TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
• • • • KHOA SINH - KTNN
ĐỖ THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN
TRÙNG NƯỚC TAI ĐIA PHÂN
XÃ NGỌC THANH, THỊ XÃ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Động vật học
HÀ NỘI, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
• • • • KHOA SINH - KTNN
ĐỖ THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN
TRÙNG NƯỚC TẠI ĐỊA PHẬN
• • •
XÃ NGỌC THANH, THỊ XÃ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Động yật học
Người hướng dẫn khoa học
Th.s NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI, 2015
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Nguyễn Văn Hiếu
- Cán bộ giảng dạy tổ Động vật, khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2. Thầy là người đã định hướng và tận tình chỉ bảo , giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
của mình.
Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Côn trùng nước giữ vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái các
thủy vực cả nước đứng cũng như nước chảy. Mỗi một môi trường thủy vực,
nhóm sinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù họp. So với nhiều
nhóm sinh yật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng
loài, số lượng cá thể lớn đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu
trong chuỗi và lưới thức ăn. Các loài côn trùng nước là những sinh vật tiêu thụ
bậc 1, bậc 2 đồng thời lại là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật có xương
sống. Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người. Một
số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tác
nhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp Đáng chú ý trong nhóm
này là những loài giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học như các loài thuộc
giống Anopheles, Ảedes thuộc bộ Hai cánh (Diptera) Giai đoạn trưởng thành
của các loài côn trùng này là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da cho
ngưòi. Khác với nhóm côn trùng trên cạn, phàn lớn các loài thuộc côn trùng
nước tồn tại cả trong môi trường nước và trong môi trường cạn. Do yậy, chúng
là đối tượng lý tưởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh học
tiến hóa. Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu về nhóm côn trùng nước
là dùng đối tượng này để chỉ thị chất lượng môi trường do có nhiều loài rất
nhạy cảm vói sự biến đổi của môi trường nước. Trên thế giới đã có rất nhiều
thành tựu to lớn khi nghiên cứu trên đối tượng côn trùng nước, từ việc phân
loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến
hóa Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũng đã được
quan tâm nghiên cứu. Ở các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên
6
của Việt Nam có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn
trùng nước.
Xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nơi có hệ thống sông,
suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước, tuy nhiên việc nghiên
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố
hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P.,
1983; Kawai T., 1985; John C.M., Yang Lianfang và Tian Lixin, 1994; Yoon,
I.B., 1995; Merritt R. w. và Cummins K. w., 1996; Các nghiên cứu này đã
bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phân loại
học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc
nhóm Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata),
Cánh lông (Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh
cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy
(Lepidoptera).
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du (Ephemeroptera) được xếp vào nhóm côn trùng có cánh cổ
sinh, những bằng chứng về hóa thạch của chúng được tìm thấy đàu tiên thuộc
kỷ Cacbon và kỷ Pecmơ trong đại cổ sinh (cách đây khoảng 250 triệu năm).
Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm. Nhà tự nhiên học nổi tiếng
Lineaus (1758), đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào
một nhóm, ông đặt tên là Ephemera. Có thể xem đây là công trình đàu tiên đặt
nền móng cho các nghiên cứu về Phù du sau này [19].
8
Vào thế kỷ XIX, Eaton (1871, 1881, 1883-1888, 1892) [19], đã công bố
hàng loạt các công trình nghiên cứu về Phù du của mình, đặc biệt là công trình
“A monograph on the Ephemeridae” được công bố năm 1871. Công trình đã
cung cấp những kiến thức cơ bản về bộ Phù du. Nghiên cứu đã mô tả các đặc
điểm về mặt hình thái của giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, những kiến thức
này rất hữu ích cho việc xây dựng khóa định loại đến các họ và giống của bộ
Phù du.
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển
hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933),
Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự
du ở giai đoạn ấu trùng. Tiếp sau đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu về
Phù du ở Trung Quốc được thực hiện bỏi Wu (1986, 1987), You (1982, 1987),
Zhang (1995), Zhou (1995) [19].
Ulmer (1939), đã mô tả một số lượng lớn các loài Phù du ở đảo Sudan
(Indonesia), tài liệu này rất cần thiết cho việc nghiên cứu khu hệ Phù du ở
vùng Đông Nam Á. Tiếp sau đó, Gose (1985) tiến hành xây dựng khóa định
loại ấu trùng Phù du ở Nhật Bản. Trong những thập niên 90 của thế kỷ XX,
Bae và cộng sự (1994), Bae & Yoon (1997) đã hoàn thành danh lục Phù du ở
Hàn Quốc [19].
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở châu Á có khoảng 128 giống thuộc
18 họ của bộ Phù du (Hubbard, 1990; McCaffity, 1991; McCaffity & Wang,
1997, 2000; Dudgeon, 1999) [19]. Cho đến nay, những nghiên cứu liên quan
đến phân loại và hệ thống học Phù du khá tỉ mỉ, các nhà khoa học đã xây dựng
1
0
khoá phân loại chi tiết tới loài kể cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành. Hiện
nay, hướng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sinh thái, phục hồi và bảo tồn
các loài cũng như các nghiên cứu ứng dụng của Phù du vào thực tiễn.
Ngoài các công trình nghiên cứu về đặc điểm phân loại của Phù du,
nhiều nhà khoa học còn quan tâm nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau liên
quan đến nhóm côn trùng nước này như: Sinh thái học, Địa động vật. Điển
hình là Neddham và cộng sự (1935), đã công bố các số liệu về vòng đòi, quá
trình lột xác chuyển từ đời sống dưới nước lên cạn, tập tính dinh dưỡng, tập
tính sinh sản, biến động số lượng theo mùa của nhiều loài Phù du. Các kết
quả nghiên cứu về Địa động vật cho thấy các loài thuộc bộ Phù du ưa sống ở
những nơi nước chảy với hàm lượng oxy hòa tan ừong nước cao, cấu trúc nền
đáy của các thủy vực giữ vai trò quan trọng, quyết định đến thành phần loài
Phù du. Mặt khác, sự phân bố của Phù du còn phụ thuộc vào độ cao, độ che
phủ của rừng.
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù
thuộc khu vực Bắc Mỹ.
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp (Plecoptera) biết khoảng 2.000 loài
và là một trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm
có cánh hiện nay. Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi,
nó có những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở
phàn ngực (Hynes, 1976) [12].
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có
3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích họp theo kiểu nhảy như một
1
2
số loài thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu). Chúng có angten dài dạng
chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các ấu trùng ở nước. Hầu hết, cánh của các loài
thuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn. Các đặc điểm đó dùng
để phân biệt chúng với bộ Cánh màng. Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời gian
dài sống ở nước [12].
Các ấu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ở nhiều đặc điểm. Ấu
trùng luôn có tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa. Mang nếu có, chỉ
tìm thấy ở phần ngực và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi. Âu trùng
sống chủ yếu ở nước, có một vài loài sống trong đất ẩm (Harpers và Stewart,
1996) [12]. Nơi sống lý tưởng của chúng là những suối đá chảy thành dòng,
nhưng có một vài loài sống trong cát, các hồ ấm áp cũng là nơi cư trú của
chúng.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: đại diện của các họ được tìm thấy ở
những nơi cư trú khác nhau như Perlidae được tìm thấy ở dưới những tảng đá
lớn, Chloroperlidae lại được phát hiện ở nền đáy của suối có đá nhỏ, trong khi
đó Nemouridae và Pteronarcyidae lại được phát hiện ở nơi có nhiều lá rụng ở
nền đáy.
Khu hệ Cánh úp ở châu Á được nghiên cứu bởi những người châu Á và
châu Âu. Trong suốt những thập niên 30 của thế kỷ XX, Wu và Claassen
(Chen và cộng sự, 2005). Theo Bendell (1988), Damgaard & Andersen (1996)
các loài trong họ Gerridae được xem như những sinh vật chỉ thị cho chất lượng
môi trường nước [22].
Ở Đông Nam Á, nghiên cứu khu hệ bộ Cánh nửa đã được tiến hành
khoảng 50 năm trước. Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây các công trình của
1
4
Zettel & Chen ở Việt Nam (1996) và Thái Lan (1998) [22]. Các nghiên cứu tập
trang vào việc mô tả, xây dựng khóa định loại. Năm 2001, Cheng và cộng sự
nghiên cứu các loài thuộc họ Gerridae ở Singapore và bán đảo Malaysia. Chen
và đồng nghiệp (2005) nghiên cứu ở Malesia [22]. Vùng Malesia bao gồm:
bán đảo Malaysia, Indonesia, Philippines và NewGuinea Nghiên cứu về bộ
Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú. Cánh
lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú. Những nghiên cứu về
hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956,
1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997).[13]
Bộ cánh lông có nhiều công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam
Á,bên cạnh đó cũng được sự quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như:
Ấn Độ, Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc
(Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) [13].
Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa
trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa học
quan tâm tìm hiểu. Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất
hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) [13]. Ở khu vực Bắc
Mỹ, Merritt R. w. & Cummins K. w. (1996), đã xây dựng khóa định loại tới
giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành.
Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ lớn nhất trong giới Động vật. Hiện
nay, số loài thuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và
1
6
đoạn trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm. Tuy nhiên,
giai đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động yật [15].
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt
như: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ. Chúng
trải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình. Ấu
trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng. Các loài thuộc họ này lại
phân bố rất hẹp. Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn
Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [15]. Nghiên cứu
về bộ Cánh vảy (Lepỉdoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae
và Crambidae sống ở nước. Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu
là về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987),
Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995) [14]. Trong các nghiên cứu này, các
tác giả cũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tói loài.
1.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam đã được một số tác giả
đề cập đến, những nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực phân loại học đối với các
bộ phổ biến của côn trùng nước cũng như những nghiên cứu sử dụng côn trùng
nước làm sinh vật chỉ thị. Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu chính về côn
trùng nước ở Việt Nam cho đến giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Tác giả đàu tiên mô tả các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam là Lestage
(1921, 1924). Ông đã công bố 3 loài mới của bộ Phù du dựa vào mẫu yật được
lưu giữ ở bảo tàng Pari (mẫu thu được ở miền Bắc Việt Nam). Ngay sau đó,
Navás (1922) [19] mô tả 2 loài thuộc giống Ephemera.
1
7
Đặng Ngọc Thanh (1967), mô tả một loài mới thuộc họ Heptageniidae
nhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi
điều tra khu hệ động yật Đông Dương. Trong báo cáo này, ông công bố 139
loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae. Trong 139 loài, Martin
đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là Merogomphus [1].
Asahina - thuộc bảo tàng Tự nhiên Tokyo (Nhật Bản) là một trong
những người tiên phong nghiên cứu khu hệ Chuồn chuồn ở Việt Nam. Cho tới
thời điểm hiện tại, ông là người công bố nhiều công trình về khu hệ Chuồn
chuồn ở nước ta. Hầu hết các mẫu vật Chuồn chuồn ở Việt Nam mà Asahina
định loại đều có được từ các cộng sự và đồng nghiệp thu thập, những người đã
trực tiếp đến Việt Nam để khảo sát và điều tra. Asahina (1996) đã công bố 84
loài thuộc 12 họ Chuồn chuồn ở miền Nam Việt Nam. Trong tài liệu này, tác
giả đã công bố một loài mới: Chlogomphus vietnamensis Asahina, thuộc họ
Cordulegasteridae.
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại
các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã
xây dựng khóa định loại tói họ của bộ Chuồn chuồn.
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn
trùng nước ở Vườn quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ
của bộ Chuồn chuồn ở khu vực này. Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân
loại thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít. Do đó, những mẫu yật thu
được mới chỉ phân loại đến bậc giống.
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
1
9
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên
cứu ừong thơi gian gần đây. Một vài loài đã được mô tả bỏi Kawai (1968,
1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999)[12], nhưng tất cả các mẫu vật
đều ở giai đoạn trưởng thành. Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác
định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu
trước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001) định loại được 23 loài thuộc 16 họ của
bộ Cánh lông ở Vườn Quốc gia Tam Đảo khi nghiên cứu về nhóm côn trùng
nước tại khu yực này.
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng
khóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta. Hoàng Đức Huy
(2005) mô tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt
Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng.
Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh vảy
và bộ Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera),
Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng
(Megaloptera) còn tản mạn. Các nghiên cứu thường không tập trung vào một
bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn
trùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc
gia Tam Đảo; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008)
nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã, Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự
(2001) khi định loại các nhóm động yật không xương sống nước ngọt thường
gặp ở Việt Nam.
2
1
Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt
đầu vào những năm đầu của thế kỷ XX. Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae
(Hemiptera) được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903
thuộc Bắc Việt Nam. Tiếp theo, khu hệ Genidae ở Việt Nam tiếp tục được mô
tả bởi Andersen (1975, 1980, 1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus
(2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994); Polhemus &
Karunaratne (1993) [22].
Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của
các loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam. Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên
cứu về bộ Cánh nửa ở nước ta.
- Bắc và gió Đông - Nam.
Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,60C, nhiệt độ tối cao trung
bình là 31,50(tháng 6). Lượng mưa trung bình quân năm 1456,6mm, phân bố
không đều trong năm.
Gió mùa Đông Bắc là gió chính hoạt động từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau, gió mùa Đông Nam thường thổi từ tháng 4 đến tháng 10 mang theo hơi
nước, ẩm. Thời gian này cũng chính là mùa mưa nóng ảnh hưởng thuận lợi
cho cây trồng sinh trưởng phát triển.
1.3.1.4. Đất đai.
Nền địa chất bao gồm các đá mẹ phiến thạch, phấn sa, sa thạch có
những tảng thạch anh xen kẽ nhau tạo thành 1 lớp phủ phong hóa không đều.
Chủ yếu là đất feralit vàng đỏ hoặc đỏ vàng phát triển trên đá mẹ phiến thạch
sét, sa thạch. Tầng đất từ mỏng đến trung bình, ít nơi có tầng dày trên lm.
Thành phần cơ giói tò thịt nhẹ đến sét, đất bị xói mòn mạnh, thường có kết
von từ 20 - 70%.
2
3
1.3.2. Tình hình kinh tế xã hội
Năm 2014, sản xuất nông, lâm, thuỷ sản diễn ra trong điều kiện thời tiết
diễn biến phức tạp, mưa nhiều. Đặc biệt là ảnh hưởng từ 2 cơn bão số 5 và số
6 kéo dài ảnh hưởng đến sản lượng lúa, hoa màu và nuôi trồng thuỷ sản.
Nguồn vốn hạn hẹp nên gặp khó khăn duy ừì sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Sản xuất thuỷ sản đạt kết quả khá do việc áp dụng giống và kỹ thuật
mới vào sản xuất thâm canh. Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản là 113 ha, chủ
yếu là nuôi thả cá; Sản lượng cá thu hoạch ước đạt 210,3 tấn doanh thu là 6,7
tỷ đồng.
Thu từ kinh doanh dịch vụ, lao động việc làm ước đạt 20 tỷ đồng tăng
14,3% so với cùng kì
Tổng thu nhập từ sản xuất nông, lâm, thuỷ sản, kinh doanh dịch vụ lao
động việc làm đạt 121,927,000,000 đồng, bình quân đầu người đạt 10,160,000
NT6
1'NT1
( NT2 -
Hình 2.1. Sơ đồ các điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu Ghi chú: ^
điểm thu mẫu (Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Thanh, 2014)
2
5
\ < NT8 \
^ " J Tả" Ễv!r. \
} * Ì y * \
NT5 ,
L
l
': NT3
1
o.
„■ , NT4
:
I."
Ê ầ : é .
/
/
/
/
u .
í