TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
-- -- -- oOo-- -- --
TRẦN THỊ PHƢƠNG ANH
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC
CÔN TRÙNG NƢỚC TẠI XÃ NẬM
CANG, HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Văn Hiếu,
ngƣời thầy đã định hƣớng và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa
cùng các thầy, cô giáo Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trƣờng Đại học Sƣ Phạm
Hà Nội 2, những ngƣời đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình.
Cuối cùng, tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên
và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 12
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu ........................................................................... 12
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu ........................................................... 12
2.2.1 Thời gian: ....................................................................................... 12
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu ...................................................................... 12
2.3 Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 13
2.4 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu ......................................... 13
2.4.1 Vị trí địa lý ..................................................................................... 13
2.4.2 Địa hình .......................................................................................... 13
2.4.3 Địa chất và thổ nhưỡng.................................................................. 14
2.4.4 Khí hậu ........................................................................................... 14
2.4.5 Thủy văn ......................................................................................... 14
2.5 Phƣơng pháp nghiên cứu....................................................................... 15
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên....................................... 15
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ........................ 16
2.6 Một số chỉ số Đa dạng sinh học ............................................................ 16
2.7 Xử lý số liệu .......................................................................................... 18
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 19
3.1. Thành phần loài côn trùng nƣớc tại khu vực nghiên cứu .................... 19
3.1.1. Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) ................................... 26
3.1.2. Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) .................................... 27
3.1.3. Thành phần loài Cánh úp (Plecoptera) ........................................ 27
3.1.4. Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) ...................................... 28
3.1.5. Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) .................................... 28
3.1.6. Thành phần loài Cánh rộng (Megaloptera).................................. 28
3.1.7. Thành phần loài Hai cánh (Diptera) ............................................ 28
3.1.8. Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera).................................... 29
3.2. Tính tƣơng đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu .......... 29
vật này đều có những đặc tính thích nghi phù hợp. So với nhiều nhóm sinh vật khác,
côn trùng nƣớc có nhiều đặc tính nổi trội nhƣ số lƣợng loài, số lƣợng cá thể
lớn…đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lƣới thức ăn.
Các loài côn trùng nƣớc là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 đồng thời lại là
nguồn thức ăn của nhiều loài động vật có xƣơng sống. Nhiều loài côn trùng nƣớc có
quan hệ mật thiết đối với con ngƣời. Một số loài côn trùng nƣớc gây hại là tác
nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tác nhân phá hoại sản phẩm công nghiệp,
nông nghiệp… Giai đoạn trƣởng thành của các loài côn trùng này là những vector
truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da cho ngƣời. Khác với nhóm côn trùng trên cạn, các
loài thuộc côn trùng nƣớc tồn tại cả trong môi trƣờng nƣớc và trong môi trƣờng
cạn. Do vậy, chúng là đối tƣợng lý tƣởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái
học và sinh học tiến hóa. Trong giai đoạn hiện nay, hƣớng nghiên cứu về nhóm côn
trùng nƣớc là dùng đối tƣợng này để chỉ thị chất lƣợng môi trƣờng do có nhiều loài
rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trƣờng nƣớc. Trên thế giới đã có rất nhiều
thành tựu to lớn khi nghiên cứu trên đối tƣợng côn trùng nƣớc, từ việc phân loại cho
đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa… Ở Việt
Nam, trong những năm gần đây côn trùng nƣớc cũng đã đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Ở các Vƣờn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam có hệ thống
sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nƣớc. Xã Nậm Cang, huyện
Sa Pa, tỉnh Lào Cai nơi có hệ thống suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng
nƣớc, tuy nhiên việc nghiên cứu về nhóm sinh vật này vẫn chƣa đƣợc quan tâm, vì
vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng
nƣớc tại xã Nậm Cang, huyện Sa pa, tỉnh Lào Cai”.
2. Mục đích nghiên cứu
1
- Xác định thành phần loài của côn trùng nƣớc tại một số suối thuộc xã Nậm
Cang, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
học côn trùng nƣớc đã đƣợc công bố. Đặc biệt đã có nhiều nghiên cứu về các nhóm
côn trùng nƣớc gắn bó chặt chẽ với đời sống con ngƣời mà đa phần là tác nhân gây
bệnh hoặc tác nhân truyền bệnh cho ngƣời và động vật nhƣ: ruồi, muỗi,… Điển
hình là các nghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984;
Merritt và Newson, 1978, Wilhm, 1968, Tran, 2008 [32, 20, 35, 34].
Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nƣớc làm sinh vật chỉ thị chất lƣợng
nƣớc đã đƣợc bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trình nghiên
cứu của Kuehne (1962), Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris (1968) [35].
Đã từ lâu, các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn trùng nƣớc
trong các hệ sinh thái, do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nƣớc ngày càng đƣợc
mở rộng, các hƣớng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn
đi sâu vào các cơ chế bên trong nhƣ: biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ
dinh dƣỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984;
Cummins, 1996) [32, 20].
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàng
loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nƣớc nhƣ: McCafferty, 1983; Kawai,
3
1985; Morse et al, 1994; Yoon, 1995; Merritt và Cummins, 1996; … Các nghiên
cứu này đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nƣớc bao gồm cả
phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng...
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhóm
Côn trùng ở nƣớc: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông
(Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera),
Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera).
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tƣơng đối nguyên thủy, thậm chí còn
đƣợc xem nhƣ một trong những tổ tiên của côn trùng. Dựa vào những bằng chứng
ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao
Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983). Hai phân bộ còn lại
phân bố rộng cả ở nơi nƣớc đứng cũng nhƣ nƣớc chảy với số lƣợng loài vô cùng
phong phú [22].
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trình
nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet (1999), Silsby
(2001). Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trƣởng thành.
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Cho đến năm 2007 trên thế giới đã xác định đƣợc khoảng 3500 loài cánh úp
trong đó: khu vực Bắc Mỹ có khoảng 650 loài (Stark & Baumann, 2005), Khu vực
Trung Mỹ 95 loài, khu vực Nam Mỹ 378 loài (Heckman, 2003), khu vực Châu Âu
426 loài (Fochetti & Tierno de Figueroa, 2004), khu vực Châu Phi 126 loài; Châu Á
là khu vực có số lƣợng loài phong phú nhất với số loài đã xác định đƣợc lên tới 1527
loài trong đó: Cao ( 2002) [10] khu vực Đông Á và Nam Á có khoảng 784 loài,
Trung quốc đứng đầu với 350 loài (Yuzhou & Junhua, 2001), tiếp đó là Nhật Bản với
306 loài (Sivec & Yang 2001); Tây Á có 114 loài và Bắc Á với 279 loài. Khu vực
Australia có 191 loài (Michaelis & Yule, 1988) và New Zealand với 104 loài.
Morse (1994), Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins
(1996) khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây
dựng khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại
các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [20,21].
5
* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lƣợng loài phong phú. Những nghiên
cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông đƣợc thực hiện bởi Ross (1956,
1967) và sau đó tiếp tục đƣợc bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [23].
Bộ Cánh lông đƣợc nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911,
côn trùng nƣớc [17]. Theo các kết quả nghiên cứu nhóm sống dƣới nƣớc đƣợc xem
là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới. Hiện nay, các công trình nghiên cứu
về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa nhƣ: các
nghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969),
Nertrand (1973), Jach (1984). Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji
(1995, 1998, 2003) đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ
Cánh cứng ở châu Á.
Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã định loại
đƣợc 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510 loài và White
(1984) đã phân loại đƣợc 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ Cánh cứng.
* Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã đƣợc rất nhiều các nhà khoa học công bố,
đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich
& Hortle (1989). Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977)
đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn
Độ - Mã Lai. Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa
định loại đƣợc xây dựng bởi Harris (1990).
* Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu bộ Hemiptera ở nƣớc về
hình thái, sinh học, sinh thái, phân loại và chủng loại phát sinh nhƣ: Cheng và
Fernando (1969), Menke (1979), Andersen (1985), Schuh và Slater (1995),
Hilsenworf (1991).
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á đƣợc bắt đầu khá sớm
bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972,
1973) [19].
7
* Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
8
Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở Vƣờn quốc gia Tam
Đảo đã xác định đƣợc 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ. Trong đó, có 10 loài lần đầu
tiên ghi nhận cho Vƣờn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc [6].
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vƣờn Quốc gia Ba
Vì, Hà Tây đã thu đƣợc 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ. Trong đó có một loài mới
cho khoa học là Polyplocia orientalis [7].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2014) đã xác định đƣợc 49 loài thuộc 34
giống 12 họ của bộ Phù du tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Kết quả phân tích cho
thấy họ Baetidae có số lƣợng giống và loài cao nhất với 8 giống và 11 loài; họ
Heptageniidae có 8 giống và 10 loài; họ Ephemerellidae có 5 giống, 7 loài; họ
Leptophlebiidae với 4 giống, 9 loài; họ Potamanthidae có 2 giống, 2 loài; họ
Ephemeridae có 1 giống, 3 loài; họ Caenidae với 1 giống, 2 loài. Các họ
Teloganodidae,
Polymitarcyidae,
Neoephemeridae,
Isonychiidae
và
Austremerellidae mỗi họ chỉ có 1 giống, 1 loài. Bên cạnh nghiên cứu đa dạng về
loài, các tác giả còn nghiên cứu về phân bố của Phù du theo tính chất của dòng chảy
ở khu vực nghiên cứu [9].
Bên cạnh nghiên cứu về khu hệ, các nhà khoa học còn đi sâu nghiên cứu về
phân loại học của bộ Phù du. Đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây hàng loạt các loài
đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trƣởng
thành và ấu trùng ở Việt Nam cũng nhƣ sinh thái, nơi ở của chúng. Cao Thị Kim
Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam. Công trình là
cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nƣớc ta [8].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng
nƣớc ở Vƣờn quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp. Kết
quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vƣờn quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [23].
Cao Thị Kim Thu (2009) nghiên cứu thành phần loài họ Perlidae thuộc bộ
Cánh úp ở khu vực miền Trung Việt Nam đã xác định đƣợc 22 loài thuộc 10 giống,
trong đó có 4 loài mới cho khoa học là Neoperla tamdao, Tyloperla trui, Acroneuria
bachma, Chinoperla rhododendrona đã công bố từ năm 2007 và 4 loài lần đầu ghi
nhận cho khu hệ Việt Nam [10].
Nguyen et al (2012) nghiên cứu đa dạng của nhóm côn trùng nƣớc tại VQG
Ba Vì, Hà Nội đã ghi nhận đƣợc 13 loài thuộc bộ Cánh úp (chiếm 7,8% tổng số loài
thu đƣợc) [30].
10
Nhƣ vậy, các nghiên cứu về Cánh úp ở nƣớc ta chủ yếu tập trung vào các thủy
vực dạng suối ở các VQG và các Khu Bảo tồn thiên nhiên. Các nghiên cứu này chủ
yếu là các nghiên cứu đa dạng về loài và phân loại học. Các nghiên cứu về phân bố của
Cánh úp đã đƣợc quan tâm nhƣng còn ít và tản mạn, đặc biệt là các nghiên cứu phân bố
của các loài Cánh úp theo mùa và theo cấp độ suối vẫn chƣa đƣợc quan tâm nhiều.
* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông đƣợc nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu về
Cánh lông đã đƣợc xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nƣớc châu Âu
nhƣ: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913). Sau những nghiên cứu đầu
tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx tonkinensis,
ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam. Tiếp theo,
sử dụng trong nghiên cứu đƣợc thu ngoài thực địa từ ngày 06/01/2017 đến ngày
15/01/2017.
- Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên đƣợc bảo quản và lƣu trữ tại Phòng thí
nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội 2.
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu đƣợc tiến hành ở 3 điểm P1, P2, P3 khác nhau thuộc xã Nậm
Cang, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
Trƣớc khi tiến hành thu mẫu, tiến hành ghi lại một số đặc điểm, sinh cảnh
chính của các điểm nghiên cứu.
Điểm 1 (kí hiệu P1) độ cao 870m.
Tọa độ N: 22012,430’ E: 104002,439’
Điểm thu mẫu 1 bên là đƣờng mòn, 1 bên là đƣờng rẫy. Phía dƣới điểm thu
là trạm nuôi cá hồi. Nền đáy hỗn hợp, chủ yếu là đá tảng lớn, đá trung bình và sỏi
nhỏ không có nhiều. Độ che phủ từ 0-20%. Có các dạng sinh cảnh nhƣ nƣớc chảy,
nƣớc đứng. Trời nắng, quang mây và lặng gió.
Điểm 2 (kí hiệu P2) độ cao 712m.
Tọa độ N: 22013,039’ E: 104001,819’
Hai bên bờ là ruộng bậc thang. Xung quanh có nhiều cây bụi, ít cây gỗ nhỏ.
Độ che phủ từ 0-5%, suối tạo nhiều chỗ nƣớc sâu hơn 1m. Nền đáy chủ yếu là đá
tảng lớn rất ít cát, bùn, lá thực vật. Trời nắng, ít mây.
12
Điểm 3 (kí hiệu P3) độ cao 580m.
Tọa độ N: 22013,085’ E: 103001,659’
Trời nắng, ít mây. Hai bên bờ có nhiều cây gỗ, dây leo và cây bụi. Suối dốc,
lòng suối sâu, đá tảng lớn chiếm ƣu thế, tạo nhiều vùng nƣớc sâu hơn 1m. Độ che
phủ từ 0-5%. Có các dạng sinh cảnh nhƣ nƣớc đứng, nƣớc chảy đƣợc xác định theo
amphibolit, filit, đá vôi, trong đó đá granit là phổ biến nhất (Vũ Tự Lập, 1999). Địa
chất và địa hình, kết hợp với khí hậu làm nên thổ nhƣỡng, quy luật phân bố các
loại đất đai ở VQG Hoàng Liên theo đai độ cao đƣợc thể hiện khá rõ. Nhìn chung,
các loại đất ở đây có hàm lƣợng mùn cao, phần lớn là dạng viên nhỏ, quá trình xói
mòn và rửa trôi yếu, độ tơi xốp cao, độ ẩm lớn, độ dầy tầng đất phổ biến là ở mức
trung bình (từ 50-120 cm), thành phần cơ giới thịt nhẹ, thịt trung bình, thịt nặng. Tính
chất đất rừng còn thể hiện rõ, thuận lợi cho việc trồng rừng và phục hổi rừng. Trên
địa hình dốc đất dễ bị rửa trôi và bào mòn, kết hợp với quá trình hoạt động địa chất
lâu dài, những hoạt động 10 xâm thực, phong hóa, bồi tụ đã hình thành nên các thung
lũng phủ đầy phù sa màu mỡ nằm rải rác trong VQG Hoàng Liên.
2.4.4 Khí hậu
Do ở phía Đông của dãy Hoàng Liên, có địa hình phức tạp nên khí hậu ở
Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên cũng bị phân hóa mạnh mẽ theo độ cao và hƣớng địa
hình. Một đặc trƣng của khí hậu Hoàng Liên là hầu nhƣ quanh năm duy trì tình
trạng ẩm ƣớt. Độ ẩm tƣơng đối trung bình năm khoảng trên 85%, tháng mƣa ít nhất
trung bình cũng đạt 20 - 30 mm. Đặc biệt hiện tƣợng mƣa phùn cuối mùa đông diễn
ra mạnh mẽ vì các thung lũng mở rộng về phía đồng bằng đã tạo điều kiện tích tụ
các luồng gió nồm ấm thổi từ biển tới.
Ngoài những yếu tố thời tiết chung, Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên còn có
những hiện tƣợng thời tiết đặc biệt nhƣ: sƣơng mù, băng giá, sƣơng muối, mƣa đá.
2.4.5 Thủy văn
Do đặc điểm địa hình của khu vực, Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên đƣợc tạo thành
từ hai sƣờn chính: sƣờn Đông Bắc dốc thoải về phía sông Hồng và sƣờn Tây Nam dốc
thoải về phía sông Đà, vì vậy trong khu vực cũng tạo nên hai hệ suối chính:
- Hệ thống suối thuộc khu vực Đông Bắc gồm 3 suối chính: Mƣờng Hoa Hồ
bắt nguồn từ Phansipan, Séo Trung Hồ bắt nguồn từ Tả Van, Tả Trung Hó bắt
nguồn từ Bản Hồ. Ba suối này gặp nhau tại khu vực Bản Dền tạo thành ngòi Bốt đổ
14
,
kích thƣớc mắt lƣới 250m) lấy 5 mẫu. Mẫu sau khi thu đƣợc loại bỏ rác, làm sạch
bùn đất. Do các cá thể côn trùng nƣớc có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ
nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại thực địa.
15
- Phƣơng pháp xử lí mẫu
Mẫu sau khi thu đƣợc loại bỏ rác, làm sạch bùn đất. Nhặt qua mẫu ngay tại
thực địa. Sử dụng panh, thìa và khay nhôm để nhặt vật mẫu. Mẫu thu ngoài thực địa
đƣợc bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ và đem về lƣu trữ, bảo quản, phân
tích và định loại tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh – Kĩ Thuật Nông
Nghiệp, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Phƣơng pháp nhặt mẫu: mẫu đƣợc rửa sạch cho ra khay. Dùng panh nhặt các
đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nƣớc ở trong đó, mẫu sau khi nhặt
cho vào lọ và bảo quản trong cồn 800.
- Phƣơng pháp phân tích
+ Dụng cụ phân tích gồm: kính soi nổi, đĩa petri, kim nhọn, panh.
+ Phân loại mẫu vật: mẫu vật đƣợc phân loại theo các khóa định loại đƣợc công
bố trong và ngoài nƣớc của Nguyễn Văn Vịnh (2004) [25], Nguyễn Xuân Quýnh và
cộng sự (2001) [5], Meritt và Cummins (1996) [20], Morse et al (1994) [21].
2.6 Một số chỉ số Đa dạng sinh học
- Các chỉ số Đa dạng sinh học (ĐDSH) đƣợc sử dụng trong nghiên cứu gồm:
chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’), chỉ số Margalef (chỉ số d), Chỉ số tƣơng đồng
(chỉ số Jacca - Sorensen), Chỉ số loài ƣu thế.
Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lƣợng thông tin hay
tổng lƣợng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống. Chỉ số Shannon – Weiner
- Nếu chỉ số đa dạng < 1: ĐDSH kém và rất kém
Chỉ số Margalef (chỉ số d) là chỉ số đƣợc sử dụng rộng rãi để xác định tính
đa dạng hay độ phong phú về loài, chỉ số Margalef đƣợc xác định khi biết số loài và
số lƣợng cá thể trong mẫu đại diện của quần xã. Chỉ số Margalef đƣợc tính bằng
cách lấy số loài của đợt thu mẫu trừ đi 1 rồi chia cho logarit cơ số 10 của tổng số cá
thể thu đƣợc. Công thức:
S 1
log N
d
Trong đó:
d: chỉ số đa dạng Margalef
S: số loài trong mẫu
N: tổng số cá thể
Ngoài ƣu điểm là dễ sử dụng để xác định tính đa dạng cho các nhóm sinh vật
khác nhau của quần xã, chỉ số Margalef (chỉ số số d) còn đƣợc áp dụng để phân loại
mức độ ô nhiễm của các thủy vực.
Chỉ số tƣơng đồng (chỉ số Jacca - Sorensen) đƣợc chúng tôi sử dụng để
đánh giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu. Chỉ số
này đƣợc tính theo công thức:
K
2c
ab
17
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài côn trùng nƣớc tại khu vực nghiên cứu
Kết quả phân tích mẫu vật thu đƣợc ở 3 điểm nghiên cứu khác nhau tại
xã Nậm Cang, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã xác định đƣợc 107 loài thuộc 84 giống,
41 họ của 8 bộ côn trùng nƣớc. Số lƣợng loài, giống và họ cụ thể của từng bộ đƣợc
trình bày trong bảng 3.1.
Bảng 3.1. Số lƣợng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nƣớc
tại khu vực nghiên cứu
Họ
STT
1
2
Bộ
Phù du
Chuồn
chuồn
Giống
Loài
Số
Tỷ lệ
12,2
6
7,1
6
5,6
Tỷ lệ %
3
Cánh úp
2
4,9
7
8,3
7
6,5
4
6
Cánh rộng
1
2,4
1
1,2
1
0,9
7
Hai cánh
8
19,5
11
13,1
11
Tổng
19