MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Chúng ta đều biết du lịch được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói,
một ngành kinh tế phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Cuộc sống con người ngày
càng phát triển, nhu cầu được hưởng các dịch vụ du lịch ngày càng tăng lên, vì vậy du
lịch đã và đang là một ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao và thân thiện với môi
trường. Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước xác định “du lịch là một ngành kinh tế
tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và
xã hội hóa cao” [1] và đề ra mục tiêu “phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành
kinh tế mũi nhọn” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lân thứ I, 2001) và “phát triển
du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế-xã hội
nhằm góp phần thực hiện công nghiệ hóa, hiện đại hóa đất nước” [2]. Quảng Bình là
một tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú, đặc biệt có Vườn Quốc gia Phong Nha –
Kẻ Bàng là một địa điểm được rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước tới tham
quan. Trong chương trình phát triển du lịch của tỉnh đã định hướng “Phát triển nhanh
du lịch thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Tăng cường đầu tư phát triển du lịch,
mở thêm các tour du lịch trong và ngoài nước. Coi trọng công tác đào tạo bồi dưỡng
nghiệp vụ du lịch, nâng cao chất lượng phục vụ du lịch, tăng cường giữ gìn trật tự,
bảo vệ môi trường sinh thái…Trong những năm qua lượng du khách đến với Phong
Nha – Kẻ Bàng là khá lớn. Đặc biệt kể từ khi Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới, lượng du khách đến Quảng
Bình tăng đột biến; nhiều dự án đầu tư phát triển du lịch được triển khai xây dựng.
Lợi ích thu được là rất lớn và đáng khích lệ. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều
khiếm khuyết cần được khắc phục sớm. Đó là cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu,
lượng khách du lịch chưa cao, chiến lược phát triển chưa có tầm nhìn xa…
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài “ Phát triển du lịch bền vững
ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng” làm nội dung nghiên cứu cho báo cáo thực
tập của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục đích đề tài của chúng tôi nhằm làm rõ vai trò, ý nghĩa và thực trạng phát
triển du lịch ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng. Trên cơ sở lí luận và thực tiễn đó báo cáo
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét và phân tích
vấn đề một cách khoa học, khách quan.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp điều tra chọn mẫu
5. Ý nghĩa của đề tài.
- Đề tài này đã đánh giá được thực trạng phát triển du lịch ở Phong Nha – Kẻ
Bàng.
- Qua quá trình nghiên cứu, đề tài thấy được những ưu điểm cần phát huy cũng
như những tồn tại còn mắc phải trong quá trình phát triển du lịch ở Phong Nha – Kẻ
Bàng.
- Làm cơ sở cho địa phương nghiên cứu và vận dụng đưa ra giải pháp để phát triển
du lịch bền vững trên địa bàn Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nói riêng và của tỉnh
nói chung.
- Ngoài ra đề tài còn là một nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
nghiên cứu vấn đề này.
6. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài
gồm ba chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phát triển du lịch bền vững.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở VQG Phong Nha - Kẻ
Bàng trong thời gian từ 2007 đến nay.
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững tại VQG Phong
Nha– Kẻ Bàng.
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phát triển du lịch bền vững.
1.1. Các khái niệm về du lịch bền bững.
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững.
và với chất lượng cao hơn và các loại hình du lịch phải phong phú hơn do mức sống
của con người nói chung đang được nâng lên rất nhanh, trình độ văn hóa ngày càng
được cải thiện.
1.3 Các điều kiện để phát triển du lịch bền vững.
1.3.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch.
Tài nguyên thiên nhiên gồm vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, hệ động thực vật, đất
nước. Sự kết hợp hài hòa này sẽ làm cho khách du lịch đến đông hơn.
Tài nguyên nhân văn: tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị văn hóa tiêu
biểu cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc
khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu được những đặc
trưng về văn hóa của dân tộc, của địa phương nơi mà khách đến.
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích lịch sử, di tích lịch sử văn hóa,
phong tục tập quán, lễ hội, các món ăn, thức uống dân tộc….
Tài nguyên du lịch nhân văn có các đặc điểm sau:
+ Mang tính phổ biến bởi vì nó được hình thành trong quá trình sinh hoạt của hoạt
động sống của con người. tài nguyên của mỗi nước mỗi vùng là khác nhau, do đặc
tính sinh hoạt khác nhau.
+ Mang tính tập chung, dễ tiếp cận: với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn
thường tập trung gần với con người ở quần cư và các thành phố. Tuy nhiên chúng dễ
bị tác động có hại nếu như chúng ta không có biện pháp hợp lý.
+ Mang tính truyền đạt nhận thức hơn là tính hưởng thụ giải trí.
1.3.2 Điều kiện sẵn sàng phục vụ khách
- Tài nguyên dân cư và lao động.
Đây là một nguồn lực để phát triển du lịch, là nguồn cung cấp cho lao động cho
du lịch,là thị trường để tiêu thụ sản phẩm du lịch
- Tài nguyên cơ sở vật chất, kĩ thuật hạ tầng.
Đây là một nguồn lực, một điều kiện không thể thiếu được để phát triển du lịch
ngược lại, sẽ gây khó khăn làm chậm bước phát triển.Cơ sở vât chất- kĩ thuật, thiết bị
hạ tầng bao gồm: mạng lưới giao thông vận tải (đường hàng không, đường bộ, đường
biển…), hệ thống khách sạn, nhà hàng, cơ sở vui chơi giải trí.
vững.
1.4 Kinh nghiệm pháp triển du lịch ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở VQG
Phong Nha- Kẻ Bàng trong thời gian từ 2007 đến nay.
2.1 Tình hình phát triển du lịch bền vững trong thời gian qua ở Phong
Nha Kẻ Bàng.
Phong Nha- Kẻ Bàng đang trở thành điểm đến lý tưởng của du khách trong và
ngoài nước, hai lần được thế giới công nhận là di sản thế giới (1999 và 2003). Du lịch
đang trở mình trên con đường phát triển và nhận được sự quan tâm của cả nước cũng
như tại địa phương.
Du lịch là một trong những lợi thế của tỉnh, Quảng Bình đã và đang triển khai
những kế hoạch, phương hướng phát triển với các nhiệm vụ cụ thể như: tạo ra những
sản phẩm hấp dẫn khách du lịch, nâng cao chất lượng các tuyến du lịch, xây dựng, cải
tạo làm mới cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hàng hóa cho dịch vụ và xã hội, tổ chức
nghiên cứu thị trường, khai thác bảo tồn giữ gìn tái tạo tài nguyên thiên nhiên Phải
kết hợp chặt chẽ giữa du lịch và cá nhân có liên quan để du lịch Phong Nha – Kẻ
Bàng phát triển hiệu quả.
Bảng1: Lượng khách đến tham quan PN-KB từ năm 2001 đến 2011
(năm, khách trong nước, khách quốc tế, doanh thu, tỉ lệ tăng, giảm )
STT
Năm Khách trong
nước (người)
Khách nước
ngoài (người)
Tỉ lệ khách
tăng giảm
(%)
Doanh thu
( đồng ) Ghi chú
1 2007 228.698 11.795 Giảm 7,13 9.078.597.000
Bảng 2: Thống kê lượng khách đến với suối nước Moọc
STT
Năm
Tổng lượt
khách trong
nước (người)
Tỷ lệ lượng
khách tăng
giảm (%)
Doanh thu
( đồng ) Ghi chú
01 2009 3.514 175.690.000
02 2010 6.604 Tăng 78,3% 311.080.000đ
03 2011 10.737 Tăng 62,6% 480.910.000
Nguồn:
Khách thăm viếng Đền tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Đường 20 - Quyết
Thắng năm 2011 là 36.630 lượt.
Suối nước Moọc là một trong những điểm đến lý tưởng cho du khách khi đến
tham quan khu du lịch Phong nha –Kẻ bàng. Phần đông những du khách trong nước
đều tập trung tới nơi này. Doanh thu tăng dần qua các năm. Năm 2009 doanh thu đạt
175,69 triệu, con số này đã thay đổi thành 480,91 triệu năm 2011.
2.2 Các điều kiện phát triển du lịch bền vững ở VQG Phong Nha- Kẻ
Bàng
2.2.1 Tài nguyên du lịch.
2.2.1.1 Tài nguyên sinh học.
* Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm về phía Tây-Bắc tỉnh Quảng Bình,
dọc biên giới Việt - Lào; giới hạn trong toạ độ: Từ 17
0
20' đến17
C đến 25
0
C. Do
ảnh hưởng của khối núi đá vôi rộng lớn nên nhiệt độ dao động khá lớn, cực đại vào
tháng 7 (trên 40
0
C), cực tiểu vào tháng 1 (5-7
0
C)
Thời tiết lạnh nhất trong năm vào các tháng 12,1, 2. Các tháng nóng nhất trong
năm vào các tháng 6,7,8, có nhiệt độ trung bình cao trên 28
0
C. Biên độ nhiệt có sự
chênh lệch lớn.
+ Chế độ mưa ẩm. VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nằm trong vùng có lượng mưa
lớn, bình quân từ 2000m đến 2500mm/năm. Tổng lượng mưa trong mùa mưa (từ tháng
5 đến tháng 12) rất cao, chiếm tới 88% tổng lượng mưa năm.
Các tháng mùa khô tuy có lượng mưa thấp về trị số, nhưng số ngày mưa bình
quân tháng tối thiểu là 10 ngày (mưa tiểu mãn). Lượng mưa lớn số lượng ngày mưa
nhiều và rải đều trong năm đã tạo điều kiện ẩm ướt lý tưởng cho một khu hệ rừng
nhiệt đới trên núi đá vôi điển hình có giá trị mang tính toàn cầu.
Độ ẩm không khí ở mức trung bình (83-84%). Mùa khô có độ ẩm thấp hơn
nhiều, chỉ còn ở mức 66-68%, cá biệt có ngày xuống tới 28%. Đây là những ngày gió
lào thổi mạnh, thời tiết rất khô, nóng, những ngày này có thể đe doạ cháy rừng và hoả
hoạn.
+ Chế độ thủy văn. Khu vực VQG Phong Nha – Kẻ Bàng nằm gọn trong lưu
vực của các dòng sông suối trong vùng: Rào Thương, sông Chày, sông Troóc, sông
Son đều là thượng nguồn của sông Gianh. VQG bao gồm một vùng đá vôi rộng lớn,
vì thế hiện tượng nước chảy ngầm là phổ biến.
* Tài nguyên về hang động
8 Hang Ba Sáu 140 38
9 Hang Cây Tre 160 5
10 Hang Nhà Máy 150 0
11 Hang Dơi 125 25
12 Hang La Ken I 30 0
13 Hang La Ken II 250 10
14 Hang Tôn 30 0
Tổng chiều dài 7.410
Nguồn:Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
+ Hệ thống Hang Phong Nha. Bắt nguồn từ phía Nam của khối núi đá vôi Kẻ
Bàng. Cửa chính của hệ thống hang này là hang Khe Ry và hang én nằm ở độ cao trên
mực nước biển khoảng 300m, còn độ cao tương đối là 20 mét. Các cửa hang của hệ
thống này nhìn chung đều rộng và cao ( Hang Én có hai cửa vào, trong đó cửa vào ở
phía trên có chiều cao 70m và rộng 100m). Các cửa hang này là nơi thường có các
dòng suối đổ vào và được bắt nguồn từ khu vực địa hình phát triển trên đá phi karst.
Tổng chiều dài hệ thống hang Phong Nha là 44.391 m (xem bảng 3).
Bảng 3: Thống kê chiều dài, độ sâu hệ thống hang Phong Nha
STT Tên hang Chiều dài (nằm ngang) Độ sâu (m)
1 Hang Phong Nha 7.729 83
2 Hang Tối 5.558 80
3 Hang E 736 0
4 Hang Cha Ang 667 15
5 Hang Thung 3.351 133
6 Hang én 1.645 49
7 Hang Khe Tiên 520 15
8 Hang Khery 18.902 141
9 Hang Khe Thi 35 20
10 Hang Phong Nha Khô (Tiên Sơn) 981 25
11 Hang Lạnh 3.753 114
12 Hang Cá 361 14
1.3 Rừng kín nhiệt đới chủ yếu cây lá kim trên núi
đá vôi >700m
1.049,9 1,22
2.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu
cây lá rộng trên núi đá vôi dưới 700m
45.337,3 52,87
2.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu
cây lá rộng trên núi đất
6.857,0 8,00
2.3 Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đá vôi 1.335,7 1,56
2.4 Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đất vùng thấp 1.731,0 2,02
2.5 Rừng hành lang ngập nước định kỳ 154,3 0,18
2.6 Cây bụi cây gỗ rải rác trên núi đá vôi 1.289,3 1,50
2.7 Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đất 3.829,9 4,47
2.8 Sinh cảnh trên đất khác 392,2 0,46
Tổng cộng 85.754,0 100,00
Nguồn: Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
+ Hệ thực vật. Kết quả bước đầu của các cuộc khảo sát hệ thực vật VQG
Phong Nha – Kẻ Bàng đã thống kê được 193 họ, 906 chi, 2.651 loài thực (xem bảng
5). Trong đó có 419 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam. Đặc biệt ở vùng này có 1 chi
đặc hữu đơn loài (Oligoceras) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với loài
(Oligoceras eberhardtii). Riêng họ Lan, các chuyên gia nghiên cứu đã xác định được
tên 28 loài Lan đặc hữu của Việt Nam (Averyanov và các cộng sự). Đặc biệt, ở VQG
Phong Nha - Kẻ Bàng vừa mới phát hiện một loài thực vật quý hiếm đó là loài Bách
Xanh trên núi đá vôi, bước đầu khảo sát, đánh giá cho biết trử lượng phân bố khoảng
2.400 ha [1].
Bảng 5: Thống kê hệ thực vật tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
Taxon
Họ
Chi
ban đầu, đây có thể là quần thể Vượn Ski lớn nhất Thế giới.
Bảng 7: Số loài động vật xương sống đặc hữu ở VQG PNha - Kẻ Bàng
TT Lớp Tổng số
Đặc hữu
Trường Sơn
Đặc hữu
Việt Nam
1 Thú 9 9 2
2 Chim 7 7 4
3 Bò sát 7 6 6
4 Lưỡng thể 2 2 2
5 Cá 16 16 16
Cộng 41 40 30
Nguồn: Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng -2008
Trong số các loài đã thống kê, có 91 loài đã ghi trong Sách đỏ Việt Nam
(1994), 72 loài cần được ưu tiên bảo vệ mức độ toàn cầu và đã ghi trong Sách đỏ các
loài động vật có nguy cơ bị đe doạ của IUCN, 1997 (xem bảng 8).
Bảng 8: Số lượng các loài bị đe doạ ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
TT Lớp
Số loài
quí hiếm
Nghị định
32
Danh lục đỏ
Việt Nam 2003
Danh lục đỏ
IUCN 2006
1 Thú 54 43 46 34
2 Chim 34 24 20 17
3 Bò sát 24 14 18 13
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần rất đặc sắc,
mang đậm đà sắc thái riêng của mình. Một số lễ hội và nghệ thuật đặc sắc của dân cư
vùng đệm và vùng lõi như Lễ hội đập trống) của dân tộc Macoong xã Thượng Trạch
(15.1 âm lịch, Lễ hội lấp Lỗ, Lễ hội Đâm Trâu, Lễ hội Cầu mùa, nghệ thuật Hát Bội
(Tuồng) của xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch vv…[3].
+ Giá trị lịch sử. Các di tích lịch sử tiêu biểu cho các thời kỳ bao gồm:
Thời kỳ tiền sử: VQG Phong Nha - Kẻ Bàng chứa đựng nhiều di vật khảo cổ, các
bằng chứng về về sự sinh sống của con người ở khu vực này là các Đầu Rìu thuộc thời
kỳ thời kỳ Đồ đá mới và các hiện vật tương tự đã được các nhà khoa học Pháp và Việt
Nam tìm thấy trong các hang động.
Các di tích Chăm Pa: Đầu thế kỷ 20, các nhà hám hiểm hang động và các học
giã Anh, Pháp đã đến Phong Nha và họ đã phát hiện ở đây có một số di tích Chăm và
Việt Cổ như bàn thờ Chăm, chữ Chăm khắc trên vách đá. Năm 1995, Viện khảo cổ
học Việt Nam đã có chuyến khảo sát và kết luận tại hang Bi kí động Phong Nha có
dấu tích cho thấy đây có thể là một thánh đường của người Chăm từ cuối thế kỷ X
đến đầu thế kỷ XI.
Di tích Phong trào Cần Vương: Sau khi Kinh thành Huế bị thất bại, Tôn Thất
Thuyết xuất bôn rước vua Hàm Nghi chạy lên miền núi phía Tây Quảng Bình ra chiếu
Cần Vương kêu gọi nhân dân ra sức phò vua, cứu nước. Căn cứ của vua Hàm Nghi
được đặt tại Hóa Sơn, Hóa Tiến thuộc huyện Minh Hoá.
Di tích lịch sử đường HCM: Trong chiến tranh kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, đường mòn HCM qua Quảng Bình là nơi bị đánh phá ác liệt nhất và cũng là nơi
ghi nhận những chiến công hiển hách nhất của dân tộc ta. Hệ thống di tích lịch lịch sử
đường mòn HCM đã được Bộ Văn hoá -Thông tin ra quyết định công nhận nằm trong
địa phận VQG Phong Nha - Kẻ Bàng gồm có:
- Khu di tích Xuân Sơn với bến phà Xuân Sơn, bến Phà Nguyễn Văn Trổi,
động Phong Nha.
- Di tích lịch sử đường 20 Quyết thắng với các trọng điểm đã đi vào lịch sử như
Trạ Ang, Hang 7 tầng, Hang chỉ huy, Cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La nhích.
- Đặc biệt là di tích Đền tưởng niệm TNXP tại Hang Tám Cô km 16 đường 20
Phong Nha- Kẻ Bàng.
Vấn đề ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề hết sức nhạy cảm đối với những
khu du lịch. Trong mấy năm vừa qua, việc phát triển các dịch vụ du lịch tại VQG
Phong Nha – Kẻ Bàng đã bắt đầu tạo ra những áp lực về môi trường trong khu vực,
hiện tượng ô nhiễm nhiên liệu động cơ thuyền du lịch xuống sông Son, ô nhiễm rác
thải rắn do du khách vứt chai lọ đựng đồ uống và bao bì khác có chiều hướng gia
tăng, rác thải của các cơ sở kinh doanh ăn uống và lưu trú cũng tăng dần. Tuy nhiên,
mức độ ô nhiễm chưa trầm trọng. Trong phạm vi quản lý của mình, Trung tâm Du
lịch VHST đã tổ chức tốt công tác vệ sinh môi trường, khu vực bãi đỗ xe, trên các
thuyền du lịch và trong các hang động đều có biển nội quy để nhắc nhở và nâng cao ý
thức tự giác của du khách; đồng thời, Trung tâm cũng đã bố trí một tổ công tác
chuyên thu gom và nhặt rác ngay sau khi du khách vô ý để lại
Tài nguyên môi trường rừng, cảnh quan thiên nhiên được quản lý rất tốt. Do
hiện nay các sản phẩm loại hình du lịch khác trong VQG Phong Nha – Kẻ Bàng chưa
được đầu tư khai thác nên cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học hầu như chưa bị
tác động xấu. VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (trực tiếp là Hạt kiểm lâm, đơn vị trực
thuộc VQG) cũng đã phối hợp tốt với chính quyền địa phương và các ban ngành liên
quan thường xuyên triển khai công tác tuần tra canh gác, kiểm soát chặt chẽ các hiện
tượng khai thác, buôn bán và vận chuyển trái phép lâm sản. Vì vậy, số lượng các vụ
vi phạm lâm luật giảm nhiều, giá trị đa dạng sinh học và tài nguyên rừng của VQG
ngày càng được khôi phục. Hiện tượng các nhà hàng buôn bán, tàng trữ động vật
hoang giã làm đặc sản phục vụ khách du lịch hầu như không xảy ra.
2.4 Tình hình khai thác tài nguyên vào phát triển du lịch.
*Về khai thác tài nguyên hang động
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch bền
vững. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, tại VQG phong Nha – Kẻ Bàng chỉ mới đầu
tư khai thác du lịch hang động, trong tổng số gần 50 hang động đã phát hiện và khảo
sát, mới chỉ đầu tư đưa vào khai thác du lịch hai hang động đó là động Phong Nha (đưa
vào khai thác năm 1995) và động Tiên Sơn (nằm ngay trên động Phong Nha, cách
120m, đưa vào khai thác năm 2001). Từ khi đưa vào khai thác đến nay, điểm du lịch
Sau 3 đến 4 giờ đồng hồ, du khách sẽ có một chuyến tham quan vui vẽ, lý thú
và mãn nguyện.
* Về khai thác tài nguyên đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên và văn hóa
lịch sử
Với nhiều địa điểm có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, đa dạng sinh học phong
phú như Thung lũng Sinh Tồn, Thung lũng Đòong, Rừng Gáo, Thác gió, Hồ Bồng lai
Tiên Cảnh, đỉnh núi Ubò, Rừng Bách xanh vv… nhưng đến nay chưa có tài nguyên
nào được đầu tư để đưa vào khai thác phục vụ khách du lịch.
Riêng tại điểm Du lịch sinh thái Suối nước Mọoc (diện tích khoảng 36 ha). Do
chưa có quy hoạch nên năm 2008, dự án bảo tồn tài nguyên thiên nhiên khu vực
Phong Nha – Kẻ Bàng đã hỗ trợ VQG Phong Nha –Kẻ Bàng 700 triệu đồng để bước
đầu xây dựng một số hạng mục như: Hệ thống đường đi bộ trong rừng, cầu vượt suối
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du khách và các nhà đầu tư có cơ hội tiếp cận với
cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học ở khu vực này. Đầu tháng 1 năm 2009,
Trung tâm Du lịch VHST đã đưa điểm du lịch này vào phục vụ khách tham quan,
nhưng do sự đầu tư tại điểm du lịch này chưa tương xứng với yêu cầu của một điểm
du lịch, các dịch vụ bổ trợ chưa có, giá vé tham quan quá cao (50.000đ/vé) nên chưa
thu hút du khách.
Đối với các giá trị văn hóa và lịch sử, hiện nay chỉ mới đầu tư xây dựng Khu
đón tiếp và phục vụ khách tham quan, dâng hương tại Đền tưởng niệm TNXP chống
Mỹ cứu nước (hang Tám Cô km 16 đường 20 Quyết thắng).
Tóm lại: Tiềm năng phát triển du lịch của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng là rất
lớn nhưng việc đầu tư để đưa các tiềm năng này vào phát triển du lịch bền vững còn
quá ít. hiện chỉ có điểm du lịch VHST động Phong Nha, động Tiên Sơn đã được đầu
tư cơ sở hạ tầng và tổ chức việc đón tiếp, phục vụ khách tham quan khá tốt. Điểm du
lịch văn hóa Đền tưởng niệm thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước (hang Tám
Cô km 16 đường 20 Quyết thắng) đã đưa vào phục khách tham quan nhưng còn rất
nhiều khiếm khuyết, sản phẩm du lịch chưa hoàn thiện; một số địa điểm khác đang
trong quá trình xúc tiến, quảng bá để kêu gọi đầu tư…
Chương 3 : Giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững tại
hiệu quả (VQG Bạch Mã, VQG Cát Tiên
3.2 Phát triển du lịch gắn với vào cộng đồng.
Đặc tính của du lịch là có tính liên vùng, liên nghành. Trong bất cứ nghành kinh
tế nào nếu muốn phát triển thì nhất thiết phải chú ý đến cộng đồng. Để có được sự quan
tâm của cộng đồng,nghành du lịch phải quan tâm đến lợi ích kinh tế trong dài hạn là
lợi ích cộng đồng. Cùng nhau phát triển để bảo tồn tài nguyên Phong Nha-Kẻ Bàng
phát huy tối đa các nguồn vốn của địa phương để trùng tu, tôn tạo hệ thống di tích
lịch sử đường HCM, đặc biệt là các di tích lịch sử trên tuyến đường 20 Quyết thắng.
Hiện nay nhiều di tích lịch sử chưa được đầu tư tôn tạo, một số di tích đã tôn tạo
nhưng đã xuống cấp nghiêm trọng, cần sớm có kế hoạch đầu tư để bảo tồn hệ thống
các di tích lịch sử.
- Có chính sách cụ thể để hỗ trợ tộc người Arem ở bản 39 xã Tân Trạch (Bố
Trạch) và tộc người Rục ở bản Yên Hợp xã Thượng Hóa (Minh Hóa), đây là hai tộc
người có trình độ văn hóa, trình độ canh tác tấp nhất toàn quốc, có thời kỳ họ được
đưa vào danh sách các tộc người có nguy cơ tuyệt chủng. Tuy mấy năm qua Nhà
nước đã giành kinh phí để định canh, định cư ổn định cuộc sống cho các tộc người
này nhưng hiện nay đời sống của họ vẫn rất khó khăn, hiện tượng di dân tự do vẫn
xảy ra. Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm chấm dứt tình
trạng di dân tự do, làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc yên phong nha- kẻ b- Cần
sớm triển khai các dự án sưu tầm và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của các
tộc người trong khu vực VQG như: Bảo tồn hình thái quần cư làng bản; kiến trúc nhà
tường đất của người Rục, người Mày; nhà sàn của người Khùa, người Macoong; bảo
tồn các giá trị văn hóa ẩm thực như Cơm Pồi (Bồi), Rượu Đoác (rượu chế biến từ một
loại cây rừng); các trang phục truyền thống, các giá trị văn hóa phi vật thể như phong
tục tập quán, tín ngưỡng thờ cúng, làn điệu dân ca, kinh nghiệm truyền thống về canh
tác nương rẫy, chăn nuôi, chữa bệnh và các nghề truyền thống khác như dệt may, đan
lát vv Biến các bản sắc này thành các sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, hấp dẫn du
khách. Có có kế hoạch bảo tồn các giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc như: Lễ hội đập
trống của dân tộc Ma Coong (15 tháng 1 âm lịch), Lễ đâm Trâu, Lễ cầu mùa; Nghệ
thuật hát tuồng (Hát Bội) của xã Hưng Trạch và một số lễ hội khác.
cầu tham quan, tìm hiểu, nghỉ dưỡng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích
kinh tế dài hạn, đảm bảo duy trì được nguồn kinh phí tái đầu tư cho bảo tồn và tôn tạo
các nguồn tài nguyên, duy trì sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch
trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao đời sống của
cộng đồng địa phương.
3.3.2 Phát triển du lịch cần những nét đặc thù :
Du lịch là một ngành kinh tế đang ngày càng phát triển và góp công rất lớn vào
công cuộc xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quảng bá về hình ảnh đất
nước ,và với lợi thế đa dạng về nguồn tài nguyên ,du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn
của nước ta. Để phát triển du lịch hiệu quả mỗi khu du lịch cần phải xác định cho
mình những nét đặc thù riêng so với vùng khác. Từ đó có cách quản lý phù hợp và
đúng đắn hơn để phát triển du lịch. Phong nha - Kẻ Bàng có lợi thế rất lớn với sự
phong phú về tài nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn.
Tuy nhiên cần chú ý đến cơ chế, chính sách và tập trung xây cơ sở hạ tầng. Trong
tổ chức đảm bảo tính đồng bộ, có sự kết hợp linh hoạt giữa các vùng, lãnh thổ và quy
hoạch có tính bền vững được đặt trong quy hoạch chung của cả nước.
3.3 Lựa chọn thị trường cho phát triển du lịch bền vững.
Để phát triển du lịch bền vững thì việc lựa chọn thị trường khách là rất quan
trọng, nó là yếu tố quyết định đến sự phát triển ngành du lịch. Các thị trường lớn về
khách du lịch tới Việt Nam chủ yếu là các nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Đài Loan, các nước Tây Âu và Hoa kỳ,… để thu hút khách du lịch trong
nước và quốc tế đến tham quan chúng ta cần phải làm những công việc sau :
- Cần đẩy mạnh công tác quảng bá, giới thiệu nâng cao hình ảnh về du lịch
Quảng Bình nói chung, các giá trị và tiềm năng phát triển du lịch VHST của VQG
Phong Nha - Kẻ Bàng nói riêng một cách rộng rãi hơn.
- Tăng cường quan hệ với các hãng thông tấn báo chí, phát thanh truyền hình
trong nước và nước ngoài để hỗ trợ và xúc tiến quảng bá hình ảnh VQG Phong Nha –
Kẻ Bàng ở trong nước cũng như ra nước ngoài, vừa thu hút vốn đầu tư vừa thu hút
khách du lịch Quốc tế.
- Tích cực tham gia “Con đường Di sản Miền Trung”, kết nối với các Di sản Văn
hình ảnh Quảng Bình, hình ảnh VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thu hút khách du lịch.
- Du lịch Phong Nha nên chọn một số khẩu hiệu ấn tượng (slogan) của riêng
mình để tăng hiệu quả quảng bá, (tham khảo slogan “ Phi đáo Trường thành bất hảo
hán” của Khu du lịch Vạn lý Trường thành ở Trung Quốc, hoặc “Huế - Thành phố
Festival đặc trưng của Việt Nam” slogan của Thừa Thiên Huế). Một vài slogan có thể
nghiên cứu để sử dụng như: “Phong Nha - Kẻ Bàng, Vương quốc hang động của Thế
giới”; “Phong Nha - Kẻ Bàng, Vương quốc Linh trưởng Đông Nam Á”, hoặc “Đến
với Sơn Đòong là đến với hang động lớn nhất Thế giới” vv
- Theo kết quả điều tra ở chương 2, hiệu quả quảng bá trên phương tiện Tivi
radio là rất lớn. Vì vậy, cùng với việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại
chúng khác, cần đầu tư kinh phí đưa các slogan lên các chương trình truyền hình vui
chơi giải trí VTV3 như “Ai là triệu phú”, “Đấu trường 100”, “Chiếc nón kỳ diệu” để
tăng sức mạnh quảng bá.
3.5 Tổ chức khai thác có hiệu quả.
3.5.1. Tổ chức khai thác có hiệu quả các khu du lịch
Do còn bộc lộ rất nhiều yếu kém như: sự phát triển còn mang tính tự phát, quy
mô manh mún, lạc hậu; phát triển còn chưa theo các cơ sở khoa học nên hiệu quả
thấp; trình độ và công nghệ trong du lịch lạc hậu và tổ chức phát triển chưa tuân thủ
các yếu tố bảo đảm phát triển bền vững.
Từ thực tế trên, chúng ta cần phải có chính sách giao đất quản lý cho các chủ
doanh nghiệp lâu dài như các khu công nghiệp tập trung. Việc tổ chức các hình thức
thanh tra, kiểm tra quản lý theo định hướng cụ thể và nghiêm túc. Nâng cao trình độ
kỹ năng trong việc tổ chức quản lý của khu du lịch như nhận dạng thị trường, đối
tượng khách của khu du lịch; tổ chức không gian kiến trúc, thông tin tiếp thị và thiết
lập các kênh tiêu thụ sản phẩm; tổ chức hình thành các dịch vụ và đầu tư trên phương
diện phù hợp với các loại hình du lịch, năng lực quản lý và điều hành khu du lịch…
Đứng trước thực trạng hiện nay, chúng ta cần phải đầu tư ngay cho việc khảo
sát đánh giá cơ bản và tiến hành quy định hướng chiến lược cho việc hình thành phát
triển hệ thống các khu du lịch trên toàn lãnh thổ. Thông qua đó, điều chỉnh và cân đối
lại quan hệ cung, cầu; bố trí lại cơ cấu đầu tư, kinh doanh du lịch, tổ chức kinh doanh
thái và cộng đồng dân cư địa phương; tham gia thẩm định các dự án du lịch hoặc cơ
quan chủ quản để làm công tác bảo tồn, tôn tạo. Sự phối hợp này thể hiện tính liên
ngành tốt trong phát triển bền vững.
Phát triển một số lĩnh vực: thứ nhất là thị trường khai thác khác quốc tế từ
ASEAN, Tây Âu, Trung quốc, Nhật Bản…tuy nhiên vẫn phải quan tâm thị trường nội
địa theo lợi thế riêng của từng vùng để thu hút khách. Thứ hai là đầu tư phát triển du
lịch phải kết hợp với nguồn vốn trong và ngoài nước, ưu tiên các khu du lịch chuyên
đề; thực hiện xã hội hoá trong việc đầu tư, bảo vệ tôn tạo các khu di tích, cảnh quan
môi trương, các lễ hội…
Xúc tiến tuyên truyền, quảng bá về du lịch phải phối hợp chặt chẽ, kết hợp cả
trong và ngoài nước.
Hội nhập quốc tế về du lịch, đó là sự củng cố và tham gia vào các tổ chức quốc
tế như WTO, khuyến khích thu hút vốn từ nước ngoài vào các khu du lịch,dự án du
lịch…
Phát triển các vùng du lịch với lợi thế so sánh của vùng đó.
3.6 Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Cải tiến thuyền du lịch. Tìm hiểu thị trường, đặt hàng thiết kế mẫu thuyền du
lịch mới, có kiểu dáng phù hợp với thuyền truyền thống địa phương, màu sắc hài hòa
cảnh quan thiên thiên, trang trí nội thất đẹp, kích thước vừa phải để trách gây ách tắc
khi vào động Phong Nha, chế tác một loại động cơ có hộp số và thiết bị giảm thanh,
hoặc có thể nghiên cứu lắp đặt động cơ chạy bằng ắc quy để hạn chế tiếng ồn, giảm
thiểu ô nhiễm nhiên liệu xuống sông Son.
Trung tâm Du lịch VHST khẩn trương có kế hoạch gửi số cán bộ hướng dẫn đã
được đào tạo từ các chuyên ngành xã hội đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao kỹ năng
giới thiệu, thuyết minh. Tổ chức các lớp tập huấn để nâng cao trình độ giao tiếp, khả
năng ứng xử của các chủ thuyền du lịch, các thợ nhiếp ảnh lưu niệm với khách du
lịch.
Cải cách chế độ tiền lương và các khoản phụ cấp, thay đổi quan điểm sử dụng
cán bộ, cải cách phương pháp tuyển dụng để thu hút cán bộ làm công tác hướng dẫn,
thuyết minh đảm bảo chất lượng, có hình thức, trình độ và kỹ năng hướng dẫn cao.
trong đó nhân tố “dịch vụ thuyền du lịch” và nhân tố “giá cả các dịch vụ” có tác động
mạnh hơn đến đánh giá chung của du khách về chất lượng các dịch vụ.
5. Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch thời gian qua,
báo cáo đã đưa ra một số giải pháp mang tính khả thi cao, phù hợp với tình hình thực
tế của tỉnh Quảng Bình nói chung và của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng nói riêng.
Trong đó, quan tâm hàng đầu là giải pháp về quy hoạch, đây là điều kiện tiên quyết
và là cơ sở pháp lý để quản lý, định hướng phát triển du lịch bền vững. Đồng thời,
đưa ra các giải pháp cơ bản khác nhằm thúc đẩy quá trình thu hút đầu tư, đào tạo
nguồn nhân lực, tăng cường quảng bá tiếp thị; các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội
nhằm nâng cao đời sống của nhân dân các xã vùng đệm và vùng lõi, giảm áp lực đối
với công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn các giá trị đặc biệt quan trọng của VQG
Phong Nha – Kẻ Bàng, từng bước đưa vào khai thác phát triển du lịch bền vững trong
thời gian tới.
6. Báo cáo cũng đã đề xuất một số giải pháp trước mắt nhằm nâng cao chất
lượng các dịch vụ tại điểm du lịch động Phong Nha, động Tiên Sơn hiện nay đó là:
Cải tiến đội thuyền du lịch, nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên và các dịch
vụ bổ trợ khác; đầu tư hoàn thiện và hình thành một số tour du lịch VHST mới đưa
vào phục vụ khách tham quan.
7. Phát triển du lịch bền vững tại Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là một
đề tài liên quan đến nhiều lĩnh vực, vì vậy, vẫn còn nhiều nội dung mà báo cáo chưa
nhìn nhận và đánh giá hết; sự tác động của phát triển du lịch bền vững tại VQG
Phong Nha – Kẻ Bàng đến về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội chưa được điều
tra cụ thể để đánh giá một cách đầy đủ, cần được tiếp tục nghiên cứu ở các đề tài
khác. Chính vì những lí do đó, chắc chắn báo cáo còn nhiều điểm thiếu sót, nhóm
thực tập mong muốn nhận được sự góp ý của các Thầy cô giáo, bạn bè để báo cáo
nghiên cứu hoàn thiện hơn.
2. KIẾN NGHỊ
Để những định hướng và giải pháp sớm đi vào thực tiễn, tác giả mạnh dạn đề
xuất một số kiến nghị sau:
* Đối với Nhà nước
việc xúc tiến đầu tư, xây dựng ban hành chính sách thu hút đầu tư riêng cho phát triển
du lịch bền vững tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Tiến hành rà soát, đánh giá năng
lực các doanh nghiệp triển khai dự án chậm so với quy định để tham mưu UBND tỉnh
xem xét thu hồi giấy phép đầu tư, giao cho nhà đầu tư khác có năng lực, xử lý nghiêm
túc các dự án treo tạo tiền lệ xấu của môi trường đầu tư.
- Sở Xây dựng, UBND huyện Bố Trạch và UBND xã Sơn Trạch cần tăng
cường công tác quản lý quy hoạch xây dựng tại Trung tâm Phong Nha, có biện pháp
ngăn chặn và xử lý nghiêm những trường hợp xây dựng trái quy hoạch, chấm dứt
hiện tượng xây dựng tự do, lộn xộn như thời gian qua.
* Đối với Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
- Tăng cường sự phối hợp với các Bộ, ngành trung ương để tham mưu Chính
phủ thúc đẩy việc đệ trình hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận VQG Phong Nha - Kẻ
Bàng là Di sản Thiên nhiên Thế giới theo tiêu chí đa dạng sinh học, đây là cơ sở
khẳng định lần nữa giá trị của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nhằm tạo điều kiện thu hút
nhiều hơn nữa các dự án bảo tồn và phát triển du lịch.
- Ngoài Luật quản lý và bảo vệ rừng, Luật du lịch, Luật Di sản văn hóa, Luật
Tài nguyên, Luật đa dạng sinh học, Quy chế quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã
ban hành theo Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 16 tháng 8 năm 2007, cần tham
mưu UBND tỉnh xây dựng và sớm ban hành Quy chế quản lý các hoạt động du lịch