Xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ - Pdf 25

đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học tự nhiên
======
Bùi thị nhiệm

Xác lập cơ sở khoa học cho việc
phát triển du lịch sinh thái ở
v-ờn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ Luận văn thạc sĩ khoa học Hà Nội - 2011

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………….
1
1. Tính cấp thiết của đề tài ……………………………………………………
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề …………………………………………………
2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ………………………………
4
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài ……………………………………………
4
5. Cấu trúc luận văn ………………………………………………………
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU

6
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái …………… …………………………
6
1.1.1. Khái niệm du lịch ……………………………… ………………………
6

29
2.1. Giới thiệu khái quát VQG Xuân Sơn ………………………………………
29
2.1.1. Vị trí địa lý và khả năng tiếp cận ………………………………………….
29
2.1.2. Quá trình hình thành VQG Xuân Sơn ………………………………
30
2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ của VQG Xuân Sơn ………………….…………
31
2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên ………………… …….
32
2.2.1. Địa hình, địa mạo…………………………………………………………
32
2.2.2. Khí hậu, thủy văn…………………………………………………………
36
2.2.3. Tài nguyên sinh vật
39
2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn …………………
48
2.3.1. Đặc điểm dân cư, dân tộc …………………………………………….…
48
2.3.2. Bản sắc văn hóa và phong tục tập quán của các dân tộc ………… ……
51
2.3.3. Các giá trị lịch sử, khảo cổ ……………………………………… …….
53
2.3.4. Các điều kiện phục vụ tham quan du lịch ………………………………
53
2.4. Đánh giá chung tiềm năng du lịch sinh thái trong VQG Xuân Sơn ……….
55
CHƯƠNG 3. HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI

4.1.2. Định hướng cụ thể
79
4.1.2.1. Sản phẩm du lịch
80
4.1.2.2. Khai thác lãnh thổ và các tài nguyên du lịch …………………………
81
4.1.2.3. Định hướng diễn giải và giáo dục giáo dục môi trường sinh thái………
96
4.1.2.4. Định hướng khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương và
hỗ trợ cộng đồng …………………………………………………….
99
4.2. Các giải pháp phát triển DLST tại VQG Xuân Sơn ………………………
101
4.2.1. Giải pháp cơ chế, chính sách ……………………………………………
101
4.2.2. Giải pháp quy hoạch
103
4.2.3. Giải pháp về tổ chức quản lí ……………………………………………
103
4.2.4. Giải pháp đầu tư
105
4.2.5. Giải pháp liên kết và hợp tác ………………………………………
105
4.2.6. Giải pháp tuyên truyền, giáo dục …………………………………………
106
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………
108
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………
110


sống nhân dân địa phương.
Chính vì những điều trên đây tác giả đã lựa chọn đề tài: “Xác lập cơ sở khoa
học cho việc phát triển du lịch sinh thái ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”

2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Trên thế giới
Trong vài thập niên gần đây, hoạt động du lịch trên thế giới phát triển rộng
rãi, bộc lộ ngày càng rõ các tác động của nó đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi
trường của các lãnh thổ du lịch. Vì thế, các nhà nghiên cứu du lịch đã rất quan tâm
nghiên cứu đến những tác động này và cố gắng tìm ra những mô hình phát triển du
lich hiệu quả nhất (hạn chế được ít nhất những tác hại và gia tăng tối đa những lợi
ích mà du lịch mang lại) nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Một trong
những mô hình được quan tâm nhiều nhất là mô hình DLST.
DLST mới chỉ bắt đầu được bàn đến trên thế giới từ những năm đầu của thập kỉ
80. Những nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình về lĩnh vực này là Ceballos -
Lascurain, Buckley… cùng rất nhiều các nghiên cứu lí luận và thực tiễn về DLST của
các nhà khoa học, các tổ chức quan tâm đến lĩnh vực này như: Cater, Chalker,
Dowling, western, Linberg - Hawkis, Whelan, Wight, Weating, Duff, Cochrane
Hiệp hội DLST, Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF), Tổ chức bảo tồn thiên nhiên
thế giới (IUCN)… đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố những quan điểm,
khái niệm về DLST, các bài học thực tiễn cũng như những hướng dẫn cho các nhà
quản lí, tham gia hoạt động DLST như: Hiệp hội DLST đã xuất bản cuốn “DLST:
Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch - Chẩn đoán DLST và hướng dẫn quy hoạch”,
George N.Walace (1998): Quản lí khách tham quan, bài học từ VQG Galapagos;
Kreg Lindbeg (1999): Các vấn đề trong quản lí DLST; David L.Ardersen (2001) Kế
hoạch quốc gia về phát triển DLST tại Guyana; David Ardersen (2000): Thiết kế các
phương tiện phục vụ DLST; Karrtrina Brandon (1998): Những bước cơ bản nhằm
khuyến khích sự tham gia của dân địa phương vào dự án DLST.
2.2. Ở Việt Nam

- Báo cáo nghiên cứu khả thi: Dự án đầu tư xây dựng VQG Xuân Sơn, tỉnh
Phú Thọ, 2002, nghiên cứu của Viện Điều tra quy hoạch rừng
Ngoài ra, cũng đã có nhiều bài viết mang tính khảo cứu và giới thiệu về tài
nguyên DLST trong VQG Xuân Sơn. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tổng thể về DLST
ở đây vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ. Tác giả thực hiện đề tài này với hi vọng tạo tiền đề
quan trọng cho việc nghiên cứu, quy hoạch DLST sau này ở VQG Xuân Sơn.

4
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu
Trên cơ sở vận dụng lí luận và thực tiễn phát triển DLST trên thế giới và Việt
Nam, đề tài làm rõ tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST ở VQG Xuân Sơn Từ
đó, đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển DLST nhằm làm cơ sở cho công
tác quy hoạch phát triển DLST ở VQG Xuân Sơn trong tương lai.
3.2. Nhiệm vụ
Dưới góc độ địa lí học (địa lí du lịch), luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ
sau:
- Tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn phát triển DLST trên thế giới và
Việt Nam.
- Phân tích tiềm năng DLST chủ yếu, các tác động của DLST đến môi trường
tự nhiên và nhân văn ở VQG Xuân Sơn.
- Đánh giá hiện trạng hoạt động phát triển du lịch tại VQG Xuân Sơn theo các
nguyên tắc của DLST
- Đề xuất các định hướng và giải pháp phù hợp cho phát triển DLST ở VQG
Xuân Sơn, đảm bảo các mục tiêu kinh tế - xã hội và bảo tồn, nhằm khai thác bền
vững nguồn tài nguyên du lịch.
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài

nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến
lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”[37]
Theo Luật Du lịch Việt Nam, năm 2005: “Du lịch là hoạt động của con
người ngoài nơi cư trú thường nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ
dưỡng… trong khoảng thời gian nhất định” [24]
Như vậy, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép. Một mặt nó mang
ý nghĩa thông thường của việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải
trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt động gắn
chặt với những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra. Bởi vậy,
những tác động của du lịch đến lãnh thổ đón khách là khá phức tạp.
1.1.2. Khái niệm du lịch sinh thái
DLST là một khái niệm rộng lớn, được hiểu khác nhau từ những cách nhìn
khác nhau của các cá nhân, tổ chức nghiên cứu.
- Định nghĩa về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos - Lascurain đưa ra
năm 1987:“DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với
những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, thăm quan với ý thức trân trọng thế giới
hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”. [26]
Trong định nghĩa này, Ceballos - Lascurain mới chỉ dừng lại ở sự “trân trọng
tự nhiên”, những định nghĩa sau này của các nhà nghiên cứu, các tổ chức du lịch đã
có thay đổi sâu sắc hơn.
- Theo Wood, 1991: “DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang
sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm
thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để

7
ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa
phương” [26].
Ở đây, Wood đã đề cập đến giáo dục môi trường, phương cách bảo tồn tự
nhiên và sự phát triển của cộng đồng trong DLST.
- Định nghĩa của Hiệp hội DLST Ôxtrâylia: “DLST là du lịch dựa vào thiên

DU LỊCH

DU LỊCH

DU LỊCH

DU LỊCH

8
hình du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn. Theo
đó, DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, thể hiện ở tính giáo
dục và diễn giải về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích
cho cộng đồng địa phương.
Tóm lại, mặc dù cũng lấy các hệ sinh thái làm đối tượng, nhưng DLST hoàn
toàn không đồng nghĩa với du lịch thiên nhiên hay du lịch xanh. Nói đến du lịch
thiên nhiên hay du lịch xanh mới chỉ là nói đến đối tượng du lịch, cũng tương tự
như ta nói về du lịch văn hóa, du lịch lễ hội hay du lịch biển… Các loại du lịch đó
có thể được tiến hành theo phương thức phát triển bền vững, hoặc theo phương thức
thương mại, không bền vững.
Những loại du lịch thiên nhiên hay du lịch xanh, tiến hành trong các vùng sinh
thái còn khá nguyên vẹn, theo phương thức của du lịch bền vững, là dạng cơ bản
của DLST. Nó là dạng cơ bản vì “các hệ sinh thái còn khá nguyên vẹn” còn có thể
được mở rộng, nghĩa là đặc trưng cho một vùng sinh thái - nhân văn. Khi đó, một
bộ phận của du lịch làng bản, du lịch đồng quê… nếu hoạt động theo phương thức
du lịch bền vững cũng sẽ là một bộ phận mở rộng của DLST. Tuy nhiên, nhần lớn
các nhà du lịch học mới chỉ nói đến DLST theo nghĩa ban đầu của nó, lấy đối tượng
là thiên nhiên.
1.1.3. Các đặc trưng DLST
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đưa những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của
DLST như sau: [26]

1.1.4. Các nguyên tắc của DLST
DLST được phát triển trên cơ sở những nguyên tắc hướng tới sự phát triển bền
vững. Các nguyên tắc được đảm bảo trong DLST là các nguyên tắc không chỉ cho các
nhà quy hoạch, quản lí, điều hành mà còn cả những hướng dẫn viên DLST.
Cochranne đã tổng kết các nguyên tắc của DLST như sau, [31]:
- Sử dụng thận trọng những nguồn tài nguyên môi trường, kích thích sự bảo
tồn và giảm thiểu các nguồn tiêu dùng gây rác rưởi.
- Phát triển ở mức độ nhỏ và hợp nhất tới các ngành kinh tế khác hoặc với các
chiến lược sử dụng lãnh thổ.
- Tạo nên những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng địa phương, những
người nên được quyền làm chủ trong sự phát triển và hoạch định.

10
- Các chiến lược thị trường cần tôn trọng môi trường du lịch, không nên làm
xói mòn nền văn hoá và xã hội địa phương.
- Có khả năng hấp dẫn số lượng khách du lịch ngày càng tăng và thường
xuyên đáp ứng cho du khách những kinh nghiệm du lịch lí thú.
- Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực
đến thăm, đảm bảo tính giáo dục cao.
Đối chiếu với các nguyên tắc của du lịch bền vững, các nguyên tắc của DLST
cũng nhằm vào các mục tiêu hướng tới du lịch bền vững. Để đạt được mục tiêu này,
việc hiểu và đánh giá mối quan hệ của DLST với bảo tồn trong các địa bàn tiêu biểu
như các VQG, các khu bảo tồn thiên nhiên, các lợi ích và những nguy cơ nảy sinh
tiêu cực đến môi trường và cộng đồng trong các khu vực này là hết sức cần thiết.
1.1.5. Các yêu cầu của DLST
Để thực hiện các nguyên tắc trên DLST cần có những yêu cầu cơ bản. Các
nhà khoa học nghiên cứu về DLST đã đưa ra 4 yêu cầu cơ bản mà DLST cần đảm
bảo là: Dựa trên các hệ sinh thái điển hình; đảm bảo tính giáo dục; sử dụng lãnh thổ
du lịch phù hợp với bảo tồn và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa
phương.[26]

- Công thức tính sức chứa du lịch: Sức chứa là một khái niệm bao gồm cả
định tính và định lượng, nên khó có thể xác định được con số chính xác cho một
điểm hay tuyến du lịch. Để đơn giản, Boullon (1985) đã đưa ra một công thức
chung để xác định sức chứa du lịch của một khu vực trên cơ sở diện tích dành cho
các hoạt động du lịch với tiêu chuẩn bình quân cho một du khách (m
2
/người) hay
ngược lại (người/m
2
).
Tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi khách thường được xác định bằng
thực nghiệm và thay đổi phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch. Các tiêu chuẩn
này cũng được xác định trên cơ sở đặc trưng riêng của từng điểm du lịch hay nói
một cách chính xác hơn là trên cơ sở tính chất tài nguyên.
- Sức chứa tự nhiên (PCC):
Là số khách tối đa mà điểm tham quan có khả năng chứa, dựa trên tiêu chuẩn
bình quân khách cho diện tích sử dụng:
Sức chứa =
Khu vực dành cho du khách sử dụng
Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi cá nhân

12
PCC = A x V/a x Rf
Trong đó: + A: Diện tích dành cho du lịch (m2)

Mt
Cf = 100
-
C
f1

100
-
C
f2

100
-
C
fn
x

x

X

100 13
Sức chứa thay đổi tuỳ thuộc vào địa điểm, tính mùa, thời gian, thái độ của
người sử dụng, phương tiện, tình trạng và mức độ quản lí cũng như đặc trưng tác
động về môi trường của bản thân điểm du lịch. Vì vậy, cần nhấn mạnh rằng “sức
chứa du lịch” phải được tính cho mỗi điểm, tuyến tham quan cụ thể chứ không phải
tính cho toàn khu vực.
d. Yêu cầu 4: Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương
Ở các khu vực trong lân cận VQG, cuộc sống của người dân thường gặp khó
khăn. Việc cộng tác với nhân dân địa phương trong các dự án phát triển tạo việc làm
cho họ chính là giảm bớt sức ép lên khu bảo tồn. Để hoạt động bảo tồn có hiệu quả
thì lợi ích thu được từ DLST phải được chia sẻ cho đa số dân cư cộng đồng. Nghĩa
là, hiệu quả của công tác bảo tồn sẽ tỉ lệ thuận với đa số dân cư tham gia và được
hưởng lợi từ DLST.
Mục tiêu của DLST là sử dụng các nguồn lực địa phương - “nhỏ và có tính địa
phương là đẹp”. Vì vậy, các dự án DLST nên ở quy mô nhỏ, do địa phương làm
chủ, sử dụng nguồn lực địa phương hơn là các dự án lớn với các nguồn tài chính từ
bên ngoài. Qua đó, dân cư địa phương phát huy vai trò làm chủ trong việc quản lí
tài nguyên, giám sát các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ.
Những nhà hoạch định không phải người bản địa thường không nhạy cảm với
các nhu cầu và các vấn đề quan tâm của địa phương. Vì thế, các biện pháp khuyến
khích sự tham gia của cộng đồng phải là quá trình từng bước và lâu dài; từ thu thập
thông tin, tư vấn, quyết định, thực hiện và đánh giá. Đồng thời, các nhà hoạch định
cần tìm hiểu thái độ và nhu cầu của người dân đối với phát triển du lịch để có định
hướng đúng.
1.2. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái cộng đồng trên quan điểm tài nguyên và

Du lịch sinh thái cộng đồng cũng là một ngành kinh tế mang lại thu nhập cho
địa phương và cộng đồng dân cư tại địa phương đó. Ngoài các chức năng chính là
phát triển các ngành kinh tế như nông, lâm, ngư nghiệp … thì hoạt động du lịch sinh
thái là một khía cạnh tạo ra những thu nhập phụ trợ mà những thu nhập này không
ảnh hưởng đến những mục đích chính yếu theo định hướng phát triển kinh tế. Như
vậy có thể thấy DLST cộng đồng cũng đóng góp thêm phần của mình trong việc tạo
ra sự đa dạng, phong phú trong các ngành kinh tế địa phương
b. Phân chia thu nhập công bằng hơn
Cộng đồng địa phương cần phải được tham gia, phải có thu thập và những lợi
ích thiết thực từ khu vực được bảo tồn, chẳng hạn như nước sạch, đường xá, vệ sinh

15
sức khỏe… Địa điểm cắm trại, nơi ở, dịch vụ hướng dẫn, quán ăn và các dịch vụ
khác nên được hợp tác hoặc quản lý bởi cộng đồng sống xung quanh công viên hoặc
những địa điểm thăm quan đó. Quan trọng hơn nếu như DLST được nhìn nhận như
một công cụ cho sự phát triển nông thôn, nó cũng phải giúp thay đổi cách quản lý
kinh tế và chính trị đối với cộng đồng địa phương mặc dù điều này không thể dễ
dàng và đòi hỏi nhiều thời gian.
c. Bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái
bền vững
Du lịch sinh thái cộng đồng thường gắn với cộng đồng, dành cho cả khách du
lịch và những người cư trú ở các cộng đồng lân cận. Bởi vậy, trước mỗi chuyến khởi
hành, những người tổ chức nên cung cấp cho khách du lịch đọc những sách báo nói
về đất nước, môi trường và người dân địa phương cũng như một quy định hướng
dẫn cho cả khách du lịch và các ngành công nghiệp. Những thông tin này sẽ giúp
cho việc tổ chức các tuor du lịch tìm hiểu về con người và vùng đất mới giảm thiểu
những tác động tiêu cực đặc biệt khi tham quan những môi trường và vùng văn hóa
nhạy cảm.
Điều cần thiết với một chuyến du lịch sinh thái tốt là phải có được hướng dẫn
viên được đào tạo kĩ càng, biết thổ ngữ và có những hiểu biết về lịch sử, tự nhiên,

tiếp cận tế nhị hơn, trong đó mọi người tham gia đều phải cố gắng học hỏi, tôn trọng
và làm lợi cho cả môi trường và cộng đồng địa phương.
1.3. Du lịch sinh thái trong các VQG
1.3.1. Khái niệm, chức năng của các VQG
a. Khái niệm vườn quốc gia
Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về VQG của các nhà nghiên cứu và
quản lí VQG. Trong đó Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới đã đưa ra một định
nghĩa hoàn chỉnh về VQG như sau: [28].
VQG là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà:
- Ở đó có một hay nhiều hệ sinh thái không bị thay đổi lớn do sự khai thác hay
chiếm lĩnh của con người. Các loài thực - động vật, các đặc điểm hình thái, địa mạo
và nơi cư trú của các loài, hoặc các cảnh quan thiên nhiên đẹp trong đó là mối quan
tâm cho nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí.
- Ở đó có ban quản lí thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ càng
nhanh càng tốt sự khai thác hoặc chiếm lĩnh và tăng cường sự tôn trọng những đặc
trưng về sinh thái, hình thái học và cảnh quan.

17
- Ở đó cho phép khách du lịch đến thăm dưới những điều kiện đặc biệt, cho
các mục đích nghiên cứu, giáo dục, giải trí và lòng ngưỡng mộ.
Việc thiết lập các VQG và các khu bảo tồn nhằm vào ba mục tiêu chủ yếu là
bảo tồn đa dạng sinh học và tính nguyên sinh trên lãnh thổ; phục vụ nghiên cứu
khoa học và giáo dục; tạo môi trường du lịch. Như vậy, VQG là địa bàn khá phù
hợp cho sự phát triển DLST.
b. Chức năng của vườn quốc gia
Hệ thống các VQG được thành lập nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng
sau, [30]:
- Bảo vệ các khu cảnh quan tự nhiên quan trọng có ý nghĩa quốc gia và quốc
tế, phục vụ mục đích khoa học, giáo dục và DLST.
- Duy trì bền vững trạng thái tự nhiên hay gần tự nhiên của các vùng văn hóa

chú ý nhiều hơn đến việc tiếp xúc, tìm hiểu, nghiên cứu về thiên nhiên, động vật
hoang dã và do đó loại hình DLST đang ngày càng được chú trọng. Đa dạng sinh
học là cơ sở thuận lợi cho sự phát triển loại hình du lịch này.
Việt Nam được đánh giá là nước có mức độ đa dạng sinh học rất cao và mang
tính điển hình cho vùng Đông Nam Á, trong đó có tới 40% là các loài đặc hữu. Do
đó, sự phong phú và đa dạng của các hệ sinh thái ở các VQG là nguồn tài nguyên
lớn cho phát triển du lịch.
d. Phong cảnh
Phong cảnh thiên nhiên là một trong những yếu tố tài nguyên quan trọng hàng
dầu với loại hình DLST. Thông thường, du khách luôn luôn hào hứng và tìm đến
những nơi có cảnh sắc đẹp, lạ mắt để tham quan, giải trí. Các VQG do có sự kết hợp
của nhiều loại địa hình khác nhau tạo nên bức tranh thiên nhiên kì thú, lại thêm khí
hậu mát mẻ, trong lành, bởi vậy rất được ưa thích.
Vì vậy, các VQG và các khu cảnh quan tự nhiên ngày càng được quan tâm
trong việc sử dụng cho du lịch, vì sự phong phú của tự nhiên, đa dạng sinh học, hấp
dẫn độc đáo của cảnh quan… Chúng được coi như nền tảng cho sự phát triển DLST
và mang lại lợi ích lớn về kinh tế, xã hội và bảo tồn thiên nhiên.
Ngược lại, một trong những yếu tố kích thích việc thành lập các VQG chính là
tạo cơ hội cho mọi người tham quan, giải trí trong thiên nhiên. Bởi vậy, trong nhiều
quốc gia, khả năng hấp dẫn du lịch là một trong những động lực quan trọng trong
việc quyết định thành lập các VQG.

19
Tóm lại, các VQG là địa bàn rất phù hợp cho hoạt động DLST. Tuy nhiên, khi
phát tiển du lịch ở đây cần cân nhắc kĩ lưỡng những lợi ích và tác hại đến môi
trường do hoạt động du lịch gây nên.
1.3.3. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá tiềm năng DLST của các VQG
Để đánh giá tiềm năng du lịch trong các VQG một cách tương đối chính xác
và khách quan thì việc cần thiết là phải xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hợp lí. Trên
cơ sở tham khảo tổng hợp của các tài liệu [8,22,29], chúng tôi đưa ra các chỉ tiêu đánh

Mối quan hệ này được thể hiện ở dạng nào là tùy thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó mức độ sử dụng và quản lí tài nguyên là yếu tố quan trọng. Điều này
thường được thể hiện thông qua các giai đoạn phát triển du lịch.
Ở giai đoạn đầu, khi hoạt động du lịch mới phát triển, mức độ sử dụng tài
nguyên còn thấp, mối quan hệ thường thể hiện ở dạng quan hệ cùng tồn tại. Lúc này
hoạt động du lịch và bảo tồn tự nhiên ít có ảnh hưởng đến nhau và cùng song song
tồn tại. Tuy nhiên dạng quan hệ này rất khó duy trì lâu dài, đặc biệt khi hoạt động
du lịch phát triển hơn với mức độ sử dụng tài nguyên cao hơn và những tác động
đến môi trường cũng rõ rệt hơn.
Giai đoạn tiếp theo, mối quan hệ có thể phát triển theo hướng tích cực nếu
hoạt động du lịch được quản lí theo quy hoạch phù hợp với các quy luật tự nhiên, có
lợi cho bảo tồn và du lịch. Mối quan hệ này được coi là mối quan hệ cộng sinh,
trong đó những giá trị của tự nhiên vẫn được bảo tồn, thậm chí ở điều kiện tốt hơn,
trong khi chất lượng sản phẩm du lịch được bảo đảm, lợi ích của ngành du lịch và
khu vực được tăng cường.
Trong trường hợp ngược lại, khi du lịch phát triển mà không quan tâm đến
bảo tồn thì mối quan hệ sẽ trở nên mâu thuẫn. Thậm chí, ngay cả khi mối quan hệ
này đang là cộng sinh, song nếu không được duy trì và quản lí tốt, sẽ dễ chuyển
sang quan hệ mâu thuẫn. Trong thực tế điều này thường xẩy ra, đặc biệt trong
trường hợp khi du lịch phát triển với mục đích đơn thuần về lợi ích kinh tế.
Để đảm bảo duy trì bền vững mối quan hệ cộng sinh giữa DLST với bảo tồn,
các nhà hoạt động DLST cần thiết phải xây dựng các nguyên tắc và yêu cầu cho
DLST.
Như vậy, thoạt nhìn ta tưởng như giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du
lịch chỉ có quan hệ mâu thuẫn, nhưng thực tế giữa chúng lại có quan hệ biện chứng
sâu sắc.
b. Vai trò của bảo tồn thiên nhiên

Trích đoạn Tài nguyờn sinh vật Bản sắc văn húa và phong tục tập quỏn của cỏc dõn tộc Cỏc điều kiện phục vụ tham quan du lịch Đỏnh giỏ chung tiềm năng du lịch sinh thỏi trong VQG Xuõn Sơn Hiện trạng khỏch du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status