnamensis 6,42
4 Sphodrocepheus tuberculatus 6,42
5 Eremella vestỉta
10,
26
5,5
14,
68
6 Liodes theleproctus
13,
66
7 Cultrorỉbula lata
8,5
5
8 Peloribates pseudoporosus
5,9
8
9,3
2
13,0
l
l
Tầng rêu
1
2: Eniochthonius mỉnutissimus
Phân tích cấu trúc ưu thế của quần xã ve giáp ở đai cao 600-900m cho thấy:
Dù ở tầng phân bố nào thì sự phân bố về số lượng cá thể của các loài ưu thế là tương
đương, không có sự chênh lệch đáng kể. Kết hợp với phần phân tích sự thay đổi các
giá tri định lượng của ve giáp ở trên cho thấy quần xã ve giáp ở đai cao 600-900m rất
đa dạng.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
■
Từ kết quả nghiên cứu, tôi rút ra kết luận sau:
1. Danh sách loài Oribatida ghi nhận ở đai cao 600-900m ở vườn quốc gia Tam Đảo,
tỉnh Vĩnh Phúc gồm 73 loài thuộc 53 giống , 36 họ. Trong số 73 loài Oribatida ghi
nhận được có 2 loài chưa định tên gồm: Cultrorỉbula sp.; Unguizetes sp.
2. Khu hệ ve giáp ở đai cao 600-900m của Vườn quốc gia Tam đảo có tính đa dạng cao
tập trung ở 5 họ (Lohmanniidae, Oppiidae, Otocepheidae, Scheloribatidae,
Xylobatidae)
3. Số loài phân bố ở cả 4 tầng (Al, A2, lá, rêu) là tương đương nhau. Theo độ sâu tầng
đất, sự phân bố của Oribatida có xu hướng giảm từ tầng đất AI (36 loài) đến tầng A2
(33 loài).
4. Các giá trị định lượng của ve giáp ghi nhận khá cao, chứng tỏ quần xã ve giáp ở đai
cao 600-900m rất đa dạng
5. Có 15 loài Oribatida ưu thế ở đai cao 600-900m. Ở tầng phân bố nào thì sự phân bố
về số lượng cá thể của các loài ưu thế là tương đương, không có sự chênh lệch đáng
kể.
KIẾN NGHỊ
Do đề tài của chúng tôi được thực hiện trong thời gian ngắn, nên kết quả chưa
108,122-129
8. Vũ Quang Mạnh, Động vật chí Việt Nam Fauna of Vietnam bộ ve giáp
(Orỉbatỉda), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2007.
9. Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hòa, 1995. “Danh sách các loài Ve giáp đất (Acari:
Oribatei) ở Việt Nam”, Tạp chí sinh học, 17 (3), tr. 49 - 55 (CĐ).
10.Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hòa, 2002: Dữ liệu bổ sung về cấu trúc và vai trò
của quần xã quần ve giáp (Acari: Oribatida) vùng rừng Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
Proceeding of the 4th Viet Nam national confrence on Entomology, Nxb. Nông
Nghiệp, Hà Nội, tr. 314-318.
11.Vũ Quang Mạnh, Vũ Văn Hiển, Nguyễn Trọng Năm, 2003. cấu trúc quàn xã
Động vật chân khớp bé (Microathorpoda) ở đất rừng liên quan đến đai cao khí
hậu ở Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Tạp chí khoa học ĐHSP HN, 4,
tr.121-126.
12.Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm, 2004. cấu trúc quần xã Động vật chân khớp
bé (Microathorpoda) ở các đai cao khí hậu Vườn quốc gia Tam Đảo- Tạp chí NN
và PTNT, N3 (39): 405- 410.
13.Vũ Quang Mạnh, Jeleva M., 1987. “Ve giáp (Oribatida, Acari) ở miền Bắc Việt
Nam, Ve giáp thấp”, Tạp chí sinh học, ứ.46 - 48.
14.Vũ Quang Mạnh, Cao Văn Thuật, 1990. “Cấu trúc nhóm Chân khớp bé
(Microathropoda) ở đất vùng đồi núi đông bắc Việt Nam”, Thông báo khoa học,
ĐHSP HN, tr.14 - 20.
15.Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Trí Tiến, 2000. Microathorpoda comnucning shucture
(Oribatida and collembola) in Tam Đao national park, Viet NamJ.Biosciences, voi
25, n04, 370-386.
16.Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006. Nghiên cứu đặc điểm cẩu trúc của quần
xã Chân khớp bé ở các đai cao khí hậu khác nhau của
Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Sinh học, Hà Nội, trang
10-21.
17.Nguyễn Trí Tiến, 1995. Một sổ đặc điểm cẩu trúc quần xã Bọ nhảy ở các hệ
sinh thái Bắc Việt Nam, tr.1-182.