Nghiên cứu tính đa dạng và tình trạng bảo tồn các loài thú gậm nhấm (Rodentia) ở vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình - Pdf 19



VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT NGUYỄN XUÂN NGHĨA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ TÌNH TRẠNG
BẢO TỒN CÁC LOÀI THÚ GẬM NHẤM (RODENTIA) Ở
VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành : Động vật học
Mã số: 60 42 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ĐÌNH THỐNG
HÀ NỘI- 2013
i

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 KHÁI QUÁT VỀ BỘ GẬM NHẤM 3
1.1.1 Cấu trúc thành phần loài ……………………………………………… 3
1.1.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái thú gậm nhấm …………………………….3

thú gậm nhấm ở một số khu bảo tồn khác 40
3.2 QUAN HỆ ĐỊA ĐỘNG VẬT CỦA KHU HỆ THÚ GẬM NHẤM VQG
PNKB VỚI CÁC KHU HỆ LÂN CẬN 42
3.3 GIÁ TRỊ BẢO TỒN CỦA KHU HỆ THÚ GẬM NHẤM VQG PHONG
NHA - KẺ BÀNG 45
3.4 THÔNG TIN VỀ CÁC LOÀI GẬM NHÂM ƯU TIÊN BẢO TỒN Ở VQG
PHONG NHA - KẺ BÀNG 49
3.5 CÁC ĐE DỌA ĐẾN KHU HỆ GẬM NHẤM, SINH CẢNH Ở VQG
PHONG NHA - KẺ BÀNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ,
BẢO TỒN 55
3.5.1 Các đe dọa đến thú gậm nhấm và sinh cảnh ……………………………55
3.5.2. Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học thú gậm nhấm ở
VQG PNKN …………………………………………………………………. 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………………………………………… …. 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………… … 60
PHỤ LỤC …………………………………………………………… …….66

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1. Các loài thú gậm nhấm bị đe dọa tuyệt chủng có ở Việt Nam …….7
Bảng 2. Các đợt khảo sát thực địa đã thực hiện tại vùng nghiên cứu ……… 22
Bảng 3. Danh sách các loài thú gậm nhấm đã ghi nhận ở VQG Phong
Nha - Kẻ Bàng đến năm 2012 32
Bảng 4. So sánh thành phần loài gậm nhấm ở VQG PNKN với khu hệ
gậm nhấm toàn Việt Nam và ở một số khu bảo tồn khác 35
Bảng 5. Tần suất bắt gặp các loài sóc bay ở VQG PN-KB (8/2011) 38
Bảng 6. Tỷ lệ phần trăm số mẫu và hiệu quả bẫy bắt của một số loài gậm
nhấm ở 3 khu vực khảo sát (Ma Rính, Hang Én, Hung Dạng) thuộcVQG

aenigmamus) được thu ở xã Thượng Hóa ………………………………… 52
Hình 7. Sóc bay lông chân quan sát ở khu vực Ma Rính 53
Hình 8. Sóc bay trâu chụp tại VQG PNKB tháng 9/2011 54

v

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ĐDSH: Đa dạng sinh học
HST: Hệ sinh thái
FFI: Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật Quốc tế
IUCN: Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế
KBTTN: Khu bảo tồn thiên nhiên
PNKB: Phong Nha – Kẻ Bàng
ST&TNSV: Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
VQG: Vườn quốc gia
VRTC: Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga
WWF: Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Động vật hoang dã

2

gậm nhấm (các loài sóc cây, sóc bay, nhím, đon, dúi, nhiều loài chuột rừng, )
luôn là đối tượng khai thác sử dụng của người dân địa phương. Sự khai thác
không hợp lý, cùng với sự mất rừng, suy thoái sinh cảnh đã làm nhiều loài
gậm nhấm bị suy giảm, một số loài có nguy cơ tuyệt chủng nếu không có biện
pháp bảo vệ kịp thời. Ở Việt Nam, có 8 loài gậm nhấm đã được ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam (2007) để có giải pháp bảo tồn.
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (VQG PNKB) được thành lập
năm 2001 theo Quyết định số 189/TTg của Thủ tướng Chính phủ với diện tích
85.755 ha. Hiện nay, Vườn đã được mở rộng lên 123.326 ha theo Quyết định
số 1062/QĐ-TTg ngày 05/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ, trở thành Vườn
quốc gia lớn nhất Việt Nam. VQG PNKB được bao phủ chủ yếu bởi hệ sinh
thái rừng trên núi đá vôi và rừng lá rộng thường xanh trên núi đất trong các
thung lũng. Đây là những hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) rất
cao. Đã có nhiều nghiên cứu về động vật hoang dã ở VQG PNKB, nhưng khu
hệ thú Gậm nhấm ở đây còn ít được nghiên cứu và chưa có các giải pháp bảo
tồn đặc thù cho các loài bị đe dọa. Vì vậy, chúng tôi chọn thực hiện đề tài
"Nghiên cứu tính đa dạng loài và tình trạng bảo tồn của các loài Gậm
nhấm (Rodentia) ở Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng
Bình" nhằm đánh giá đầy đủ hơn về tính đa dạng loài, bổ sung tư liệu về một
số đặc điểm sinh học sinh thái và tìm ra các giải pháp quản lý bảo tồn phù hợp
cho của khu hệ Gậm nhấm ở VQG PNKB

3

Chương 1

tiêu giảm), chân sau có 3-5 ngón. Sọ có phần mặt thường ngắn hơn phần não.
Xương gò má hình cánh cung, tạo thành cung gò má và là đặc điểm phân loại
của các họ. Bộ não hình chóp, hẹp và nhẵn, có thuỳ khứu giác lớn. Bộ răng rất
đặc trưng: ở mỗi hàm chỉ có một đôi răng cửa lớn, dài và cong. Răng nanh và
một số răng trước hàm bị thiếu, tạo nên khoảng trống giữa răng cửa và răng
hàm. Khi đào đất hoặc gặm gỗ, da 2 bên má hóp sâu vào khoảng trống này,
ngăn không cho các mãnh vụn lọt vào trong cổ họng. Răng cửa lớn và sắc
giúp con vật cắt cành cây, gặm vỏ cây hay hạt tốt hơn. Răng cửa không có
chân và mọc liên tục. Do vậy, nếu con vật không có điều kiện để gặm cho
mòn răng thì răng sẽ rất dài và gây thương tích cho nó. Răng hàm có mặt nhai
rộng và có những nếp men ngang thấp (kiểu răng mào) để nghiền thức ăn
cứng. Tổng số răng không quá 25 chiếc (i1/1.c0/0.pm0-2/0-2.m3/3 x 2 = 16-
22), trừ giống Heliophobius ở Châu Phi có 28 răng.
Đa số các loài gậm nhấm sống ở mặt đất và đào hang. Tuy nhiên, có
nhiều loài sống trên cây (các loài sóc cây - Calosciurinae và các loài sóc bay -
Sciurinae); một số loài sống nửa nước nửa cạn (hải ly - Castor sp., ). Không
có loài nào có thể bay thực sự, nhưng có một số loài có thể lượn chuyền cành
như các loài sóc bay (Sciurinae). Đa số các loài ăn tạp, thức ăn gồm thực vật,
rêu, côn trùng và động vật khác; một số loài chuyên ăn thực vật. Gậm nhấm
có ống tiêu hoá dài, manh tràng đơn giản, thiếu nếp xoắn. Dạ dày đơn hay
phức tạp tương tự dạ dày thú nhai lại. Tinh hoàn nằm trong xoang bụng, chỉ
xuống bìu trong thời kỳ sinh sản; dương vật có sụn ngọc hành. Tử cung chẻ
đôi, nhau đĩa. Những loài gậm nhấm thường mắn đẻ, thời gian mang thai 20-
5

22 ngày; mỗi năm đẻ 2-4 lứa với tổng số từ 5-15 con, mỗi năm có đẻ 2-4 lứa,
đa số đẻ con non yếu.
Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả (Marshall 1977; Musser 1973;
Musser et Newcom 1983; Sokolov 1990; Sokolov et al. 1991; Sokolov et al.
1998; Kuznetsov 2006) cho thấy có thể chia thú gậm nhấm thành 2 nhóm sinh

các sinh cảnh rừng. Các loài Chuột nhắt nương (Mus pahari), Chuột mốc bé
(Berylmys bowersi), Chuột choắt tai đỏ (Micromys mimutus) có khuynh
hướng thích các sinh cảnh savan và các khoảng rừng đã bị con người khai
thác. Loài Sóc vằn lưng (Menetes berdmorei) là cư dân thông thường của các
kiểu sinh cảnh rừng, chúng cũng đến các khu dân cư và có thể sống ở sinh
cảnh bị con người tác động quấy nhiễu.
Nghiên cứu của Kuznetsov (2006) cho thấy Chuột xuri (Maxomys
surifer) là loài chỉ thị rõ ràng nhất cho sự biển đổi sinh cảnh rừng. Ở các sinh
cảnh rừng nhiệt đới ẩm, loài này có mật độ cao nhất trong các khu rừng bị
khai thác ở mức 15-20%, thấp hơn ở các khu rừng nguyên sinh chưa bị tác
động.
Nghiên của Sokolov và cộng sự (1991, 1997) ở rừng Kon Hà Nừng
(huyện K'Bang, tỉnh Gia Lai) cho thấy các hệ sinh thái rừng nguyên sinh có
mật độ các loài gậm nhấm không lớn, nhưng chứa các loài đặc trưng như:
Chuột xuri (Maxomys surifer), Chuột núi đuôi dài (Leopoldamys sabanus) và
Chuột hươu lớn (Leopoldamys edwardsi). Sự tác động đến rừng ở mức độ
thấp sẽ làm gia tăng số lượng loài gậm nhấm và trữ lượng của chúng nhờ xuất
hiện thêm các cá thể của các loài liên quan đến sinh cảnh dạng savan. Khi
mức độ tác động quá mạnh sẽ dẫn đến sự suy giảm thành phần loài trong hệ
sinh thái do mất đi các loài đặc trưng nêu trên của rừng nhiệt đới.
7

1.1.3 Tình trạng bảo tồn của thú gậm nhấm
Do tình trạng săn bắt quá mức các loài có giá trị kinh tế, cũng như tình
trạng mất hoặc suy thoái chất lượng sinh cảnh (nhất là các sinh cảnh rừng),
nhiều loài gậm nhấm đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Thuộc khu hệ
Gậm nhấm Việt Nam, có 8 loài đã đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 7
loài đã đưa vào Danh lục Đỏ của IUCN (2013) với 1 loài Sẽ nguy cấp (VU),
2 loài Gần bị đe dọa (NT) và 3 loài hiếm nhưng còn thiếu số liệu (DD) để xếp
hạng (Bảng 1).

Sóc đuôi ngựa Sundasciurus hippurus NT
4.Sóc sọc hông
bụng xám
Callosciurus
nigrovittatus
NT
5.Sóc bay lông tay

Belomys pearsonii CR DD
6.Sóc bay đen
trắng
Hylopetes alboniger VU IIB
7.Sóc bay côn đảo Hylopetes lepidus VU IIB DD
8.Sóc bay xám Hylopetes phayrei VU IIB
9.

Ngay từ Thế kỷ 19, các cuộc điều tra động vật nói chung các loài gậm nhấm
nói riêng đã được tiến hành và chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện
như: Milne-Edwards (1867-1874), Morice (1875), Billiet (1896-1898), Boutan
(1990-1904), De Pousargues (1904), Menegaux (1905-1906), Bourret (1927, 1942,
1944), Thomas (1925, 1927, 1928), Delacour (1925-1940), Souchard (1933),
Osgood (1932), Năm 1875, Morice đã công bố 3 loài chuột, 7 loài sóc và 1
loài nhím ghi nhận ở Nam Bộ. Năm 1904, De Pousargeus công bố 28 loài
Gậm nhấm thu được Đông Dương. Trong các năm 1918 – 1923, Robinson,
Kloss và Smith nghiên cứu ở Côn Đảo và Cao nguyên Lang Bian (Bi Đúp) đã
phát hiện thêm một số taxon mới: Sóc đen trắng (Ratufa bicolor smithii), Sóc
đen côn đảo (Ratufa bicolor condorensis), Chuột langbian (Rattus
cremoriventer langbianis) và chuột xuri (Rattus surifer). Vào các năm 1927 -
1929, Thomas lần lượt công bố danh sách 29 loài gậm nhấm ở Việt Nam.
Năm 1932, Osgood công bố 53 loài và phân loài Gậm nhấm ở Việt Nam. Đây
là Danh sách đầy đủ nhất về khu hệ thú gậm nhấm Việt Nam ở giai đoạn này.
Cuộc Chiến tranh thế giới thứ 2 (1939-1945) và Cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong các năm 1945-
1954 đã gián đoạn việc nghiên cứu động vật nói chung, thú gặm nhấm nói
riêng ở Việt Nam.
9

1.2.2 Giai đoạn 1954 - 1975
Sau ngày hoà bình lặp lại (1954), hoạt động nghiên cứu khu hệ thú ở
nước ta được đẩy mạnh và hoàn toàn do các nhà khoa học Việt Nam thực
hiện. Nghiên cứu thú ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn này được thực
hiện chủ yếu bởi các cơ quan như: Ban Sinh vật - địa học thuộc Ủy ban Khoa
học và Kỹ thuật Nhà nước, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp,
Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Vệ sinh, Dịch tễ, Đặc biệt, trong thời gian
này có Đoàn nghiên cứu liên hợp động vật – ký sinh trùng do Ủy ban Khoa
học và Kỹ thuật Nhà nước chủ trì với sự tham gia của nhiều cơ quan nghiên

nhấm ở Việt Nam" đã thống kê 64 loài gậm nhấm, thuộc 23 giống, 7 họ và
lần đầu tiên mô tả 5 phân loài mới cho khoa học và 7 loài ghi nhận mới cho
Việt Nam. Công trình này cũng cung cấp nhiều tư liệu quan trọng về sinh học,
sinh thái các loài gậm nhấm Việt Nam.
Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1994) trong công trình “Danh lục các
loài thú (Mammalia) Việt Nam” đã thống kê ở Việt Nam có 66 loài gậm nhấm
thuộc 7 họ và 21 giống.
Lê Vũ Khôi (2000) trong công trình "Danh lục các loài thú Việt Nam"
thống kê 67 loài gậm nhấm thuộc 7 họ và 22 giống.
Kuznhetsov (2006) - nhà khoa học người Nga nghiên cứu thú lâu năm
ở Việt Nam, trong công trình “Thú Việt Nam” (tiếng Nga) đã mô tả 74 loài
gậm nhấm thuộc 6 họ và 27 giống ghi nhận ở Việt Nam, đồng thời cung cấp
nhiều tư liệu khoa học quan trọng về sinh học, sinh thái của các loài gậm
nhấm. Tuy nhiên, một số loài trong danh lục của ông hiện nay đã bị thay đổi
vị trí phân loại.
11

Cao Văn Sung và Nguyễn Minh Tâm trong công trình “Động vật chí
Việt Nam, tập 25" (Đặng Huy Huỳnh và cs. 2008) mô tả đặc điểm phân loại
và sinh học sinh thái của 66 loài gậm nhấm thuộc 7 họ và 22 giống ghi nhận ở
Việt Nam.
Trong mười năm gần đây, do kỹ thuật phân tích di truyền phân tử phát
triển đã cho phép kiểm tra lại vị trí phân loại của nhiều taxon. Nhiều loài theo
hệ thống phân loại trước đây, hiện nay được chứng minh chỉ cùng một loài,
ngược lại, nhiều phân loài được nâng lên thành loài độc lập. Do vậy, vị trí
phân loại và số loài gậm nhấm có nhiều thay đổi so với trước đây.
Đặng Ngọc Cần và cộng sự (2008) trong công trình "Danh lục các loài
thú hoang dã Việt Nam" và Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh (2009) trong
công trình "Phân loại học lớp Thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang
dã Việt Nam" đã cập nhật vị trí phân loại của các loài thú hoang dã ở Việt

Văn Sung (trong Đặng Huy Huỳnh và cs. 2008) xem là loài độc lập,
nhưng Musser (1993); Lunde và cộng sự (Lunde et al. 2001) cho rằng
chỉ là đồng danh của loài Chuột hươu bé (Niviventer fulvescens).
- Musser (1981), Musser và cộng sự (1993) và Lunde và cộng sự (2001)
cho rằng loài chuột bụng trắng (Niviventer niviventer) không có ở Việt
Nam, ở Việt Nam chỉ có chuột hươu bé (Niviventer fulvescens). Tuy
nhiên, Nguyễn Minh Tâm và Cao Văn Sung (trong Đặng Huy Huynh
và cộng sự 2008) và Balakirev (2009) vẫn cho rằng ở Việt Nam có cả
2 loài N. fulvescens và N. niviventer.
- Musser (1973) cho rằng loài Chuột bụng kem (Niviventer
cremoriventer) không có ở Việt Nam và phân loài langbianis của loài
này được ông tách thành loài độc lập - Chuột langbian (N. langbianis).
13

1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÚ GẬM NHẤM Ở VQG PHONG
NHA - KẺ BÀNG
Khu hệ thú gậm nhấm ở VQG PNKB còn ít được nghiên cứu. Thực tế,
trước nghiên cứu của chúng tôi, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về thú
gậm nhấm ở VQG PNKB. Các ghi nhận về thú gậm nhấm ở đây đều được
thực hiện kết hợp trong các chương trình điều tra đánh giá đa dạng sinh học
phục vụ công tác bảo tồn, trong đó, nhóm thú gậm nhấm thường ít được chú ý
so với các nhóm thú khác.
Điều tra nghiên cứu đa dạng sinh học thú ở VQG PNKB chủ yếu do
các nhà khoa học Việt Nam thực hiện (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,
Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, Đại học Lâm Nghiệp và Đại học Quốc gia Hà
Nội). Ngoài ra, còn có một số nhà khoa học nước ngoài tham gia trong các dự
án bảo tồn của các tổ chức quốc tế như: Quỹ quốc tế về Bảo về Động vật
hoang dã - WWF (Dự án RAS 93/102), Tổ chức Bảo tồn Động thực vật Quốc
tế - FFI (Dự án 1998-1999), Tổ chức Birdlife Quốc tế tại Việt Nam, Trung
tâm Nhiệt đới Việt Nga (VRTC, 1999). Các công trình chính công bồ về thú

thực hiện.
1.5 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ
KHU VỰC VQG PHONG NHA - KẺ BÀNG
Dựa vào số liệu trong "Kế hoạch quản lý hoạt động giai đoạn 2013-
2020 của VQG PNKB - Di sản thiên nhiên thế giới" có thể khái quát các đặc
trưng về điều kiện tự nhiên và dân sinh kinh tế của VQG PNKB như sau.
15

1.5.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí và diện tích
VQG PNKB nằm ở phía Tây của Quảng Bình, giáp với biên giới Việt-
Lào, thuộc địa phận 2 huyện Bố Trạch và Minh Hóa, toạ độ địa lý: 17
o
44.671'
vĩ độ Bắc; 105
o
49.321' kinh độ Đông đến 17
o
22.334' vĩ độ Bắc; 106
o
04.555'
kinh độ Đông và 17
o
27.002' vĩ độ Bắc; 106
o
23.350' kinh độ Đông đến
17
o
40.522' vĩ độ Bắc; 105
o

tháng 12 đến tháng 2 năm sau, với nhiệt độ thấp nhất là 18
o
C. Các tháng nóng
nhất trong năm là tháng 6, tháng 7 và tháng 8; nhiệt độ thấp nhất trong các
tháng này là 28
o
C. Biên độ nhiệt trong ngày khoảng 10
o
C vào mùa hè và 8
o
C
vào mùa đông.
Lượng mưa bình quân năm là 2.000 – 2.500 mm/năm; ở vùng núi cao
tới 3.000 mm/năm. Lượng mưa lớn nhất vào các tháng 9, 10, 11. Độ ẩm
không khí trung bình là 84 %. Từ tháng 5 đến tháng 8, thịnh hành gió Tây
Nam, còn gọi là gió Lào rất khô và nóng.
d) Thảm thực vật
VQG PNKB được che phủ chủ yếu bởi rừng tự nhiên. Toàn bộ khu vực
núi đá vôi của VQG đều có rừng bao phủ, ngoại trừ bề mặt các vách đá dốc
đứng. Kiểu rừng phổ biến nhất là rừng trên núi đá vôi. Ngoài ra còn có rừng
lá rộng thường xanh trên núi đất và trên các đồi đất trong thung lũng xen giữa
các núi đá vôi. VQG PNKB có các kiểu sinh cảnh điển hình sau (Hình 1):
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng trên núi
đá vôi trên 700 m svmb.
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng trên núi
đất trên 700 m svmb.
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi đất dưới 700 m svmb.
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi đá vôi dưới 700 m svmb.
- Rừng thứ sinh nhân tác vùng thấp
- Cây bụi, cây gỗ rãi rác trên núi đá vôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status