Lời cảm ơn
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn TS. Trịnh Quang Hảo –
Nguyên Viện Trưởng Viện Ngiên Cứu Phát Triển Du Lịch Việt Nam, là người
thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
khóa luận.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban Quản Lý Vườn Quốc Gia Cúc Phương
– tỉnh Ninh Bình đã giúp đỡ, cung cấp nguồn tư liệu trong quá trình thực hiện đề
tài khóa luận này.
Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cán bô, nhân viên
và nhân dân quanh khu vực rừng quốc gia Cúc Phương đã giúp đỡ nhiệt tình trong
quá trình em đi thực tế, thu thập tài liệu để làm khóa luận.
Đặc biệt em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới quý thầy cô trong khoa Du lịch
đã giúp đỡ, tận tình chỉ dạy em trong những năm học tập tại trường.
Trong quá trình nghiên cứu do hạn chế về thời gian, kiến thức và tài liệu có
hạn nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận
được sự chỉ bảo và góp ý của quý thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
MỤC LỤC
Phần mở đầu 1
Chương I 4
Tổng quan lý thuyết về du lịch sinh thái – Du lịch sinh thái Vườn
quốc gia Cúc Phương 4
1.1. Tổng quan về du lịch sinh thái 4
1.1.1. Khái niệm về du lịch 4
1.1.2. Khái niệm du lịch sinh thái 4
1.1.3. Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái 5
1.1.4. Đặc trưng của du lịch sinh thái 6
1.1.5. Những điều kiện và yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 8
1.2. Giới thiệu về Vườn quốc gia Cúc Phương 9
1.2.1. Lịch sử hình thành 9
3.2.1. Giải pháp 1: Hoàn thiện phân cấp quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương 47
3.2.2. Giải pháp 2: Về công tác quy hoạch, bảo tồn các danh lam tại Vườn quốc gia Cúc
Phương 48
3.2.3. Giải pháp 3: Về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Vườn quốc gia Cúc Phương.
50
3.2.4. Giải pháp 4: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sinh thái tại
Vườn quốc gia Cúc Phương 51
3.2.5. Giải pháp 5: Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch. Thiết kế các tour du lịch kết hợp với
các địa danh nổi tiếng của tỉnh Ninh Bình nhằm thu hút khách du lịch 52
3.2.6. Giải pháp 6: Giữ gìn an ninh trật tự xã hội 56
3.2.7. Giải pháp 7: Giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp tại Vườn quốc gia Cúc Phương.57
3.2.8. Giải pháp 8: Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá, tiếp thị du lịch 57
Kết Luận 60
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Đặc điểm cơ cấu đất đai tài nguyên rừng của VQG 14
Bảng 2: Loại hình cơ sở lưu trú tại Vườn quốc gia 18
Bảng 3: Bộ máy tổ chức quản lý tại Vườn quốc gia Cúc Phương 23
Bảng 4: Hiện trạng biên chế công chức, viên chức của Vườn quốc
gia Cúc Phương 24
Bảng 5: Chương trình bảo tồn Rùa 27
Bảng 6: Chương trình bảo tồn Thú ăn thịt và Tê tê 27
Bảng 7: Bảng thống kê số lượng khách du lịch tại Cúc Phương 33
Bảng 8: Doanh thu từ hoạt động du lịch tại Cúc Phương 35
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là “sứ giả của hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, các dân
tộc”. Trên thế giới, du lịch hiện xem là một trong những ngành kinh tế hàng đầu,
phát triển với tốc độ cao thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to
lớn về kinh tế - xã hội mà nó mang lại. Điều này càng thể hiển rõ hơn trước xu thế
linh trưởng đặc biệt quý hiếm là voọc quần đùi trắng, có trung tâm cứu hộ linh
trưởng đầu tiên ở Việt Nam. Vườn quốc gia Cúc Phương là địa chỉ tin cậy của các
nhà khoa học đến nghiên cứu và làm việc. Vườn quốc gia Cúc Phương trải dài trên
ba tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa và Ninh Bình với nhiều cộng đồng dân cư sinh sống,
là nơi có hoạt động du lịch từ khá sớm, hàng năm đón một lượng lớn khách du lịch
đến thăm quan. Cúc Phương chính là nơi điển hình cho việc nghiên cứu các hoạt
động du lịch sinh thái cũng như khai thác các lợi thế của điều kiện tự nhiên, dân cư
và lãnh thổ. Chính vì vậy, việc khai thác các tiềm năng du lịch để phát triền du lịch
sinh thái tại Vườn quốc gia Cúc Phương là nhu cầu cấp thiết cho Vườn quốc gia
Cúc Phương nói riêng và du lịch cả nước nói chung.
2. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng khai thác du
lịch sinh thái, kết quả kinh doanh của Vườn quốc gia Cúc Phương để từ đó tìm ra
những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ du lịch sinh thái
tại vườn quốc gia; đưa ra các đề xuất về tổ chức quản lý, kinh doanh du lịch sinh
thái tại Vườn quốc gia Cúc Phương – tỉnh Ninh Bình.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu chính của khóa luận
- Nghiên cứu tiềm năng du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Cúc Phương.
- Đánh giá tình hình kinh doanh du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Cúc
Phương trong 3 năm 2008 – 2011.
- Từ đó đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
phục vụ du lịch và khai thác các tiềm năng du lịch sinh thái của Vườn quốc gia
2
Cúc Phương. Từ đó góp phần thúc đẩy du lịch của tỉnh Ninh Bình phát triển một
cách hiệu quả.
4. Phạm vi nghiên cứu
• Nghiên cứu hiện trạng nguồn tài nguyên du lịch của Vườn quốc gia Cúc
Phương.
• Các hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cúc Phương,
kết quả kinh doanh du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cúc Phương trong 3
dạng chuyển cư đặc biệt, cách thức sử dụng thời gian tại nơi đến và các hoạt
động kinh tế, xã hội liên quan diễn ra tại đó. Trong cuốn “Du lịch: Môi trường
vật lý. Kinh tế và tác động xã hội” (1982) Mathieson và Wall đã đưa ra định
nghĩa như sau:
“Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân đến những nơi ngoài khu
vực cư trú và làm việc thường xuyên của họ, các hoạt động được thực hiện trong
thời gian lưu trú tại những nơi đó và các tiện nghi được sinh ra nhằm thỏa mãn
nhu cầu của họ”
Ở Việt Nam khái niệm này được định nghĩa chính thức trong pháp lệnh du
lịch (1999) như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ dưỡng trong một
thời gian nhất định ”.
Du lịch là một ngành liên quan đến rất nhiều thành phần như: Du khách,
phương tiện giao thông, địa bàn đón khách ở đó diễn ra các hoạt động du lịch cũng
như các hoạt động kinh tế - xã hội liên quan đến du lịch.
1.1.2. Khái niệm du lịch sinh thái.
- Định nghĩa về du lịch sinh thái tiêu biểu sau đây được Hector Ceballos –
Lascurain đưa ra lần đầu tiên vào năm 1987: “ Du lịch sinh thái là du lịch đến
những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên
4
cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa
được khám phá”.
- Định nghĩa của Australia: “ Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên
có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lý
bền vững về mặt sinh thái”.
- Định nghĩa của hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế: “ Du lịch sinh thái là việc
đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và
cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”.
- Tại Hà Nội vào tháng 9/1999, Tổng cục du lịch Việt Nam đã phối hợp
cùng các tổ chức quốc tế như ASCAP, WWF, IUCN với sự tham gia của các
đổi tập tục sinh hoạt văn hóa truyền thồng của cộng đồng dân cư địa phương sẽ
làm mất đi sự cân bằng sinh thái, tự nhiên vốn có của khu vực và dần dần dẫn đến
sự thay đổi hệ sinh thái đó. Hậu quả của nó sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động du
lịch sinh thái.
- Du lịch sinh thái phải tạo cơ hội, có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng
đồng địa phương. Đây vừa là nguyên tắc hoạt động, đồng thời lại vừa là mục tiêu
hướng tới của du lịch sinh thái.
- Các doanh nghiệp du lịch phải dành một phần lợi nhuận từ hoạt động du
lịch sinh thái của mình để đóng góp vào việc nhằm cải thiện điều kiện sống của cư
dân địa phương để cuộc sống của họ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự
nhiên và qua đó họ sec nhận thấy được lợi ích của việc bảo vệ môi trường và tài
nguyên thiên nhiên để phát triển du lịch sinh thái.
1.1.4. Đặc trưng của du lịch sinh thái.
Sự khác biệt cơ bản của du lịch sinh thái với các loại du lịch khác ở việc
đảm bảo đầy đủ các yếu tố đặc trưng chủ yếu sau:
*Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên và các yếu tố văn hóa bản địa: Đối
tượng của du lịch sinh thái là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên điển hình với tính
đa dạng sinh học cao, còn tương đối nguyên sơ. Điều này giải thích tại sao hoạt động
6
du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên đặc biệt ở các
Vườn Quốc Gia.
*. Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là một đặc trưng
khác biệt nổi bật của du lịch sinh thái vì nó được phát triển trong môi trường có
những hấp dẫn về ưu thế tự nhiên trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử
dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý trên cơ sở bền vững
của hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch. Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm
khách thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng phương tiện, tiện nghi của du
khách thường thấp hơn yêu cầu về kinh nghiệm du lịch có chất lượng. Các hoạt
động trong du lịch sinh thái thường ít gây tác động đến môi trường, và du khách
sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường.
hệ sinh thái, sinh học yêu cầu còn phải biết cộng tác với các nhà quản lý các khu
bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc
bảo vệ một cách bền vững các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, góp phần cải
thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách
du lịch.
- Để hạn chế tới mức tối đa các tác động của hoạt động du lịch sinh thái đến
tự nhiên và môi trường, du lịch sinh thái phải được tổ chức với sự tuân thủ triệt để
lý thuyết về “ sức chứa”. Về mặt vật lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa
mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về
không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ. Nếu
vượt quá sức chứa sẽ dẫn đến những tác động sau:
• Về mặt sinh học, sức chứa nếu lớn hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của
môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du khách
và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra. Và sức chứa này sẽ đạt tới giới hạn khi
số lượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh
hưởng tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã hay làm phá vỡ tập
quán kết bầy của chim, làm đất bị xói mòn.
8
• Về mặt tâm lý, sức chứa mà nếu vượt quá thì bản than du khách sẽ bắt đầu
cảm thấy khó chịu vì sự “đông đúc” và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi
sự có mặt quá đông của các du khách khác như: khó quan sát các loại thú
hoang dã, đi lại khó khăn hơn hay sự khó chịu nảy sinh do rác thải bừa bãi.
• Về mặt xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà nếu vượt quá sẽ
bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời
sống văn hóa – xã hội, kinh tế - xã hội của điểm du lịch. Cuộc sống bình
thường của cư dân địa phương cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập.
1.2. Giới thiệu về Vườn quốc gia Cúc Phương
1.2.1. Lịch sử hình thành.
Vườn quốc gia Cúc Phương là khu rừng nguyên sinh còn sót lại trên dãy núi
đá vôi nằm gần kề châu thổ Sông Hồng với nền văn minh lúa nước lâu đời của cư
nguyên văn hoá, lịch sử, khảo cổ, các cảnh quan có giá trị thẩm mỹ đặc biệt, phục
hồi những khu vực đã bị tác động hoặc bị tàn phá.
+ Tổ chức điều tra, nghiên cứu khoa học, thực nghiệm phục vụ công tác
bảo vệ, phục hồi quản lí và khai thác nguồn tài nguyên hợp lí.
+ Đảm nhiệm làm tốt dịch vụ du lịch sinh thái trên cơ sở tôn trọng luật lệ,
nguyên tắc bảo vệ và sử dụng tài nguyên của vườn quốc gia, tạo điều kiện cho mọi
người tham quan, học tập, giải trí, thưởng thức giá trị của vườn quốc gia, nâng cao
ý thức bảo vệ môi trường…
1.2.2. Điều kiện tự nhiên.
Cách biển đông 60km theo đường chim bay về phía tây, khu rừng Cúc
Phương nổi lên như một ốc đảo xanh giữa đồng bằng của 4 huyện: Nho Quan
(thuộc tỉnh Ninh Bình), Thạch Thành (thuộc tỉnh Thanh Hoá), Yên Thuỷ và Lạc
Sơn (thuộc tỉnh Hoà Bình). Với vị trí địa lý nằm ở toạ độ: 20
0
14' - 20
0
24' vĩ độ bắc,
105
0
29' - 105
0
44' kinh độ đông.
Vườn quốc gia Cúc Phương cách thủ đô Hà Nội 120km về hướng tây nam
theo đường ô tô, nằm không xa đường quốc lộ chính và chỉ cách quốc lộ 1A 35km,
có đường giao thông vào dễ dàng tạo điều kiện thu hút khách tham quan. Hơn nữa
10
do vị trí nằm gần thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế xã hội của cả nước nên có thể
thu hút nguồn khách từ Hà Nội và các vùng lân cận thực hiện chuyến tham quan
Cúc Phương khá tiện lợi với thời gian trong ngày.
Cúc Phương lại nằm trong quần thể du lịch Ninh Bình nổi tiếng của cả nước
lập. Với địa hình cao hơn hẳn so với khu vực lân cận, đây là một trong những điều
kiện thuận lợi để khu rừng Cúc Phương này được bảo vệ tồn tại khá nguyên vẹn
đến ngày nay, trước sức ép khai thác lâm sản của một biển người vây quanh trên
đường ranh giới dài 120km.
Do đặc điểm của cấu tạo địa lý như trên nên khí hậu của Cúc Phương có
nhiều điểm khác biệt. Khí hậu Cúc Phương thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió
mùa, có sự phân hoá theo mùa. Do thảm thực vật dày, cùng với địa hình tương đối
cao nên nhiệt độ ở đây luôn thấp hơn ở các vùng xung quanh. Nhiệt độ bình quân
năm là 22,5
0
C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39
0
C, thấp tuyệt đối là 4,9
0
C.
Lượng mưa bình quân năm ở đây dao động từ 1.700 - 2.200mm, cơn mưa to
thường xuất hiện vào cuối tháng 8 và tháng 9. Độ ẩm của Cúc Phương tương đối
cao, bình quân là 85% và khá đều trong năm, tháng thấp nhất trong năm không
dưới 75%. Cúc Phương một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, mùa
mưa bắt đầu từ tháng 5 - tháng 11 (lượng mưa 100mm trở lên) lượng mưa chiếm
khoảng 88% tổng lượng mưa cả năm, mùa hanh khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau và lượng mưa chiếm khoảng 12%. Ở Cúc Phương một năm có khoảng 190 -
200 ngày mưa, số ngày không mưa đạt trên 150 ngày phù hợp với mức độ, khá
thuận lợi cho hoạt động du lịch nhất là đối với du lịch sinh thái. Tuy nhiên vào
những ngày mưa hoạt động du lịch bị hạn chế gây khó khăn cho việc đi lại, tham
quan trong rừng của du khách vì có nhiều vắt và đường khó đi.
Nhìn chung khí hậu Cúc Phương phân theo mùa, mùa mưa gặp khó khăn đi
lại, tham quan do hệ thống thoát nước là các dòng suối ngầm bị quá tải dẫn đến
ngập lụt ở một vài nơi, đường đi bộ ở các tuyến tham quan có trở ngại. Vườn quốc
gia Cúc Phương được đánh giá tổng hợp là khá thích nghi cho hoạt động du lịch,
và trao đổi trên thị trường mang nhãn hiệu nước khoáng Cúc Phương.
13
1.2.3. Tài nguyên thiên nhiên.
Qua điều tra thống kê tổng hợp tài nguyên rừng và sử dụng đất của Vườn
quốc gia Cúc Phương được thể hiện như sau:
Bảng 1. Đặc điểm cơ cấu đất đai tài nguyên rừng của VQG
STT Hạng Mục Diện tích (ha) Tỷ trọng (%)
1 I. Đất lâm nghiệp 21.811,6 24,60
2 1. Đất có rừng 16.686,3 18,82
3 1.1. Rừng tự nhiên 16.605,8 18,73
4 - Rừng gỗ núi đất 1.110,1 1,25
5 + Rừng giầu 526,8 0,59
6 + Rừng trung bình 328,8 0,37
7 + Rừng nghèo 240,0 0,27
8 + Rừng non phục hồi 14,5 0,02
9 - Rừng gỗ núi đá 15.307,4 17,27
10 Rừng tre nứa 188,3 0,21
11 1.2. Rừng trồng 80,5 0,09
12 2. Đất không có rừng 5.125,3 5,78
13 2.1. Núi đất 2.008,4 2,27
14 - Trảng cỏ 1.424,6 1,61
15 - Trảng cây bụi 342,1 0,39
16 - Cây gỗ rải rác 241,7 0,27
17 2.2. Núi đá 3.116,9 3,52
18 - Cây bụi 3.116,9 3,52
19 II. Đất nông nghiệp 78,9 0,09
20 III. Đất khác 305,5 0,34
Tổng 88.660,4 100
(Nguồn: số liệu thống kê của ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương)
Với đặc trưng là rừng mưa nhiệt đới, xanh quanh năm, Cúc Phương có quần
hơn 40 loài dơi đã được ghi nhận tại đây. Nhiều nhóm sinh vật khác cũng đã được
điều tra, nghiên cứu ở Cúc Phương trong đó có ốc. Khoảng 111 loài ốc đã được ghi
nhận trong một chuyến điều tra gần đây trong đó có 27 loài đặc hữu. Khu hệ cá
trong các hang động ngầm cũng đã được nghiên cứu, ít nhất đã có 1 loài cá được
ghi nhận tại đây là loài đặc hữu đối với vùng đá vôi, đó là cá Niết hang Cúc
Phương. Cúc Phương đã xác định được 280 loài bướm, 7 loài trong số đó lần đầu
tiên được ghi nhận ở Việt Nam tại Cúc Phương vào năm 1998.
15
1.2.4. Kinh tế và xã hội.
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trong một phần đất đai của 15 xã, thuộc 4
huyện của 3 tỉnh. Hiện nay vùng này có khoảng 1215 hộ dân sinh sống với trên
62350 nhân khẩu sống ở vùng đệm, mật độ chung cho toàn vùng gồm 15 xã là 138
người/km
2
nhưng dân số phân bố không đều. Một số xã có mật độ dân số thấp như
Cúc Phương 23 người/km
2
, Thạch Lâm 38 người/km
2
, Kỳ Phú 72 người/km
2
, Văn
Phương 454 người/km
2
, Yên Trị 354 người/km
2
.
Do đặc điểm dân cư chủ yếu tập trung ở vùng thấp gần các trục đường giao
thông, nên phân bố lao động và sản xuất cũng tập trung chủ yếu ở đây. Dân tộc chủ
yếu là người Mường và người Kinh. Người Mường chủ yếu phân bố ở các Bản
lan. Động vật mà họ bắt và săn bắn đó là cua, ốc đá, cá, gà rừng, các loại bò sát
(rắn, tắc kè). Thú và các loài động vật hoang dã khác, những hoạt động đốt rừng
làm nương dẫy, chăn thả gia súc trong rừng cũng ảnh hưởng tới tài nguyên thiên
nhiên ở đây. Hoạt động sinh kế của dân cư trong khu vực Vườn quốc gia đã và
đang có nhiều ảnh hưởng xấu đến tài nguyên thiên nhiên của Vườn, đòi hỏi Ban
quản lý phải có giải pháp hữu hiệu để vừa bảo vệ phát triển tài nguyên vừa nâng
cao đời sống cho nhân dân địa phương.
1.2.5. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia.
• Cơ sở lưu trú
Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường có thể đáp ứng nhhu cầu
lưu trú cho khoảng 300 khách bao gồm cả cơ sở vật chất ở khu cổng vườn và khu
trung tâm Bống.
17
Bảng 2: Loại hình cơ sở lưu trú tại Vườn quốc gia
Loại phòng Trang thiết bị
Số lượng phòng
Khu cổng vườn
Khu trung tâm
Bống
Nhà luồng - Phòng đôi, khép kín
- Điều hòa, ti vi
1 4
Căn hộ khép kín
- Phòng đôi, khép kín 12 0
Nhà cấp bốn - Phòng đôi, khép kín
- Điều hòa, ti vi
32 0
Phòng 04
giường
- 04 giường, quạt
Mường, tranh ảnh, sách giới thiệu về Vườn quốc gia Cúc Phương…
1.2.6. Các hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Cúc Phương
• Đi bộ trong rừng nguyên sinh
Cúc Phương đã xây dựng được nhiều tuyến đi bộ trong rừng, với nội dung và thời
gian khác nhau, du khách có thể lựa chọn cho mình những tuyến phù hợp, một số tuyến
đi bộ du khách có thể tự khám phá, tuy nhiên với sự hướng dẫn, giới thiệu của hướng
dẫn viên, chắc chắn chuyến đi của du khách sẽ thú vị và ý nghĩa hơn. Tuyến cắm trại
và ngủ đêm trong rừng, tuyến đi bộ dài ngày lên khu bảo tồn Ngọc Sơn, khu bảo
tồn Pù Luông là những tuyến hấp dẫn được nhiều du khách quann tâm.
• Du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng
Thiên nhiên Cúc Phương vô cùng quan trọng, là nguồn tạo lập sinh kế cho
cộng đồng dân cư địa phương, du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng là
giải pháp quan trọng, góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Với một hoặc hai đên
nghỉ tại bản Mường, du khách đã góp phần tạo thu nhập cho người dân, hỗ trợ
công tác bảo tồn. Trong thời gian ở bản, người Mường với lòng nhiệt tình, mến
khách sẽ mang lại cho du khách thời gian thoải mái và cơ hội để tìm hiểu, khám
phá những nét văn hóa bản địa độc đáo.
19
• Xem động vật hoang dã ban đêm
Tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, Vườn quốc gia có thể tổ chức chương trình
xem động vật hoang dã ban đêm, thực hiện chương trình này, du khách sẽ có cơ
hội được nhìn tháy một số loài động vật hoang dã như: Sóc đen, Sóc bay, Hoẵng,
Culi và một số loài thú ăn thịt nhỏ.
• Xem chim
Cúc Phương là một trong những điểm đa dạng nhất về khu hệ chim ở miền
Bắc Việt Nam, với 308 loài đã được phát hiện và thống kê, trong đó có nhiều loài
quý hiếm như: Gõ kiến đầu đỏ, Gà lôi trắng, Diệc nâu, Đuôi cụt bụng vằn… Vì
vậy, Cúc Phương đã trở thành một địa điểm không thể bỏ qua đối với các nhà khoa
học và các nhà xem chim. Thời điểm tốt nhất để xem chim là buổi sáng sớm và
chiều tối.
Chò chỉ cao tơi 70m, cây Đa bóp cổ - một hiện tượng đặc biệt của thế giới tự
nhiên. Cũng trên tuyến này, trên đường đến và cách cây Chò ngàn năm không xa,
bên tay phải có con đường lên núi, đó là đường đưa du khách đến thăm động Sơn
Cung – động có nhiều nhũ đá và là một trong những động đẹp ở Cúc Phương.
- Tuyến thứ ba: Tuyến cây Sấu cổ thụ - bản Mường. Đây là tuyến du lịch mạo
hiểm – tuyến đi bộ xuyên rừng, ngủ bản. Từ trung tâm vườn, du khách đi bộ về
phía Tây, vượt qua con đường bê tong dài chừng 3 km là du khách đến cây Sấu cổ
thụ cao 45m, đường kính 1,5m. Từ cây Sấu cổ thụ, đi tiếp con đường mòn nhỏ
chừng 13 km xuyên rừng là du khách tới bản Mường. Bản Mường nằm cạnh
sông Bưởi thơ mộng với nhiều bản sắc văn hóa truyền thống. Đến với bản
Mường, du khách sẽ có cơ hội được thưởng thức những nét văn hóa đặc sắc của
người dân nơi đây.
21