Nghiên cứu khoa học
NGHIÊN CỨU SỰ THAY
ĐỔI LỚP PHỦ THẢM
THỰC VẬT RỪNG TẠI
VƯỜN QUỐC GIA BẠCH
MÃ, TỈNH THỪA THIÊN
HUẾ
.
1
NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI LỚP PHỦ THẢM THỰC VẬT RỪNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẠCH
MÃ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Việc điều tra, theo dõi, đánh giá và phân tích sự thay đổi lớp phủ thảm thực vật rừng là một trong
những nhiệm vụ được ưu tiên ở những khu vực diện tích mới mở rộng của Vườn. Mặc dù hàng năm
đều có các báo cáo về hiện trạng và tình hình biến động rừng của các ngành chức năng, nhưng hầu hết
các báo cáo này chủ yếu dựa trên việc đo vẽ, thành lập bản đồ rừng bằng phương pháp truyền thống.
Đây là một công việc phức tạp, mất nhiều công sức và đòi hỏi nhiều thời gian, không đáp ứng được tính
thời sự và làm các báo cáo nhanh vì tình hình diễn biến tài nguyên rừng và đất rừng luôn biến động.
Ứng dụng phương pháp viễn thám và GIS đáp ứng được nhu cầu này và có khả năng giúp giải
quyết những vấn đề ở tầm vĩ mô trong thời gian ngắn. Áp dụng phương pháp này vào việc nghiên cứu
sự thay đổi lớp phủ thảm thực vật rừng sẽ phần nào giúp cho Ban quản lý VQG Bạch Mã có được các
thông tin diễn biến nguồn tài nguyên rừng vùng diện tích mới mở rộng và làm cơ sở cho việc xây dựng
chiến lược bảo tồn thảm thực vật rừng ở khu vực diện tích rừng mới mở rộng tại huyện Nam Đông,
tỉnh Thừa Thiên Huế.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Địa bàn nghiên cứu: các khu rừng thuộc diện tích mới mở rộng của Vườn quốc gia Bạch Mã
nằm trên địa bàn hành chính của ba xã Thượng Lộ, Thượng Nhật và Thượng Long, huyện Nam
Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.
* Phương pháp nghiên cứu
- Xây dựng bản đồ hiện trạng phủ thực vật rừng bằng phương pháp giải đoán ảnh viễn thám có
kiểm định để chiết xuất thông tin từ ảnh vệ tinh và xây dựng bản đồ lớp phủ thảm thực vật khu vực
nghiên cứu qua từng năm. Ảnh sử dụng cho phân loại ảnh số có kiểm định là ảnh Landsat các năm
1989, 2001, 2004, và năm 2007. Sử dụng phần mềm Erdas để giải đoán ảnh vệ tinh.
- Phân tích, đánh giá sự thay đổi lớp phủ thảm thực vật rừng giai đoạn từ năm 1989 – 2001,
2001– 2004, 2004 – 2007 bằng phương pháp chồng ghép, phân tích bằng phần mềm Arcview 3.2.
- Đánh giá khả năng tiếp cận làm thay đổi các lớp phủ thảm thực vật rừng do các hoạt động
của người dân địa phương dựa vào khoảng cách từ sông suối bằng phương pháp chồng ghép và tạo
vùng đệm khoảng cách (buffer) bằng phần mềm Arcview 3.2.
Năm
2007
Năm
1989
Năm
2001
Năm
2004
Năm
2007
Rừng tự nhiên 9903,48
11058,49
10438,98
10387,68
70,60
78,84 74,42 74,06
Rừng phục hồi 2923,68
2217,05
1344,96
1802,03
20,85
2004, 2004 – 2007
Chồng ghép các bản đồ hiện trạng lớp phủ các thời kỳ bằng phần mềm Arcview với công cụ phân
tích không gian (Spatial Analyst) tạo ra các bản đồ thay đổi lớp phủ thực vật từng giai đoạn
3
Phân tích thay đổi lớp phủ thảm thực vật rừng giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2001 Bảng 2. Ma trận thay đổi lớp phủ thực vật giai đoạn 1989–2001(Đ.vị: ha)
Rừng phục
hồi 1989
Đất trống 1989 Rừng tự nhiên
1989
Tổng năm 2001
Rừng phục hồi 2001 162,171 16,079 27,561 205,811
Đất trống 2001 18,736 47,928 2,938 69,602
Rừng tự nhiên 2001 90,317 47,073 888,572 1025,962
Tổng thay đổi 271,224 111,08 919,071 1301,375
Trong giai đoạn này, rừng tự nhiên không thay đổi có diện tích lớn nhất (888,572ha), kế đến
rừng phục hồi (162,17ha) và diện tích thay đổi thấp nhất là đất trống (47,928ha); diện tích rừng phục
hồi chuyển thành rừng tự nhiên lớn nhất là 90,317ha, đồng thời cũng có 27,561ha diện tích rừng tự
nhiên chuyển thành rừng phục hồi. Diện tích rừng tự nhiên chuyển sang đất trống rất thấp 2,938ha và
rừng phục hồi chuyển sang đất trống là 18,736ha, chứng tỏ rừng được bảo vệ tốt.
Khả năng tái sinh rừng trên đất trống chuyển sang rừng tự nhiên (47,03ha) cao so với hơn diện
tích đất trống chuyển sang rừng phục hồi (16,079ha), rừng ở đây có khả năng tự tái sinh phục hồi
theo chiều hướng đi lên, phủ xanh lại đất trống.
Phân tích thay đổi lớp phủ thảm thực vật rừng giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2004 4
năng chuyển từ đất trống sang các loại rừng rất nhỏ, chỉ có gần 10,57ha đất trống chuyển sang các
loại rừng khác, khả tái sinh, phát triển rừng rất từ trống rất thấp. Đồng thời khả năng chuyển qua trạng
thái từ rừng tự nhiên qua rừng phục hồi cũng thấp.
Phân tích thay đổi lớp phủ thảm thực vật rừng giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2007 Bảng 4. Ma trận thay đổi lớp phủ thực vật giai đoạn 2004-2007
Đơn vị: ha
Rừng phục
hồi năm 2004
Đất trống
năm 2004
Rừng tự nhiên
năm 2004
Tổng năm
2007
Rừng phục hồi năm 2007 99,54 51,261 16,462 167,266
Đất trống năm 2007 16,348 101,365 53,091 170,804
Rừng tự nhiên năm 2007 9,034 55,801 899,56 964,395
Tổng thay đổi 124,925 208,427 969,113 1302,465
Trong giai đoạn này, khả năng tái sinh rừng diễn ra mạnh, bằng chứng là có 107,06ha đất trống
chuyển sang trạng thái rừng phục hồi và rừng tự nhiên, với tỉ lệ diện tích đất trống chuyển sang diện
tích rừng tự nhiên, rừng phục hồi gần bằng nhau. Tình trạng khai thác rừng tự nhiên diễn ra ít hơn so
với giai đoạn năm 2001-2004 (mất 53,09ha rừng tự nhiên do bị khai thác trắng), nhưng nhìn vào hình
4, cho thấy có 53,09ha rừng tự nhiên bị mất ở mức độ trung bình do các hoạt động khai thác rừng là
Biểu đồ 1. Biểu diễn sự thay đổi diện
tích lớp phủ thảm thực vật rừng 0.00
2000.00
4000.00
6000.00
8000.00
10000.00
12000.00
Diện tích (ha)
1989 2001 2004 2007
Năm
Rừng phục hồi Đất trống Rừng tự nhiên
5
Qua bảng 5 và biểu đồ 1 biểu diễn sự thay đổi về diện tích các lớp phủ thực vật như sau:
Diện tích rừng tự nhiên chiếm số lượng lớn nhất trong các lớp phủ, có sự thay đổi nhưng không
lớn lắm, diện tích rừng tự nhiên giảm xuống diễn ra mạnh nhất vào giai đoạn từ năm 2001 đến năm
2004 có 619,5ha rừng tự nhiên chuyển sang các trạng thái khác. Trái ngược với giai đoạn từ năm
1989 đến năm 2001, diện tích rừng tự nhiên được phục hồi tăng lên đến 1.155,01ha, do trong giai
đoạn này với chính sách tái định canh định cư cho người dân tộc thiểu số sống trong rừng của nhà
nước, huyện Nam Đông đã di dời các hộ dân sống trong rừng về định canh định cư trong các thôn.
Giai đoạn từ năm 2004 đến 2007, diện tích rừng tự nhiên mất đi cũng tương đối ít hơn so với giai
đoạn từ năm 2001 đến 2004.
Bên cạnh đó, diện tích rừng phục hồi vẫn bị suy thoái, giảm xuống trong giai đoạn từ năm 1989
Diện tích
(ha)
% Diện
tích
(ha)
% Diện tích
(ha)
%
6
200 m 2.813,774 154,38 5,49 229,77 8,17 384,14 13,65
400 m 5.091,723 196,89 3,87 387,75 7,62 584,64 11,48
Giai
đoạn
1989-
2001
600 m 7.072,378 216,54 3,06 513,50 7,26 730,04 10,32
200 m 2.813,774 484,49 17,22 80,52 2,86 565,01 20,08
400 m 5.091,723 846,30 16,62 97,83 1,92 944,13 18,54
Giai
đoạn
2001-
2004
600 m 7.072,378 1147,45 16,22 103,06 1,46 1250,51 17,68
200 m 2.813,774 242,08 8,60 341,64 12,14 583,72 20,74
400 m 5.091,723 400,26 7,86 574,67 11,29 974,93 19,15
Giai
đoạn
2004-
với giai đoạn năm 2001 - 2004. Rừng trong giai đoạn này phục hồi theo chiều hướng đi lên mạnh hơn
so với các giai đoạn khác.
Qua xem xét khả năng tiếp cận rừng ở các giai đoạn nêu trên, chúng tôi nhận thấy: Khả năng
tiếp cận rừng từ sông suối với các khoảng cách càng gần sông suối thì diện tích rừng bị mất tăng lên
và khoảng cách càng xa sông suối khả năng rừng phục hồi tăng lên
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu, phân tích sự thay đổi lớp phủ thực vật rừng ở khu vực diện tích mới mở rộng
của Vườn quốc gia Bạch Mã tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi có một số kết luận
như sau:
- Phương pháp viễn thám kết hợp với hệ thống thông tin địa lý (GIS) cho phép đánh giá sự
thay đổi lớp phủ thực vật rừng ở những vùng núi cao, địa hình chia cắt bởi nhiều sông suối như có
khả năng xác định nhanh diện tích lớp phủ, giám sát, đánh giá thay đổi diện tích rừng trên phạm vi lớn
và lập báo cáo nhanh về biến động diện tích lớp phủ thảm thực vật rừng.
- Diện tích rừng tự nhiên trong khu vực nghiên cứu chiếm một tỉ lệ lớn nhất trong các lớp phủ,
chỉ có năm 1989 diện tích rừng tự nhiên có tỉ lệ thấp nhất là 70,06% so với tổng diện tích khu vực
nghiên cứu. Biến động các lớp phủ diễn ra mạnh nhất ở giai đoạn 2001 - 2004, có 619,5ha rừng tự
nhiên và 872,1ha rừng phục hồi bị mất đi chuyển sang diện tích đất trống 1.491,6ha. Biến động cuối
giai đoạn (năm 2004 - 2007) có xu hướng giảm xuống do giai đoạn này người dân thực sự tham gia
7
trồng rừng do thị trường tiêu thụ gỗ các loại cây keo và cao su tăng lên thu hút một lực lượng lao
động tham gia làm nghề rừng.
Xu hướng biến động của các lớp phủ thảm thực vật rừng diễn ra theo hai nhóm chính:
+ Nhóm mất rừng do những tác động cận biên làm thay đổi diện tích rừng và đất rừng: chuyển
từ rừng tự nhiên và rừng phục hồi sang đất trống
+ Nhóm làm suy giảm chất lượng rừng: chuyển từ diện tích rừng tự nhiên sang trạng thái phục
hồi.
Qua phân tích thay đổi lớp phủ thực vật rừng giai đoạn năm 1989 -2001, 2001 -2004 và giai
Bach Ma National Park, Thua Thien-Hue
SUMMARY
Forest vegetation cover plays an important role in regulating water resources, flood reduction, drought
and erosion control. In addition, it plays an important role in special-use forest through conservation of
ecological standard forms, and rare and valuable fauna and flora. Changes in forest vegetation cover
can be one reason for the loss of these values through either human or natural impacts. Geographic
Information System (GIS) and Remote Sensing technology was applied to monitor and evaluate
changes to forest vegetation cover in the new extended area of Bach Ma National Park at Nam Dong
district, Thua Thien Hue province in 1989, 2001, 2004 and 2007. Use of this technology helped the
Bach Ma National Park Management Board to gain information on vegetation changes in the new
extended area and will form a key contribution to developing a solution to conserving this area of
forest.
Keywords: Forest vegetation cover, Bach Ma