Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) ở đai cao 100 600m của vườn quốc gia tam đảo tỉnh vĩnh phúc - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp đại học

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn, em đã nhận được nhiều sự giúp
đỡ quý báu của các đơn vị và cá nhân. Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành tới:
Các thầy cô trong khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã nhiệt tình giảng dạy.
Sự hỗ trợ khoa học và tạo điều kiện làm việc của các cán bộ của bộ
môn Động vật học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN.
Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, tập thể cán bộ
phòng Sinh thái môi trường đất đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em
được học tập và hoàn thành luận văn của mình.
Sự giúp đỡ tận tình của các anh học viên Cao học K15, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2: Tạ Mạnh Cường, Hà Trọng Hiến, Vũ Xuân Trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Thu
Anh và TS. Đào Duy Trinh - những người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ
bảo trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Vĩnh Phúc, ngày 19 tháng 05 năm 2013
Sinh viên

Hoàng Thị Hiền

Hoàng Thị Hiền

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................. 9
2.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 9
2.2. Địa điểm nghiên cứu .................................................................................. 9
2.3. Thời gian nghiên cứu ................................................................................. 9
2.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 9
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa ...................................... 9
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ..................... 10
2.4.3. Phân tích mẫu và xử lý số liệu .................................................... 10
2.5. Một vài nét khái quát về khu vực nghiên cứu .......................................... 12
2.5.1. Vị trí địa lý, địa hình, ranh giới .................................................. 12
2.5.2. Khí hậu, thủy văn ........................................................................ 14
2.5.3. Thổ nhưỡng ................................................................................ 15
2.5.4. Tài nguyên sinh vật ..................................................................... 16
2.5.5. Điều kiện kinh tế - xã hội ........................................................... 16

Hoàng Thị Hiền

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN ................................................. 19
3.1 Đa dạng thành phần loài và phân bố của Oribatida ở đai cao
100-600m tại VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ............................................ 19
3.1.1. Danh sách loài Oribatida ............................................................... 19
3.1.2. Thành phần phân loại học quần xã Oribatida theo bốn tầng
phân bố ở đai cao 100-600m, Vườn quốc gia Tam Đảo …………...... .......... 24
3.1.3. Đặc điểm phân bố của Oribatida theo bốn tầng phân bố ở đai
cao 100-600m, Vườn quốc gia Tam Đảo ........................................................ 27

Hình 2.1. Bản đồ khu vực nghiên cứu ............................................................ 18

Hoàng Thị Hiền

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Động vật đất có vai trò vô cùng quan trọng trong tự nhiên, là thành
phần không thể thay thế trong các quá trình sinh học trong đất và sinh quyển.
Chúng có khối lượng lớn, chiếm hơn 90% tổng sinh lượng hệ động vật ở cạn
và hơn 50% tổng số loài động vật sống trên Trái Đất (Vũ Quang Mạnh, 2003)
[6].
Ngay từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, các nhà động vật học, thổ
nhưỡng học, sinh thái học đã đặc biệt quan tâm đến các hoạt động tạo đất của
các nhóm sinh vật sống trong môi trường này. Tuy nhiên, chỉ đến những năm
40-50 của thế kỉ XX, nghiên cứu các nhóm sinh vật đất cùng các hoạt động
sống của chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường đất mới thực sự
trở thành bộ môn khoa học riêng biệt, đó là khoa học sinh thái đất. Ngày nay,
số lượng nghiên cứu của các công trình này ngày càng đa dạng, ngay trong
phòng thí nghiệm và ứng dụng thực tiễn (Vũ Quang Mạnh, 2003) [7].
Trong hệ thống động vật đất, nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda),
với kích thước cơ thể khoảng 0,1-0,2 mm đến 2,0-3,0 mm thường chiếm ưu
thế về số lượng. Hai đại diện chính của nhóm này là Ve giáp (Acari) và Bọ
nhảy (Collembola). Ngoài ra còn có các đại diện thuộc các nhóm động vật
không xương sống khác như: Hai đuôi (Diplura), Ba đuôi (Thysanura)...
Ve giáp (Acari: Oribatida, còn gọi là Oribatei hoặc Cryptostigmata) là

bốn tầng phân bố ở đai cao 100-600m của Vườn quốc gia Tam Đảo.
3. Nội dung nghiên cứu
Lập danh sách thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở đai cao
100-600m tại Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Phân tích đặc điểm phân bố của Ve giáp theo tầng phân bố ở đai cao
100-600m tại Vườn quốc gia Tam Đảo.
Phân tích một số chỉ số định lượng của Ve giáp ở đai cao 100-600m
Vườn quốc gia Tam Đảo.
Các loài Ve giáp ưu thế ở đai cao 100-600m Vườn quốc gia Tam Đảo.

Hoàng Thị Hiền

2

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Lần đầu tiên đề tài đã cập nhật những dẫn liệu mới về khu hệ, đặc điểm
phân bố và sự biến động thành phần loài của quần xã Oribatida ở đai cao 100
- 600m của Vườn quốc gia Tam Đảo.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tham khảo có giá trị, bổ
sung thêm những dẫn liệu mới cho soạn thảo nội dung giáo trình giảng dạy
thuộc chuyên ngành Sinh thái đất.

Hoàng Thị Hiền

3


tả 120 loài Oribatida. Tuy nhiên, tất cả các loài do Berlese mô tả đều viết
bằng tiếng la tinh, rất ngắn gọn, chỉ gồm một vài nét gạch đầu dòng vì thế sau

Hoàng Thị Hiền

4

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học
này, các loài do Berlese mô tả đã được Hammen (2009) tu chỉnh, sắp xếp lại
dựa trên hệ thống phân loại của Grandjean (1954).
Cùng với kết quả nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh chủng loại, khu
hệ, hệ thống học Oribatida, các nghiên cứu về sinh học Oribatida cũng thu
được nhiều kết quả có giá trị, trong đó việc nghiên cứu sự phát triển, sinh
trưởng trong mối quan hệ với các yếu tố tác động lên chúng là một hướng
quan trọng được nhiều tác giả chú ý. Bản chất và thời gian phát triển, sinh
trưởng của nhóm động vật này còn chưa được điều tra một cách cẩn thận và
đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiểu rằng các nhân tố môi trường
(như nhiệt độ, độ pH, hàm lượng mùn, số lượng và chất lượng thức ăn...) và
mật độ các nhóm Chân khớp khác có thể ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng
của hầu hết Oribatida (Ermilov và Lochynska, 2008) [22].
Ngoài ra, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học
của Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất ở mức độ loài hay
quần xã, chỉ thị cho thuốc trừ sâu, phân bón... sử dụng trong sản xuất nông
nghiệp, chỉ thị cho môi trường đô thị (Vũ Quang Mạnh, 2003; Đào Duy
Trinh, Vũ Quang Mạnh, 2007; Ghilarov M.S and Krivolutsky D.A., 1975;
Stark J.D., 1992) [7] [13] [24] [30].
Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh vật chỉ

Sau năm 1975, Oribatida Việt Nam mới được các tác giả trong và ngoài
nước nghiên cứu chuyên sâu. Ban đầu có những công trình nghiên cứu của
các tác giả nước ngoài như Mahunka (1987), Behan-Pelletier (1999)...Tiếp
theo còn có một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cộng tác
với Việt Nam như công trình của Vũ Quang Mạnh, Jeleva M., Tsonev I.
(1987) nghiên cứu về Oribatida ở miền Bắc Việt Nam (Behan - Pelletier
V.M., 1999; Mahunka S., 1987) [19] [26].
Đến năm 1977, các tác giả trong nước bước đầu đã tiến hành các
nghiên cứu độc lập về Oribatida. Đầu tiên, phải kể đến công trình nghiên cứu
của tác giả Vũ Quang Mạnh về nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất
Cà Mau (Minh Hải) và Từ Liêm (Hà Nội) năm 1980, 1984 (Vũ Quang Mạnh,
1984) [3].

Hoàng Thị Hiền

6

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm 1990, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết các công trình nghiên cứu
Chân khớp bé ở Việt Nam cho đến thời điểm đó. Tác giả đã rút ra kết luận về
thành phần, đặc điểm phân bố và số lượng Chân khớp bé, nêu lên một số quy
luật sinh thái quyết định sự hình thành cấu trúc quần xã Oribatida ở đất. Tác
giả đã đưa ra 117 loài Oribatida đã biết ở Việt Nam cho đến thời điểm đó,
cùng với sự phân bố của chúng theo vùng địa lý, loại đất và hệ sinh thái (Vũ
Quang Mạnh, 1990) [4].
Năm 1994, Vũ Quang Mạnh giới thiệu danh sách 28 loài Oribatida
sống trong vùng đất ven biển Yên Hưng (Quảng Ninh), đảo Cát Bà (Hải

(Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm, 2005) [12].
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp
trong cấu trúc của nhóm Chân khớp bé Microarthropoda ở các đai cao địa lý
của Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của thời
tiết lên sự phân bố của nhóm Chân khớp bé theo tầng là rất cao và phát hiện
được 8 họ (Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh , 2006) [13].
Năm 2007, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết và giới thiệu toàn bộ các loài
Oribatida đã phát hiện từ trước tới nay ở Việt Nam của các tác giả trong và
ngoài nước trong công trình Động vật chí Việt Nam. Ông đã giới thiệu hệ
thống phân loại và danh pháp đầy đủ nhất của 150 loài trong khoảng 180 loài
Oribatida đã biết của khu hệ động vật Việt Nam (Vũ Quang Mạnh, 2007) [8].
Nhìn chung những nghiên cứu về động vật Chân khớp bé nói chung, ve
giáp nói riêng đã đề cập một cách toàn diện và có hệ thống với kết quả cao.
Tuy nhiên các kết quả đạt được mới chỉ là những nghiên cứu mang tính định
hướng ban đầu. Để tìm hiểu thấu đáo vai trò của nhóm này và ứng dụng vào
lĩnh vực khoa học và thực tiễn thì việc nghiên cứu cần được đẩy mạnh nghiên
cứu trong những năm tiếp theo.

Hoàng Thị Hiền

8

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu



Khóa luận tốt nghiệp đại học
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Mẫu sau khi lấy ở thực địa được đưa ngay về phòng thí nghiệm động
vật của trường để xử lý. Chúng tôi tiến hành tách nhóm động vật chân khớp
bé theo phương pháp phễu lọc “Berlese - Tullgren”, phương pháp này đã “lợi
dụng” tập tính của các loài động vật đất là: hướng đất dương và hướng sáng
âm, khi đất trong phễu lọc khô dần chúng sẽ chui sâu xuống lớp đất phía
dưới, qua lưới lọc và rơi xuống đáy phễu.
Dụng cụ dùng trong phương pháp này gồm có phễu thủy tinh và rây
lọc.Phễu thủy tinh có đường kính miệng là 18cm, đường kính vòi là 1,5cm.
Bộ phễu được đặt trong giá gỗ, vòi phễu gắn với ống nghiệm chứa dung dịch
formon 4%, bên trong có nhãn ghi thời gian đặt mẫu, địa điểm, tầng đất….
Rây lọc hình trụ đặt trên phễu, thành của rây lọc là vành kim loại, đường kính
15cm, cao 4cm, lưới lọc bằng sợi nilon, kích thước mắt lưới (1,0 x 1,0) mm.
Thao tác đặt mẫu: thu và rải đều trên mặt lớp lưới, phần vụn lọt qua
mắt lưới sẽ được đổ trở lại trước khi đặt rây vào phễu.
Mẫu được tách lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ từ 250C
- 300C, 7 ngày đêm rồi mới tiến hành thu ống nghiệm dưới đáy phễu đã được
lọc. Dùng nút bông bịt kín ống nghiệm và lấy dây chun bó các ống nghiệm
của cùng một tầng tại một địa điểm lại với nhau, sau đó cho vào lọ nhựa có
chứa dung dịch formon 4% để giữ cho mẫu không bị hỏng.
2.4.3. Phân tích mẫu và xử lý số liệu
2.4.3.1. Phân tích mẫu
Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống
nghiệm lên tờ giấy lọc đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu.
Đến lúc đã lọc hết dung dịch trong giấy lọc thì đặt giấy lọc ra đĩa petri và tiến
hành phân tích dưới kính hiển vi. Khi soi mẫu dưới kính hiển vi, dùng kim



H'= ∑
i =1

Trong đó:

ni
n 
× ln i 
N
N

s: số lượng loài.
ni: số lượng cá thể của loài thứ i
N: tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu

Hoàng Thị Hiền

11

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chỉ số đa dạng (H’) được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số
lượng loài trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài
trong quần xã.
Giá trị H’ dao động trong khoảng 0 đến ∞.
- Chỉ số đồng đều Pielou (J’):
J’=


12

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học
Ranh giới:
Phía Bắc giới hạn bởi Quốc lộ 13A (từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang);
Phía Nam giới hạn bởi ranh giới các huyện: Tam Dương, Mê Linh (Hà
Nội), Phổ Yên, Đại Từ (Thái Nguyên);
Phía Đông Bắc giới hạn bởi đường ô tô, giáp chân núi từ xã Quân Chu
đến gặp đường Quốc lộ 13A, tại xã Phú Xuyên huyện Đại Từ;
Phía Tây Nam giới hạn bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy, nối từ
Quốc lộ 13A tại xã Kháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương chạy dọc theo chân
dãy Tam Đảo gặp sông Bà Hạnh tại xã Mỹ Khê.
Tam Đảo có địa hình vùng núi cao trung bình, nằm cuối hệ thống núi
hình cánh cung thượng nguồn Sông Chảy. Bắt đầu từ dãy Tam Đảo, độ cao
địa hình giảm dần hình thành các đồi gò vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ.
Tam Đảo là dãy núi có cấu tạo địa hình đồ sộ và bị phân cắt mạnh, sườn dốc.
Độ dốc trung bình 26-350, có nơi trên 350 nên rất hiểm trở, khó đi lại. Các
khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, độ chia cắt sâu và dầy. Đỉnh cao
nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc (Tamdao North), cao 1592m, là điểm ranh giới của
ba tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái nguyên và Tuyên Quang. Ngoài ra, trong khu vực
còn có 3 đỉnh cao khác là: Thiên Thị (Rùng Rình) 1375m; Thạch Bàn 1388m
và Phù Nghĩa cao 1300m. Về mùa đông, khi trời nhiều mây, trông 3 đỉnh núi
này như 3 hòn đảo lớn nổi trên biển mây trắng nên được gọi là "Tam Đảo".
Dựa vào độ cao và địa hình có thể chia Tam Đảo thành 4 dạng địa hình
chính:
Thung lũng và đồng bằng ven sông suối: Phân bố rải rác dưới chân các

mát Tam Đảo, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm 180C, lượng mưa lớn
2630,3mm/năm, lượng bốc hơi thấp 561,5mm/năm.
b. Thuỷ văn:
Trong khu vực có 2 hệ thống sông chính: sông Phó Đáy ở phía Tây và
Sông Công ở phía Đông. Hầu hết các suối chính của Tam Đảo đều đổ vào hai
con sông này. Hệ thống suối dày đặc, ngắn và dốc. Do độ dốc lớn nên lưu
lượng nước chênh lệch lớn giữa mùa khô và mùa mưa. Lũ lớn thường xảy ra
từ tháng 4-10 (tập trung vào tháng 8), nước dâng nhanh và rút nhanh. Mùa
khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, phần lớn suối nhỏ cạn nước, gây khó

Hoàng Thị Hiền

14

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học
khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân. Trong khu vực có một số hồ
nước lớn: Xạ Hương, Khôi Kỳ, Ninh Lai, Hồ Sơn có khả năng phục vụ tưới
tiêu cho khu vực.
Nhìn chung, điều kiện khí hậu, thuỷ văn khu vực thuận lợi cho sinh
trưởng, phát triển của các loài động thực vật rừng và sản xuất nông nghiệp.
2.5.3. Thổ nhưỡng
Nhìn chung các loại đá mẹ hình thành nên dãy Tam Đảo khá cứng, thành
phần khoáng có nhiều Thạch anh, Muscovit khó phân hoá nên hình thành các
loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi và xói mòn, nhất là
ở những nơi có độ dốc cao, đất bị xói mòn mạnh để trơ phần đá mẹ.
Theo nguồn gốc phát sinh, trong khu vực có 4 loại đất chính sau:
Đất Feralit vàng nhạt trên núi trung bình: phát triển trên đá Macma

Trong số 1282 loài thực vật được phát hiện tại Tam Đảo có 66 loài cây quý
hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam: Trầm hương, Kim tuyến, Trầu tiên, Vù
hương, Đỗ trọng bắc, Sưa bắc bộ, Vàng tâm, Đinh hương, Kim giao vv. Đặc
biệt, trong số đó có 42 loài thực vật được coi là đặc hữu của Vườn quốc gia
Tam Đảo (nguồn: Các Vườn quốc gia Việt Nam, 2001).
Mặc dù đây mới chỉ là những ghi nhận bước đầu, chắc chắn trong
tương lai sẽ còn nhiều loài được phát hiện tại khu vực, nhưng số liệu trên cho
thấy Vườn quốc gia Tam Đảo là nơi có mức độ đa dạng cao về thành phần
loài thực vật và là nguồn gen vô giá cho bảo tồn đa dạng sinh học.
2.5.4.2. Hệ động vật rừng
Theo kết quả điều tra, tính đến năm 2003, đã phát hiện được tại Vườn
quốc gia Tam đảo 70 loài thú, 248 loài chim, 132 loài bò sát 62 loài ếch nhái
và 651 loài côn trùng. Với số liệu trên, nếu đánh giá theo chỉ số đa dạng sinh
học thì khu hệ động vật Tam Đảo có mức độ đa dạng rất cao về bộ, họ và đa
dạng cao về thành phần loài so với toàn quốc.
2.5.5. Kinh tế - xã hội
Theo số liệu của Vườn quốc gia (2001), vùng đệm của Vườn quốc gia
Tam Đảo bao gồm 23 xã và thị trấn thuộc 6 huyện thị. Tổng dân số trong
vùng trên 148000 người, thuộc 29598 hộ. Số người trong độ tuổi lao động
89460, trong đó lao động nông nghiệp 84678 người, chiếm 94,65%. Tỷ lệ
tăng dân số 1,0-2,0%.

Hoàng Thị Hiền

16

K35C – CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp đại học

3.1. Đa dạng thành phần loài và phân bố của Oribatida ở đai cao 100 600m tại Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc
3.1.1. Danh sách loài Oribatida
Kết quả nghiên cứu danh sách các loài Oribatida ghi nhận ở đai
cao100-600m ở Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, gồm 67 loài thuộc
41 giống, 29 họ (Bảng 1). Trong số 67 loài Oribatida ghi nhận có 62 loài xác
định tên khoa học và 5 loài chưa định tên - gồm : Archegozetes sp.;
Nanhermannia sp.; Cultroribula sp.; Unguizetes sp.; Liebstadia sp.
Trên cơ sở các mẫu Ve giáp ở các địa điểm, sinh cảnh nghiên cứu, mẫu
vật lưu trữ ở phòng thí nghiệm cũng như các tài liệu tham khảo của TS. Đào
Duy Trinh, PGS. TS. Vũ Quang Mạnh, chúng tôi tin rằng trong 5 loài chưa
định tên ở trên có một số loài mới cho khoa học. Tuy nhiên trong khuôn khổ
của một luận văn cử nhân, do nhiều hạn chế về mặt thời gian, nên chúng tôi
chưa định rõ được tên các loài này.
Bảng 3.1. Thành phần loài và phân bố của Oribatida theo các tầng phân bố ở
đai cao 100-600m của Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Đai cao
100-600m
Loài

STT
I

A1

A2



Rêu



x

4 Rhysotritia rasile Mahunka, 1982

x

LOHMANNIIDAE BERLESE, 1916
Papilacarus Kunst, 1959
5 Papilacarus aciculatus (Berlese, 1905)

x

6 Papilacarus arboriseta Jeleva et Vu, 1987

x

Meristacarus Grandjean, 1934
7 Meristacarus madagaskarensis Balogh, 1961
IV

x

EPILOHMANNIIDAE OUDEMANS, 1923
Epilohmannia Berlese, 1910
8 Epilohmannia cylindrica (Berlese, 1904)

V

x


x

x

HERMANNIIDAE SELLNICK, 1928
Phyllhermannia Berlese, 1916

VIII

13 Phyllhermannia gladiata Aoki, 1965

x

14 Phyllhermannia similis Balogh et Mahunka, 1967

x

HERMANNIELLIDAE GRANDJEAN, 1934
Hermanniella Berlese, 1908
15 Hermanniella thani Mahunka, 1987

IX

x

LIODIDAE GRANDJEAN, 1954
Liodes von Heyden, 1826
16 Liodes theleproctus (Hermann, 1804)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status