BÁO CÁO KHOA HỌC: "BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG CỦA HỆ THỰC VẬT KHU VỰC ĐẠI Ả - ĐẠI CÁO - CỔ KHU THUỘC VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG" pot - Pdf 19

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG CỦA HỆ
THỰC VẬT KHU VỰC ĐẠI Ả - ĐẠI CÁO - CỔ KHU
THUỘC VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ
BÀNG

Trương Ngọc Kiểm
Khoa Sinh học, ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, Phong
Nha - Kẻ Bàng là một đơn vị địa lý sinh vât có ý nghĩa vô
cùng quan trọng đối với sự sống còn của cộng đồng trong
sự nghiệp bảo vệ rừng đầu nguồn, đa dạng sinh học và bảo
vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên trong thực tế nguồn tài
nguyên rừng ở đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép dân
sinh, kinh tế của dân cư quanh vùng. Chính vì vậy, công tác
bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ vốn gen quí cũng như
các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác ở đây cần phải được
chú ý hơn bao giờ hết. Để góp phần làm cơ sở cho công tác
bảo tồn và sử dụng, khai thác hợp lí nguồn tài nguyên thực
vật, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Bước đầu khảo sát tính
đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch khu vực Đại Ả - Đại
Cáo - Cổ Khu thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
(khu hệ nghiên cứu)”.

NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Trên cơ sở các mẫu thực vật đã được thu ở địa điểm
nghiên cứu, chúng tôi đã phân loại, xác định tên khoa học
theo phương pháp phân loại truyền thống và lập bảng danh

nghiên cứu không lớn nhưng trong phạm vi giới hạn diện
tích của khu vực này thì hệ thực vật khu vực Đại Ả - Đại
Cáo và Cổ Khu là khá phong phú và đa dạng. Khi phân tích
các chỉ số chi, họ của ngành Ngọc Lan trong khu hệ thực
vật nghiên cứu, chúng tôi tính được kết quả như sau:

- Chỉ số họ là 3,43 có nghĩa là trung bình mỗi họ có 3,43
loài.

- Chỉ số chi là 1,48 có nghĩa là trung bình mỗi chi có 1,48
loài.

- Trung bình mỗi họ có 2,32 chi.

Với quy mô diện tích nhỏ và điều kiện thực tế tại khu vực
đã bắt đầu chịu sự tác động ít nhiều của con người thì các
chỉ số này chứng tỏ tính đa dạng trong thành phần loài của
khu hệ thực vật đang nghiên cứu. Các họ thực vật hạt kín
giầu loài nhất là Rubiaceae, Euphorbiaceae, Moraceae,
Orchidaceae, Poaceae, Urticaceae, Araceae, Asteraceae,
Cyperaceae, Lauraceae, Verbenaceae Trong đó 10 họ đa
dạng nhất nhất chiếm tới 140 loài tức là 42,04% tổng số
loài của khu hệ. Chúng ta có thể nhận thấy rằng trong danh
sách các họ giầu loài của khu hệ này thiếu một số họ giầu
loài của Việt Nam như Acanthaceae, Lamiaceae,
Apocynaceae Điều này chứng tỏ khu hệ thực vật ở đây
tuy phong phú nhưng vẫn có nét khác biệt so với tính đa
dạng chung của hệ thực vật Việt Nam. Các chi đa dạng
nhất có thể kể đến là Lasianthus, Ficus, Phyllanthus,
Begonia, Cinnamomum, Cyperus, Trichosanthes,

loài trên 333 loài chiếm 72.37% tổng số loài của khu hệ,
trong đó có 108 loài đa công dụng và 133 loài đơn công
dụng Kết quả phân tích giá trị sử dụng của các loài thực
vật trong khu vực nghiên cứu được thống kê kết quả trong
bảng sau:
Nhìn vào bảng trên, chúng ta có thể nhận thấy giá trị sử
dụng của các loài thực vật ở đây rất đa dạng từ làm thuốc,
làm thức ăn đến dùng trong sản xuất công nghiệp, dùng
trong sản xuất nông nghiệp, từ làm cây cảnh đến lấy gỗ
Chứng tỏ khu hệ có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng và
chúng có ý nghĩa to lớn trong phát triển kinh tế và xã hội
của khu vực. Trong số đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là giá trị
làm thuốc với 174 loài chiếm 41,83% tổng số loài cây có
ích, tiếp đến là giá trị làm thực phẩm với 82 loài chiếm
19,71% tổng số loài cây có ích, tiếp theo là cây làm cảnh
với 43 loài chiếm 10,33% tổng số loài cây có ích.

Ngoài ra còn có các giá trị khác như lấy tinh dầu, tanin,
phục vụ sản xuất công nghiệp như dùng sản xuất thuốc
nhuộm, sản xuất giấy, công nghiệp dệt, lấy sợi Bên cạnh
đó còn có 34 loài để lấy gỗ chiếm 8,17% tổng số loài cây
có ích trong đó có những cây gỗ quí như Chò Kiền kiền,
Quế, Re xanh, Re trứng, Bời lời Tuy số lượng các cây gỗ
lớn không nhiều nhưng điều kiện tự nhiên vẫn thuận lợi cho
sự phát triển của chúng. Vì vậy nhiệm vụ trước mắt là phải
bảo vệ các loài này và trong tương lai có thể đầu tư phục
hồi và phát triển các cây gỗ lớn. Ngoài ra nhìn vào bảng

tích nguồn gen thực vật ở khu nghiêm ngặt của VQG Pù
Mát - Con Cuông - Nghệ An, TC Di truyền học và ứng
dụng, số 1, 30 - 36.
4. Đỗ Tất Lợi, 1999. Những cây thuốc và vị thuốc Việt
Nam. Nxb KHKT Hà Nội.
5. Võ Văn Chi, 1997. Từ điển cây thuốc Việt Nam. Nxb Y
Học. Tp. Hồ Chí Minh.
6. Võ Văn Chi - Trần Hợp, 1999 - 2001. Cây cỏ có ích ở
Việt Nam (2 tập). Nxb Giáo dục. Hà Nội.
7. Nhiều tác giả, Danh lục hệ thực vật Việt Nam, 2001-
2003, tập I và tập II, Nxb KHKT,
8. Aubréville A, et al, 1960 - 1997. Flore du Cambodge, du
Laos et du Vietnam, 1 - 29 fascicules Museum National d'
Histoire Naturelle, Paris.
9. Brummitt R.K., 1992. Vascular Plant Families and
Genera. Kew. Royal Botanic Gardens.
10. Lecomte, H. et Humbert, et al., 1907 - 1952. Flore
générale de l'Indo-chine. (I - VII) et suppléments. Masson
et Cie,
Editeurs, Paris.

SUMMARY

Preliminary assessement of diversity of flora at Dai A -
Dai Cao - Co Khu areas
(Phong Nha – Ke Bang national park)
The Flora of Dai A - Dai Cao - Co Khu (Phong Nha - Ke
Bang national park) consists of 4 vascular plant divisions:
Lycopodiophyta, Polypodiophyta, Pinophyta and
Magnoliophyta with total of 97 families, 225 genera and


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status