Đặc điểm tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới tại vườn quốc gia bạch mã thừa thiên huế - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HOÀNG THỊ TUYẾT

ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA THẢM THỰC VẬT RỪNG KÍN
THƯỜNG XANH MƯA ẨM NHIỆT ĐỚI
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ - THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HOÀNG THỊ TUYẾT

ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA THẢM THỰC VẬT RỪNG KÍN
THƯỜNG XANH MƯA ẨM NHIỆT ĐỚI
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ - THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60

không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung
của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.
Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập, kết quả xử lý, tính toán là trung thực
và được trích dẫn rõ ràng.
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, năm 2010
Hoàng Thị Tuyết


ii

MỤC LỤC

Nội dung

Trang

LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................ i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.................................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................................................... v
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................................... vi
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................................ 3
1.1. Trên thế giới .............................................................................................................. 3
1.2. Ở Việt Nam .............................................................................................................. 14
Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU .................................................................................................................................... 23
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................. 23
2.2. Giới hạn nghiên cứu ............................................................................................... 23
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................... 23

PHỤ LỤC


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Viết đúng

Stt

Từ viết tắt

1

VQG

2

Hvn

Chiều cao vút ngọn

3

Hdc

Chiều cao dưới cành

4


10

CCA

Vườn Quốc gia

Đường kính tán lá cây rừng

Quần xã thực vật rừng
Phương pháp phân tích liên hệ kinh điển


v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng

Tên bảng

Trang

4.1

Cấu trúc tổ thành tầng cây cao của 3 trạng thái rừng tại VQG Bạch Mã

44

4.2


Phân bố số cây tái sinh trên bề mặt đất tại khu vực nghiên cứu

54

4.8

Đặc điểm lỗ trống tại khu vực nghiên cứu

55

4.9

Một số chỉ tiêu của tầng cây cao xung quanh lỗ trống

57

4.10

Cấu trúc tổ thành tầng cây cao xung quanh lỗ trống

58

4.11

Mật độ và tổ thành cây tái sinh trong các lỗ trống

60

4.12


Quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng với các trục tọa độ tiêu chuẩn

70

4.18

Quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng với các trục tọa độ tiêu chuẩn

72

4.19

Quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng với các trục tọa độ tiêu chuẩn

75

4.20

Mối quan hệ giữa tổ thành cây cao và cây tái sinh trong các lỗ trống

76

4.21

Quan hệ giữa diện tích lỗ trống và đặc điểm chung của lớp cây tái sinh

77

4.22

Phân bố số cây theo cấp chiều cao của các trạng thái nghiên cứu

51

4.2

Phân cấp lỗ trống trong các trạng thái nghiên cứu

56

4.3

Phân bố số cây tái sinh trong các lỗ trống theo cấp chiều cao

63

4.4

Kết quả xác định ảnh hưởng của các nhân tố hoàn cảnh tới mật độ cây

69

tái sinh
4.5

Kết quả xác định ảnh hưởng của các nhân tố hoàn cảnh tới Hvn cây tái sinh

72

4.6



1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tái sinh là quá trình sinh học đặc thù của hệ sinh thái rừng, là sự thay thế thế
hệ cây già cỗi bằng thế hệ cây con nhằm phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng,
góp phần làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài trong hệ sinh thái [29].
Trong quá trình tái sinh, dưới ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh, không phải tất
cả cây mạ có cơ hội tồn tại và sinh trưởng để có thể gia nhập và thay thế lớp cây ở
tầng cây cao trong tương lai. Tuy nhiên, sự xuất hiện của chúng sẽ quyết định mức
độ đặc trưng, chất lượng tái sinh và tiềm năng phát triển của hệ sinh thái rừng.
Đặc điểm của quá trình tái sinh được thể hiện thông qua mật độ, tổ thành cây
tái sinh, số lượng cá thể của mỗi loài, khả năng sinh trưởng, chất lượng của chúng là
cơ sở đánh giá mức độ đáp ứng của hệ sinh thái hiện tại gắn với mục tiêu kinh
doanh đề ra. Trên quan điểm lâm học, loài cây trở thành ưu thế trong tương lai
không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai mà còn phụ thuộc rất
lớn vào những tác động của con người ở thời điểm hiện tại [87]. Vì vậy, các biện
pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạo một hệ sinh thái rừng bền vững chỉ có thể được giải
quyết thỏa đáng khi có sự hiểu biết đầy đủ nhất về bản chất các quy luật sống của
rừng trước hết là quá trình tái sinh tự nhiên trong từng điều kiện lập địa cụ thể.
Ở các quần xã thực vật rừng tự nhiên nhiệt đới, nếu quá trình tái sinh dưới
tán rừng của các loài cây chịu bóng hoặc cây trung tính diễn ra phân tán và liên tục
tạo nên lớp cây tái sinh thường không đồng nhất về thành phần loài và cấu trúc theo
không gian thì quá trình tái sinh theo vệt ở các lỗ trống hình thành khi một hoặc một
số cá thể trưởng thành chết đi, sau quá trình canh tác nương rẫy hoặc sau khi khai
thác chọn tầng cây gỗ thường tạo nên lớp cây tái sinh với số lượng chiếm ưu thế của
một số loài tiên phong, ưa sáng. Sự xuất hiện của chúng tạo ra tiểu hoàn cảnh thuận
lợi cho quá trình tái sinh của các loài chịu bóng [89] góp phần hình thành các quần
xã thực vật đặc trưng trong tương lai.
Trên quan điểm quản lý và bảo tồn hệ sinh thái rừng, hiểu biết được quá trình

mỗi cá thể nói riêng, tái sinh là quy luật tất yếu nhằm đảm bảo tính kế thừa, đảm
bảo khả năng sinh tồn cũng như đặt tiền đề cho quá trình tái sản xuất mở rộng của
hệ sinh thái. Vì vậy, nghiên cứu tìm ra các đặc điểm và quy luật tái sinh của các hệ
sinh thái rừng đã được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm
nhằm điều khiển chúng đáp ứng mục đích kinh doanh trên cơ sở tuân thủ quy luật
của tự nhiên.
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu tái sinh dưới tán rừng
1.1.1.1. Đặc điểm tái sinh dưới tán rừng
Cùng với quá trình khám phá các quy luật phát sinh, sinh trưởng, phát triển
của các quần xã thực vật rừng. Đặc điểm của quá trình tái sinh đã dành được sự
quan tâm của các nhà sinh học và sinh thái học trên thế giới từ rất sớm. Những kết
quả nghiên cứu đầu tiên về đặc điểm tái sinh của rừng mưa nhiệt đới đã được
Ôbrêvin (Dẫn theo Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan, 2005) [28] công bố năm
1938 khi ông phát hiện rất ít hoặc không có cây con của những loài cây ưu thế ở
tầng cây cao trong rừng mưa nhiệt đới tại châu Phi. Dưới tán rừng, mật độ và tổ
thành của lớp cây tái sinh thường thay đổi theo không gian và thời gian. Trong một
phạm vi giới hạn, tầng cây cao dường như được thay thế bằng một thế hệ khác. Tuy
nhiên, xem xét trên phạm vi rộng và căn cứ theo quy luật diễn thế thì cây rừng kế
thừa nhau một cách có hệ thống. Với phát hiện quan trọng này, Ôbrêvin đã đặt nền
móng lý luận cho những nghiên cứu về hiện tượng bức khảm tái sinh của rừng nhiệt
đới sau này.


4
Tiếp theo Ôbrêvin, Van Steenis (1956) cũng đã phát hiện và phân biệt hai
kiểu tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán, liên tục dưới tán
rừng của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt ở các lỗ trống trong rừng của các loài
cây ưa sáng. Phía dưới tán rừng, cây con của đa số các loài cây thường phân bố cụm
xung quanh gốc cây mẹ mà ít khi bắt gặp dạng phân bố ngẫu nhiên hoặc phân bố đều

bản hình tròn để điều tra cây mạ - những cây có chiều cao biến động từ 0,3m ÷ 1,3m.
Những cá thể có chiều cao nhỏ hơn 0,3m thường chiếm số lượng lớn dưới tán rừng
song do mật độ của chúng thay đổi rất mạnh trong khoảng thời gian ngắn nên không
được chú trọng nghiên cứu.
Có cùng quan điểm nghiên cứu với Lamprecht (1989) [65] nhưng Brodbeck
(2004) [48] đã phân chia diện tích điều tra 10.000 m2 thành 25 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có
kích thước 400m2 (20m x 20m). Ở mỗi góc của ô tiêu chuẩn, tác giả bố trí 01 ô dạng
bản có kích thước 25m2 (5m x 5m) để điều tra cây con và 01 ô dạng bản có diện tích
4m2 (2m x 2m) để điều tra cây mạ. Phương pháp này được đánh giá có độ chính xác
cao và đặc biệt thích hợp với các nghiên cứu sinh thái tái sinh nên đã được sử dụng
rộng rãi trong nghiên cứu tái sinh tại rừng mưa nhiệt đới.
1.1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh dưới tán
Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu tập trung xác định ảnh hưởng
của các nhân tố ngoại cảnh đến tái sinh dưới tán rừng và được phân thành 2 nhóm:
(i) Nhóm các nhân tố ảnh hưởng không có sự tác động của con người: Quá
trình sinh trưởng của cây rừng nói chung và cây tái sinh nói riêng chịu tác động
tổng hợp của các nhân tố sinh thái như ánh sáng, đất, lượng mưa...và mỗi loài cây
chỉ có thể tồn tại và sinh trưởng trong một giới hạn nhất định của các nhân tố sinh
thái trên. Khi một trong các nhân tố thay đổi làm cho môi trường thay đổi và sinh
trưởng của chúng sẽ bị ảnh hưởng [87]. Để làm rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố và xác định được tổ hợp thích hợp cho mỗi loài cây các nhà sinh thái học đã tập
trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu như ánh sáng, đất, cây bụi thảm
tươi, nguồn hạt giống, thảm mục, các nhân tố khí hậu, động vật và vi sinh vật rừng...


6
+ Ánh sáng là nhân tố sinh thái được nhiều tác giả quan tâm và tìm hiểu bởi
nó có tầm quan trọng đặc biệt đối với quá trình quang hợp của thực vật. Đối với đa
số các loài cây, ánh sáng là nhân tố giới hạn có ảnh hưởng rất lớn tới thành công
của quá trình tái sinh [87]. Để phân biệt nhu cầu ánh sáng giữa các loài cây,

+ Cây bụi, thảm tươi và nguồn hạt giống:
Cây bụi, thảm tươi là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiếp cận của
hạt giống với đất, chi phối lượng ánh sáng chiếu xuống, ảnh hưởng đến độ ẩm đất
và là đối thủ cạnh tranh sinh tồn của cây mạ. Những quần thụ kín tán ảnh hưởng của
chúng tới cây tái sinh thường không đáng kể trong khi những quần thụ có tầng tán
thưa hơn chúng là những nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Vipper,
1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [35].
Khi đánh giá ảnh hưởng của nguồn hạt giống đến tái sinh rừng các tác giả đều
nhấn mạnh 3 yếu tố: (i) các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn hạt, (ii) đặc điểm phát tán
hạt giống của cây rừng và (iii) mức độ phong phú của nguồn hạt. Theo Matthew
(2000) [71], tại những vùng đất thấp của Costa Rica các khúc gỗ mục nhỏ và những
đám cây dương xỉ có ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại của hạt giống sau khi được
phát tán và sự phát tán của hạt giống trên những vùng đất bỏ trống là nhân tố chính
góp phần vào thành công của phục hồi rừng [94]. Trong khi Holl và các cộng sự
(2000) [58] lại khẳng định, sự thiếu hụt về nguồn hạt giống và cạnh tranh của cỏ dại
như là những nhân tố rào cản của quá trình này.
(+) Các yếu tố khí hậu: như gió, lượng mưa, nhiệt độ cũng được đánh giá có
ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát tán, nẩy mầm của hạt giống. Nghiên cứu
của Nathan và Muller-Landau (2000) [73] về khả năng phát tán nhờ gió của 1.500
loại hạt giống trong phạm vi 100m tính từ gốc các cây mẹ cho thấy cường độ phát
tán giảm xuống khi khoảng cách tăng lên. Khả năng phát tán này không chỉ phụ
thuộc vào cường độ gió mà còn phụ thuộc vào đặc điểm cấu tạo hạt. Điều này đồng
nghĩa với việc hạt có kích thước nhỏ và có cánh thì cự ly phát tán xa hơn so (nhiều
trường hợp lên tới 2km tính từ gốc cây mẹ [76]) so với với các hạt kích thước lớn và
không cánh [44].


8
Khi hạt giống tiếp xúc với đất, bên canh dưỡng khí, điều kiện tiên quyết để hạt
nẩy mầm bao gồm nước (độ ẩm), nhiệt độ. Chính cường độ mưa và tổng lượng bức

thường được sử dụng trong đánh giá tài nguyên rừng. Trong nghiên cứu tái sinh lỗ
trống, phần lớn các tác giả sử dụng phương pháp 2 và 3.
Theo phương pháp 2: Aaron và Hix (2003) [42] cũng như Sapkota và Oden
(2009) [79] đã đo chiều dài đoạn dài nhất đi qua tâm của hình lỗ trống và đoạn dài
nhất vuông góc với nó làm cơ sở xác định diện tích hình ellipse.
Theo phương pháp 3: Jans và cộng sự (1993) [61]; Naaf và Wulf (2007) [72]
xác định diện tích lỗ trống bằng việc đo khoảng cách và góc phương vị tương ứng
từ trung tâm lỗ trống tới các điểm ở mép rừng xung quanh. Theo đó, các tác giả lựa
chọn 8 vị trí ở mép lỗ trống tương ứng với các góc phương vị 0o, 45o, 90o, 135o,
180o, 225o, 270o và 315o so với tâm lỗ trống và đo khoảng cách từ trung tâm tới 8
điểm đó. Các điểm này được nối lại với nhau và nối với tâm lỗ trống tạo nên 01 đa
giác gồm 8 hình tam giác. Tổng diện tích của 8 tam giác khi đó chính là diện tích ô
trống. Phương pháp này không chỉ đơn giản mà có độ chính xác tương đối cao so
với phương pháp 2 nên thường được áp dụng trong nghiên cứu liên quan đến lỗ
trống trong rừng.
1.1.2.2. Đặc điểm tái sinh lỗ trống
Việc hình thành các lỗ trống là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình tái
sinh và động thái của hệ sinh thái rừng [75], [77]. Sự xuất hiện của các lỗ trống làm
thay đổi mạnh mẽ điều kiện hoàn cảnh (gồm ánh sáng, độ ẩm hoặc nhiệt độ) so với
tiểu hoàn cảnh dưới tán rừng [55], [90] thúc đẩy quá trình nẩy mầm, sinh trưởng của
các loài cây ưa sáng và cây tái sinh của một số loài vốn đang bị kìm hãm ở dưới tán
rừng trước đó [93].
Theo Van Steenis (1956) (dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [23], tổ thành
các loài cây tái sinh mọc ở lỗ trống là những loài mọc nhanh ưa sáng, đời sống ngắn
và thường không có mặt trong tổ thành rừng có nguồn gốc do phát tán từ xa tới. Các
loài này đảm nhiệm vai trò tiên phong, khởi đầu cho quá trình phủ kín lỗ trống. Khi


10
lỗ trống được che phủ hoàn toàn, dưới tán lớp cây tiên phong sẽ xuất hiện thế hệ

chúng [55]. Với các lỗ trống có kích thước lớn, cây bụi, thảm tươi và cây dây leo
thường chiếm ưu thế trong giai đoạn đầu. Chúng tồn tại và sinh trưởng vài năm
trước khi cây gỗ tái sinh xuất hiện [81]. Các giai đoạn của quá trình tái sinh sau đó
có thể sẽ đi theo chiều hướng khác nhau và sẽ thúc đẩy sinh trưởng của một nhóm
các loài cây trưởng thành riêng biệt để cuối cùng tạo nên sự tương phản trong tổ
thành rừng [45].
1.1.2.3. Phương pháp nghiên cứu tái sinh lỗ trống
Khác với nghiên cứu tái sinh dưới tán, các lỗ trống trong rừng thường phân
tán với hình dạng và kích thước khác nhau. Vì vậy, phương pháp lựa chọn các lỗ
trống nghiên cứu và điều tra trong lỗ trống là 2 vấn đề chính được nhiều nhà khoa
học quan tâm.
+ Lựa chọn lỗ trống nghiên cứu:
Hiện nay trên thế giới có 2 trường phái lựa chọn lỗ trống đó là (i) phương
pháp lựa chọn lỗ trống nằm trên các tuyến được lập hệ thống trong khu vực nghiên
cứu. Điển hình của trường phái này phải kể đến Aaron và Hix (2003) [42], trong
nghiên cứu của mình hai ông sử dụng 15 tuyến song song cách đều nhau 50m có
điểm khởi đầu và điểm kết thúc của các tuyến cách mép rừng 20m. Các lỗ trống
nằm trên các tuyến điều tra sẽ được lựa chọn nghiên cứu và (ii) phương pháp lựa
chọn lỗ trống theo các giải. Theo trường phái này Sapkota và Oden (2009) [79] đã
ngẫu nhiên lựa chọn và thiết lập 01 dải rộng 40m tại khu vực điều tra. Các giải tiếp
theo được lập có mép giải cách mép giải trước đó 10m. Chiều dài mỗi giải và số
lượng giải được xác định khi 60 lỗ trống trong khu vực nghiên cứu được xác định.
+ Điều tra các chỉ tiêu bên trong và xung quanh lỗ trống:
Khi nghiên cứu tái sinh lỗ trống, đa số các tác giả tiến hành thu thập và xác định
các thông tin chung về lỗ trống bao gồm: diện tích, lịch sử hình thành lỗ trống [79]
Để thu thập thông tin chi tiết về lỗ trống bao gồm mật độ, loài cây tái sinh,
chiều cao, Sapkota và Oden (2009) [79] đã thiết lập 01 ô tiêu chuẩn có kích thước


12

thường xuất hiện trong các lỗ trống có kích thước lớn trong khi các loài chịu bóng
hoặc các loài đã tái sinh trước khi lỗ trống được tạo ra chiếm ưu thế trong lỗ trống
có kích thước nhỏ hơn. Kết luận này trùng với quan điểm của Van Stennis (1956)
(dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [23] và Runkle (1981) [77] khi khẳng định: số
lượng các loài ưa sáng và mức độ đa dạng loài tăng tỷ lệ thuận với kích thước lỗ
trống. Trong khi, tổng tiết diện ngang và đường kính ngang ngực có quan hệ với
kích thước của lỗ trống theo tỷ lệ nghịch [79].
(+) Bên cạnh kích thước lỗ trống, tái sinh trong các lỗ trống còn chịu ảnh
hưởng của hình dạng lỗ trống, chiều cao và đường kính của các cây xung quanh
[47], [53], [54], [69]; tuổi của lỗ trống [47], [53], [80]; số lượng, nguyên nhân và
kích cỡ của cây đổ [43], [86], [91] và cấu trúc của lâm phần xung quanh [57].
(+) Nguồn hạt giống trong đất đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định
quần xã thực vật sau khi bị tác động [62], nó phản ánh một phần lịch sử của thảm
thực vật và mức độ đóng góp cho tương lai [84]. Trong đất, nguồn hạt giống phân
tán và chủ yếu tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt [85]. Thông tin về nguồn hạt trong
đất gồm loài cây, chất lượng hạt và độ sâu phân bố có thể hỗ trợ cho việc ước tính
tiềm năng tái sinh sau khi rừng bị tác động. Hạt của những loài cây chỉ có thể mọc
trong các lỗ trống sẽ có một cơ hội rất lớn để tạo nên những cá thể tiên phong khởi
đầu cho một quá trình diễn thế tiến bộ lấp đầy các lỗ trống đó [62].
(+) Con người và các động vật khác đã làm cho tái sinh rừng biến động cục bộ
theo mức độ tác động. Đặc điểm khác nhau giữa các lỗ trống sau tác động làm cho
tiểu hoàn cảnh, hệ động thực vật, tần số xâm nhập của động vật ăn cỏ kích thước
lớn và diễn thế của thảm thực vật cũng khác nhau [63]. Kết quả nghiên cứu tại khu
vực rừng mưa nhiệt đới ở độ cao trung bình tại Vườn quốc gia Kibale, Uganda đã
xác định 4 nhân tố chính ảnh hưởng tới tái sinh của cây rừng sau khai thác [63], [82]
bao gồm: (i) cường độ khai thác, (ii) sự hình thành và thời gian duy trì của lớp cây
bụi thảm tươi, (iii) tần xuất họat động của voi và (iv) cường độ họat động của động
vật gặm nhấm ăn hạt trong các lỗ trống kích thước lớn.




15
Xác định quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên dưới tán rừng lá rộng thường
xanh hỗn loài nhiệt đới, Vũ Đình Huề và Nguyễn Đình Tam (1989) [18], Nguyễn Duy
Chuyên (1995) [3] đã phát hiện tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm và ở dạng phân
bố giảm ở loại rừng nghèo (IIIA1). Nếu xét trên toàn bộ lâm phần, tái sinh tự nhiên diễn
ra liên tục và cây tái sinh tập trung chủ yếu ở độ tuổi nhỏ, cấp chiều cao dưới 50cm.
So sánh giữa các trạng thái rừng, mật độ cây tái của một số loài mục đích tăng
lên cùng với mức độ ổn định của chúng [3], [6]. Nếu trạng thái IIIA1 số cây tái sinh chỉ
đạt 750 cây/ha thì trạng thái IIIA2 số cây tái sinh mục đích đạt 1.482 cây/ha và cao
nhất ở rừng nguyên sinh với số lượng cây mục đích đạt 2.594 cây/ha [6]. Kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàn và Lên Ngọc Công (2006) [15] trên đối tượng rừng
phục hồi sau canh tác nương rẫy Tây Yên Tử - Bắc Giang cho thấy thành phần loài cây
tái sinh có xu hướng tăng lên song mật độ của chúng lại giảm dần theo thời gian bỏ hóa
(sau 4-6 năm bỏ hóa đã xuất hiện 21 loài với mật độ cây tái sinh biến động từ 6.583 ÷
1.331 cây/ha và sau 10-12 năm có 26 loài xuất hiện với mật độ 3.706 ÷ 1.016 cây/ha).
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trên cùng đối tượng tại Cúc Phương của các tác giả
Phạm Xuân Hoàn và Trương Quang Bích (2009) [16] lại cho thấy, cả số lượng loài và
mật độ cây tái sinh đều tăng lên sau thời gian bỏ hóa (trên các ô định vị I, III và IV số
lượng loài và mật độ cây tái sinh tăng từ 15 lên 17; từ 29 lên 35; 23 lên 34 và mật độ
tăng lên từ 1.600 lên 1.800 cây/ha; từ 1.360 lên 6.840 cây/ha và từ 2.760 lên 17.360
cây/ha sau 5 năm bỏ hóa. Căn cứ điểm của tái sinh rừng, các nghiên cứu đều cho rằng
trong kinh doanh không thể mong đợi hoàn toàn vào tái sinh tự nhiên để có một loại
hình rừng có năng suất và chất lượng cao mà phải có những xử lý lâm sinh để xúc tiến
tái sinh và điều khiển rừng phục vụ lợi ích lâu dài của con người [33]. Thêm vào đó,
những con số đánh giá tái sinh qua điều tra thực tế không phản ánh đúng, chính xác
tiềm năng tái sinh của rừng nghèo kiệt sau khai thác. Bằng chứng quan trong có thể
quan sát ở Hương Sơn khi rừng Lim xanh tái sinh hàng loạt gần 100ha trên rừng nghèo
kiệt đã cải tạo để trồng mỡ sau khi khai thác mỡ ở Cầu Hai, Phú Thọ một số băng chừa
rừng nghèo kiệt dường như không phát hiện cây tái sinh có giá trị kinh tế nhưng sau 10

tái sinh như mật độ, tổ thành, đường kính, chất lượng sinh trưởng, tỷ lệ loài mục


17
đích và phân bố của cây tái sinh trên bề mặt đất...các nghiên cứu tái sinh thường chú
trọng xác định và đánh giá tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng bởi số lượng và chất
lượng của chúng có ý nghĩa rất quan trọng trong kinh doanh rừng, là cơ sở để các
nhà lâm học xác định biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp cho từng thời điểm tác
động, nhất là với rừng chặt chọn [9].
Theo Quy phạm lâm sinh QPN 14-92 của Bộ lâm nghiệp nay là Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), cây tái sinh có triển vọng của rừng tự
nhiên Việt nam nói chung là những cây có chiều cao từ 1-2m trở lên. Một số tác giả
khác như Trần Xuân Thiệp (1995) [36], Phạm Xuân Hoàn và Trương Quang Bích
(2009) [16] đánh giá cây có triển vọng là những cây có chiều cao ≥ 1,5m; hoặc Hvn
≥ 2 m theo phân loại của Nguyễn Duy Chuyên và Lê Thọ (1995) đối với rừng Pơmu
- Lâm Đồng [5]; Hvn ≥ 3m theo phân loại của Nguyễn Duy Chuyên và Ngô Kế An
(1995) ở rừng cây họ Dầu [4]. Trên quan điểm tổng quát, hầu hết các tác giả đều xác
định cây tái sinh có triển vọng là cây có chiều cao bằng hoặc vượt chiều cao của lớp
cây bụi thảm tươi và có chất lượng sinh trưởng từ trung bình trở lên. Đây cũng là
quan điểm dành được sự nhất trí của nhiều nhà lâm học bởi chiều cao của cây có
triển vọng sẽ được xác định căn cứ vào đặc điểm cây bụi, thảm tươi cụ thể trong
từng lâm phần.
1.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu tái sinh
(a) Nghiên cứu tái sinh dưới tán rừng: nhiều công trình nghiên cứu xác định
diện tích điều tra tái sinh tối thiểu biến động trong khoảng 4-5% tổng diện tích ô
tiêu chuẩn điều tra [39], ô dạng bản điều tra tái sinh có diện tích 4m2 (2m x 2m) và
được bố trí đều trên các tuyến điều tra trong ô tiêu chuẩn. Với phương pháp này,
theo Đỗ Thị Ngọc Lệ (2007) [24], mặc dù số lượng ô nhiều nhưng diện tích điều tra
của mỗi ô nhỏ nên độ chính xác của kết quả không cao. Từ đó tác giả cho rằng
phương pháp điều tra 5 ô dạng bản mỗi ô có diện tích 25m2 (5m x 5m) với 4 ô nằm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status