TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
PHAN THỊ LIÊN
•
•
Sự VẬN DỤNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH
•
V.
•
•
CỦA PHỦ ĐỊNH VÀO VIỆC PHÁT TRIỂN DU
LỊCH SINH THÁI Ở VƯỜN QUỐC GIA CÚC
PHƯƠNG (TỈNH NINH BÌNH) HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
• •
Chuyên ngành: Triết học
PHAN THỊ LIÊN
HÀ NỘI, 2015
mọi điều kiện thuận lợi, cung cấp các tư liệu cần thiết cùng với những kiến thức
thực tế quý báu giúp tôi hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này.
HÀ NỘI, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa
luận khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự đóng góp của thầy
cô cùng các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên thực hiện
Phan Thị Liên
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Giảng
viên - TS. Vi Thái Lang, tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với bất kỳ chương
trình nghiên cứu nào của các tác giả.
Neu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
HÀ NỘI, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên thực hiện
Phan Thị Liên
khai thác loại hình này là một thách thức, cũng như cần hiếu sao cho đúng, để
hành động đúng cũng có quá nhiều vấn đề phải bàn. Vậy du lịch sinh thái là gì?
Hiện có rất nhiều cách hiếu khác nhau. Tuy nhiên, soi chiếu vào năm đặc điếm
5
khái niệm của du lịch sinh thái mà Tô chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đúc
kết, thì đây là loại hình du lịch đòi hởi những ý nghĩa về bảo tồn, giáo dục và
đóng góp cho địa phương ở mức độ cao hơn của loại hình du lịch thiên nhiên
(nature tourism - loại hình du lịch với động cơ chính là quan sát và đề cao thiên
nhiên) đơn thuần.
Du lịch sinh thái, theo đúng nghĩa của nó, không chỉ đáp ứng yêu cầu của
mọi khách du lịch mà còn dành cho những người thật sự lấy giá trị sinh thái làm
mục tiêu của chuyến đi. Không chỉ đơn giản là “thưởng thức thiên nhiên ” một
cách thiếu ý thức, mà đòi hỏi con người phải biết tôn trọng, học hỏi và gìn giữ
thiên nhiên. Qua đó, có những hành động cụ thế đế bảo tồn thiên nhiên và văn
hóa của người dân, đem lại lợi ích kinh tế - văn hóa - xã hội cho cộng đồng địa
phương. Khi đó, con người được thưởng thức, thu nhận được những bài học sâu
sắc về thiên nhiên, con người và hệ sinh thái.
Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn
hóa cộng đồng, sự phát triến du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn
lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc
gia cũng như cộng đồng người dân các địa phương, nhất là người dân ở các vùng
sâu, vùng xa - nơi có các khu bảo tồn tự nhiên và các cảnh quan hấp dẫn. Ngoài
ra, du lịch sinh thái còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng
đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi
giải trí.
Vườn quốc gia Cúc Phương là đơn vị bảo tồn thiên nhiên được thành lập
sớm nhất ở Việt Nam. Với nhiều lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng về
-
Lê Thu Hương (2007), Xây dựng mỏ hình du lịch vì người nghèo tại Vườn
quốc gia Cúc Phương, Luận văn Thạc sĩ Du lịch học, Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Hà Nội. Luận văn đã tiến hành khảo sát về: tài nguyên du
lịch, hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, nguồn nhân
lực, vai trò của cộng đồng dân cư địa phương, kết qủa hoạt động kinh doanh du
7
lịch của Vườn quốc gia Cúc Phương từ năm 2002 - 2006, từ đó xác định được vai
trò và sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch. Tiến hành xây dựng mô
hình tố hợp du lịch nhằm xóa đói giảm nghèo: cấu trúc tố hợp, nguồn nhân lực,
đầu tư các hạng mục chủ yếu và nguồn vốn đầu tư, hoạt động, quan hệ giữa tố
hợp du lịch và công tác quảng cáo, nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề du lịch vì
người nghèo tại Vườn quốc gia Cúc Phương.
-
Trương Văn Đạo (2008), Xác định giả trị tài nguyên du lịch của Vườn
quốc gia Cúc phương bằng phương pháp TCM và CVM, Luận văn Thạc sĩ
Du lịch học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội. Luận văn đã
trình bày quá trình hình thành, phát triển và nội dung của phương pháp chi
phí du lịch (TCM) và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM). Tìm hiếu
các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch tự nhiên; điều kiện kinh tế - xã
hội, tài nguyên du lịch nhân văn; cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và
nguồn nhân lực du lịch; hiện trạng khai thác và bảo tồn các tài nguyên du
lịch của Vườn quốc gia Cúc Phương. Từ đó, xác định giá trị du lịch của
Vườn quốc gia Cúc Phương bằng cách áp dụng phương pháp chi phí du
của triết học. Cho nên đây chính là lí do đế tác giả khóa luận nghiên cứu thực
hiện đề tài: “Sự vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc phát triến du
lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cúc Phương (tình Ninh Bình) hiện nay 99. Và các
công trình nghiên cứu và các sách báo kể trên sẽ là những nguồn tư liệu tham
khảo rất đáng quý, giúp tác giả làm nên sự thành công của đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cún
3.1.
Mục đích nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này, tác giả hy vọng mình sẽ đóng góp được một
phần tiếng nói cũng như trí tuệ, giúp đặt thêm những viên gạch nhỏ xây dựng nền
tảng cho ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh Ninh Bình nói riêng,
từ đó xác định hướng khai thác hợp lý, kết hợp phát triến kinh tế với việc bảo vệ
môi trường tự nhiên, phát triến du lịch bền vừng.
Góp phần quảng bá rộng rãi hình ảnh của Vườn quốc gia Cúc Phương đối
với khách du lịch trong nước và quốc tế. Đấy mạnh phát triển du lịch của tỉnh
Ninh Bình nói chung và Vườn quốc gia Cúc Phương nói riêng.
9
Bên cạnh đó, nghiên cún này cũng nhằm mục đích tìm kiếm những định
hướng phù họp nhất và các giải pháp thật hiệu quả cho việc phát triến du lịch sinh
thái với mong muốn áp dụng vào thực tế tại Vườn quốc gia Cúc Phương (tỉnh
Ninh Bình) làm một mẫu điển hình trong ngành du lịch.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan cơ sở lý luận về quy luật phủ định cuả phủ định trong Triết học
về lý luận
6.1.
Ý nghĩa đầu tiên của khóa luận này chính là dưói góc độ của triết học, theo
cách nhìn và sự vận dụng của quy luật phủ định của phủ định, tù’ đó đưa ra cái
nhìn mới mẻ và đúng đắn hơn về loại hình du lịch sinh thái, đặc biệt đó lại là một
trong những ngành đóng góp GDP khá lớn cho nền kinh tế Việt Nam.
Ngoài ra, đề tài này đã xác định được những tiêu chí nhằm đánh giá một
cách toàn diện tiềm năng du lịch sinh thái của một vườn quốc gia, cụ thế đó là
Vườn quốc gia Cúc Phương. Trên cở sở đó, có thế xây dựng Vườn quốc gia Cúc
Phương thành một mẫu hình lý tưởng cho sự phát triển của loại hình du lịch sinh
thái nói chung trong cả nước, góp phần thúc đấy loại hình này vươn tầm quốc tế.
về thực tiễn
6.2.
Ket quả nghiên cún khóa luận là một nguồn tài liệu đáng tin cậy, đặc biệt
hơn là nó được tiếp cận dưới góc độ của triết học, của sự vận dụng quy luật phủ
định của phủ định cho việc quy hoạch phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia
Cúc Phương (tỉnh Ninh Bình) vào thực tế hơn, và sẽ là nguồn tài liệu tham khảo
đáng quý cho những ai quan tâm nghiên cứu về vấn đề du lịch nói chung và du
lịch sinh thái nói riêng.
Bên cạnh đó, phát triến du lịch sinh thái sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo
tồn tại Vườn quốc gia, nâng cao đời sống tốt đẹp, độc đáo của đồng bào dân tộc.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì khóa luận bao gồm 3
chương, 6 tiết.
Chưoìig 1
theo sự biến đổi nói chung, là sự thay cũ đổi mới tạo nên sự vận động của
sự vật.
-
Quan điếm triết học Mác: Sự phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự
vật khác trong quá trình vận động phát triển. Thực chất sự phủ định là sự
biến đối nói chung, là sự thay đối cái cũ đối mới tạo nên sự vận động của
sự vật.
1.1.1.2.
Khải niệm phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng đế chỉ sự phủ định tự thân,
sự phát trien tự thân, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến
bộ hon sự vật cũ.
1.1.2.
Đặc trưng của phủ định biện chứng
1.1.2.1.
Tính khách quan
Phủ định biện chứng mang tính khách quan vì nguyên nhân của sự phủ
định nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó chính là kết quả giải quyết những mâu
thuẫn bên trong sự vật. Nhờ việc giải quyết các mâu thuẫn mà sự vật luôn phát
triển, vì thế, phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan trong quá trình vận
Nội dung cua quy luật phủ định của phủ định
Sự vật ra đời và tồn tại đã khắng định chính nó. Trong quá trình vận động
của sự vật ấy, những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ, sự phủ
định biện chúng diễn ra - sự vật đó không còn nữa mà bị thay thế bởi sự vật mới,
trong đó có những nhân tố tích cực được giữ lại. Song sự vật mới này sẽ lại bị
phủ định bởi sự vật mới khác. Sự vật mới khác ấy dường như là sự vật đã tồn tại,
1
3
song không phải là sự trùng lặp hoàn toàn, mà nó được bố sung những nhân tố
mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực thích hợp với sự phát triền tiếp tục của
nó. Sau khi sự phủ định hai lần phủ định của phủ định được thực hiện, sự vật mới
hoàn thành một chu kỳ phát triên.
Ph.Ảngghen đã đưa ra một thí dụ đế hiếu về quá trình phủ định này: “Hãy
lấy ví dụ hai hạt đại mạch. Có hàng nghìn triệu hạt đại mạch giống nhau được
xay ra, nấu chín và đem làm bia, rồi tiêu dùng đi. Nhưng nếu một hạt đại mạch
như thế gặp những điều kiện bình thường đối với nó, nếu nó rơi vào một miếng
đất thích hợp, thì nhờ ảnh hưởng của sức nóng và độ âm, đối với nó sẽ diên ra
một sự biến hóa riêng, nó nảy mầm, hạt đại mạch biến đi, không còn là hạt đại
mạch nữa, nó bị phủ định, bị thay thế bởi cải cây do nó đẻ ra, đấy ỉà sự phủ định
của hạt đại mạch. Nhưng cuộc sống bình thường của cây này sẽ như thế nào? Nó
lớn lên, ra hoa, thụ phấn và cuối cùng sinh ra những hạt đại mạch mới và khi hạt
đại mạch đó chín thì thân cây chết đi, bản thân nó bị phủ định. Kết quả của sự
phủ định này ỉà chủng ta lại cỏ hạt đại mạch như ban đầu, nhưng không phải chỉ
là một hạt mà nhiều gấp mười, hai mươi, ba mươi lần ”[11; tr. 193]
Ví dụ trên cho thấy, từ sự khắng định ban đầu (hạt thóc ban đầu), trải qua
sự phủ định lần thứ nhất (cây ỉủa phủ định hạt thóc) và sự phủ định lần thứ hai
vật - xu hướng phát triền. Song sự phát triển đó không phải diễn ra theo đường
thẳng, mà theo đường “xoáy ốc”. V.I.Lênin đã khái quát con đường đó như sau:
“Sự phát trien hình như diên lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình
thức khác, ở một trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định ”); sự phát trien có
thê nói là theo đường trôn ốc chứ không theo đường thẳng... ” [9; tr.65].
Sự phát trien theo đường “xoáy ốc” là sự biếu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc
trưng của quá trinh phát trien biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại,
tính tiến lên. Mỗi vòng của đường “xoáy ốc” dường như thế hiện sự lặp lại,
nhưng cao hơn, thế hiện trình độ cao hơn của sự phát triển.
Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hiện ở sự nối tiếp
nhau từ dưới lên của các vòng trong đường “xoáy ốc
1
5
Từ sự phân tích đã được nêu ra ở trên, chúng ta khái quát về nội dung cơ
bản của quy luật phủ định của phủ định như sau:
Quy luật phủ định của phủ định nêu lên mối liên hệ, sự kế thừa giữa cải
khăng định và cải phủ định, nhờ đó phủ định biện chứng là điều kiện cho sự phát
trien; nỏ bảo tồn nội dung tích cực của các giai đoạn trước và bô sung thêm
những thuộc tính mới làm cho sự phát trien đi theo đường “xoáy ắc”.
Nhận xét về vai trò của quy luật này, Ph.Ănghghen đã viết: "... phủ định
cái phủ định là gì? Là một quy luật vô cùng phô biên và chính vì vậy mà có một
tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng to lớn về sự phát trien của tự nhiên, của
lịch sử và của tư duy” [11; tr.200].
1.1.4. Ỷ nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu về quy luật phủ định của phủ định, chúng ta rút ra một số ý
nghĩa phương pháp luận sau:
Thứ nhất, quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) năm 1993: “Du lịch
được hiêu là tỏng họp các môi quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt
nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cả nhân hay tập thê ở bên ngoài nơi
cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải là nơi
làm việc của họ ” [1; tr.7].
Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhung các nhà
nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiên
cứu khác nhau.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai
khía cạnh:
Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con
người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng
cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Theo định nghĩa này, du lịch
được xem ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch.
Thứ hai, du lịch là một ngành kỉnh doanh tống hợp có hiệu quả cao về
nhiều mặt: nâng cao hiếu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân
tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là
1
7
tình hừu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh
mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khấu hàng hóa và dịch vụ
tại chỗ. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế.
Luật Du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, khóa XI
năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động cỏ
liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiếu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định ” [1; tr.8].
còn tương đoi nguyên sơ đế thưởng thức và hiếu biết thiên nhiên (có kèm theo
các đặc trung vãn hóa - quả khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn,
giảm thiếu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát trỉến kỉnh tế - xã
hội của nhân dãn địa phương ” [1; tr. 138].
Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới (Ecotourism Society) cũng đưa ra định
nghĩa tương tự về du lịch sinh thái: “Du lịch sinh thải là du lịch có trách nhiệm
với các khu thiên nhiên, nơi có môi trường được bảo tồn và lợi ích của nhân dân
địa phương được bảo đảm ” [1; tr. 138].
Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cún của các nhà khoa học quốc tế,
Hội thảo xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển Du lịch sinh thái (Hà
Nội, tháng 9/1999) đưa ra một định nghĩa chính thức về du lịch sinh thái cho Việt
Nam như sau: “Di/ lịch sinh thái là một ỉoại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và
văn hóa bản địa có tỉnh giáo dục môi trường và đóng góp cho các nô lực bảo tồn
và phát trỉến bền vững với sự tham gia tích cực của cộng động địa phương [1;
tr.l39].
Như vậy, du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và
văn hóa bản địa, bao hàm các yếu tố bền vững như mang tính giáo dục môi
trường, hỗ trợ bảo tồn và cộng đồng cư dân địa phương.
1.2.1.3.
Những đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thải.
Mọi hoạt động du lịch nói chung là du lịch sinh thái nói riêng đều được
thực hiện dựa trên những tài nguyên du lịch tự nhiên và những giá trị văn hóa lịch
1
9
Tính liên vùng, biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thế các
điếm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với
nhau.
-
Tính mùa vụ, biếu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với
cường độ cao trong năm. Tính mùa vụ thế hiện rõ nhất ở loại hình du lịch
nghỉ biến, thế thao theo mùa... (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình
2
0
du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí... (theo tính chất công việc của
những người hưởng thụ sản phẩm du lịch).
-
Tính chi phí, biếu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch của các du khách là
hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải mục đích kiếm tiền.
-
Tính xã hội hóa, biếu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã
hội tham gia có thế trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động du lịch.
Bên cạnh những đặc trưng chung của ngành du lịch, thì du lịch sinh thái
cũng hàm chứa những đặc trưng riêng, bao gồm:
-
-
Giáo dục nâng cao hiểu biết cho khách du lịch về môi trường tự nhiên, qua
đó tạo ý thức tham gia của du khách vào nỗ lực bảo tồn.
-
Góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái tự
nhiên, góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của vùng, của quốc
gia,...
- Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng động địa phương.
-
Khách du lịch được hòa nhập với hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn nhưng
phải có trách nhiệm giữ gìn hệ sinh thái đang hòa nhập.
-
Lượng khách du lịch luôn được điều hòa ở mức vừa phải để đảm bảo cho
không gian, môi trường không bị quá tải (tức là không vượt quá giới hạn
tối đa về sức chứa của điểm du lịch).
-
Phát triển du lịch sinh thái phải phù họp với nguyên tắc tích cực về môi
trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiệm đạo đức đối với môi
trường tự nhiên, không được làm tốn hại đến tài nguyên môi trường.
-
Người hướng dẫn và các thành viên tham gia du lịch sinh thái phải có sự
chuấn bị kỹ càng về nội dung hướng dẫn và phải có hiếu biết nhận thức
cao về môi trường sinh thái.
-
Cần có sự đào tạo đối với tất cả các thành viên của các đon vị tham gia
vào du lịch sinh thái (chính quyền địa phương, cơ quan quản lý du lịch,
hãng lữ hành và khách du lịch trước, trong và sau chuyến đi).
1.2.1.5. Ỷ nghĩa của phát triến du lịch sinh thải
Phát triền du lịch sinh thái là khai thác có hiệu quả những giá trị của tài
nguyên du lịch sinh thái kèm theo những giá trị về cơ sở hạ tầng và lao động, tạo
ra sức hấp dẫn về tài nguyên du lịch sinh thái bằng các sản phấm du lịch có sức
cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của du khách, đem lại lợi ích cho xã hội. Sự phát
triển du lịch sinh thái có vai trò vô cùng to lớn.
Thứ nhất, du lịch sinh thái với bảo vệ môi trường.
Môi trường và du lịch có mối quan hệ biện chứng với nhau. Môi trường là
các thông số đầu vào, tiền đề để phát triển mạnh du lịch, ngược lại thông qua phát
triên du lịch sinh thái sẽ giúp môi trường được bảo vệ và nâng cao chất lượng.
Du lịch sinh thái được xem là công cụ tốt nhất để bảo tồn thiên nhiên, nâng
cao chất lượng môi trường tự nhiên, đề cao các giá trị cảnh quan và nhận thức của
toàn dân về sự cần thiết phải bảo vệ hệ sinh thái dễ bị tốn thương, khắc phục
những tài nguyên đang bị hủy hoại.
Phát triển du lịch sinh thái đồng nghĩa với bảo vệ môi trường vì du lịch
sinh thái tồn tại gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điến hình.
Du lịch sinh thái được xem là công cụ bảo tồn đa dạng sinh học, nếu các hoạt
động du lịch sinh thái được thực hiện một cách đúng nghĩa thì sẽ giảm thiếu được
trên cơ sở tài nguyên và nội lực của mình. Phát triển du lịch sinh thái góp phần
cải thiện đáng kế đời sống văn hóa xã hội của nhân dân. Du lịch sinh thái tạo điều
kiện đấy mạnh sự giao lưu văn hóa giữa du khách và người dân địa phương, góp
phần làm cho đời sống văn hóa - xã hội nhũng vùng này ngày càng trở nên sôi
động hơn, văn minh hơn. Du lịch sinh thái phát triền tốt, nhiều dịch vụ du lịch
2
4
chất lượng cao được tăng cường, điều đó tạo điều kiện giữ gìn trật tự, an toàn xã
hội.
Tuy nhiên, về mặt người dân bản địa dù duới hình thức nào khi thương mại
hóa thì văn hóa của họ cũng sẽ bị ảnh hưởng, du lịch luôn du nhập những thói
quen có thế tốt và cũng có thế tiêu cực. Du lịch sinh thái sẽ góp phần hạn chế tối
thiều mặt tiêu cực thông qua giáo dục có mục đích cho du khách, cộng đồng địa
phương khi tham gia vào hành trình du lịch sinh thái.
- Thứ ba, du lịch sinh thái góp phần tăng GDP.
Du lịch là một ngành kinh doanh sinh lợi hơn bất kỳ một ngành kinh tế nào
khác. Lọi nhuận hàng năm mang lại cho các quốc gia này hàng trăm triệu USD.
Theo số liệu điều tra của Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới thì du lịch sinh
thái chiếm khoảng 20% thị phần du lịch thế giới, ước tính du lịch sinh thái đang
tăng trưởng hàng năm với tốc độ trung bình tò 10 - 30%. Sự đóng góp kinh tế của
du lịch sinh thái không chỉ phụ thuộc vào lượng tiền mang đến khu vực mà điều
quan tâm là lượng tiền đọng lại ở khu vực mà nhờ đó tạo ra được những tác động
nhân bội. Theo ước lượng chung là không đến 10% số tiền tiêu của du khách
được nằm lại ở cộng đồng gần điểm du lịch sinh thái vì phần lớn kinh phí được sử
dụng cho tiếp thị và đi lại trước khi du khách đến điểm du lịch.
1.2.2.