Du lịch sinh thái và phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Xuân Sơn - Pdf 15

1
MỞ ĐẦU
Hiện nay ở Việt Nam, loại hình du lịch sinh thái phát triển khá mạnh mẽ,
không chỉ thu hút các thị trường khách quốc tế mà còn nhận được sự quan tâm,
tham gia của thị trường khách du lịch nội địa. Muốn đầu tư vào du lịch sinh thái
có hiệu quả phải có cơ
sở
lý luận cơ bản về du lịch sinh thái, nghiên cứu mô hình
cơ cấu tổ chức quản lý du lịch sinh thái, nghiên cứu các đối tượng tác động và
các yêu cầu nguyên tắc để phát triển du lịch sinh thái bền vững
.
Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại mà cả trên lĩnh vực môi
trường, xã hội,
văn
hoá du lịch sinh thái cũng đóng vai trò quan trọng. Ngoài
những lợi ích về kinh tế, thẩm mỹ,
còn
phải chú ý đến vần đề giáo dục môi
trường, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và phát triển bền vững.
Để giải đáp một phần vấn đề trên, em xin chọn đề tài :“Du lịch sinh thái và
phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Xuân Sơn”, với mong muốn được
tìm
hiểu
thêm nhiều kiến thức cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh
thái đồng thời đề xuất một số ý kiến nhằm bảo vệ và phát triển du lịch sinh thái tại
VQG Xuân Sơn. Với điều kiện có hạn,
em

xin
được giới hạn nội dung đề
tài:

tìm

kiếm
đi dến sự thống nhất bản chất , nhận
thức của loại hình du lịch sinh thái vẫn đang được tiếp
tục
trên nhiều diễn đàn
quốc tế và trong nước.
Theo Luật Du lịch, Điều 4, khoản 19: Du lịch sinh thái là hình thức du lịch
dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng
đồng nhằm phát triển bền vững.
Loại hình du lịch sinh thái về thực chất là loại hình có quy mô không lớn,
nhưng có tác
dụng
hoà nhập môi trường tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch
và nền văn hoá đó. Chính loại hình
du

lịch
này cũng là loại hình du lịch bền
vững mà hiện nay Tổ chức Du lịch thế giới đã khẳng định đối
với
các hoạt động
du lịch nhằm vừa đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân ở
vùng

du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng v.v.. đồng thời chú trọng tới việc
tôn tạo nhằm bảo tồn các
nguồn
tài nguyên du lịch để có điều kiện phát triển

Từ đó ngành du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao
hiệu
quả của hoạt động
du lịch và cũng là cơ hội tăng thu nhập cho người dân thông qua hoạt động du
lịch, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du
lịch.
Cho đến nay vẫn chưa có sự xác định hoàn hảo về loại hình du lịch sinh
thái. Loại hình
du
lịch này quả vẫn còn mới mẻ, mặc dù những năm
1997-1998
Tổ chức Du lịch thế giới và Liên Hợp Quốc đã nêu một số quan điểm chuyển
mạnh sang loại
hình

du
lịch sinh thái phù hợp với điều kiện của sự phát triển
du
lịch.
Một số nhà khoa học về du lịch cũng đã khẳng định các loại hình du lịch
sinh thái như
sau:
- Du lịch xanh, du lịch dã
ngoại.
- Du lịch nhạy cảm, du thuyền trên sông, hồ, trên
biển...
- Du lịch thiên nhiên, tham quan miệt vườn, làng
bản...
- Du lịch môi
trường.

triển bền vững của môi trường du lịch

thiết thực tạo được lợi ích lâu
dài.
Nói chung du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào những hình thức
truyền thống sẵn
có,
nhưng có sự hoà nhập vào môi trường tự nhiên với văn hoá
bản địa, du khách có thêm những
nhận

thức
về đặc điểm của môi trường tự
nhiên, về những nét đặc thù vốn có của văn hoá từng điểm,
từng
vùng, khu du
lịch và có phần trách nhiệm tự giác để không xảy ra những tổn thất, xâm hại đối
với
môi
trường tự nhiên và nền văn hoá sở tại. Còn về quy mô của loại hình du
lịch sinh thái thì tuỳ thuộc
vào
khả năng, điều kiện, biện pháp tổ chức của nhà
quản lý hoạt động du lịch, có thể dần dần từ quy

khiêm tốn để phát triển
rộng
rãi.
Với Việt nam , một nước mới phát triển về du lịch và loại hình du lịch sinh
thái hầu như còn

giác
nhiều đến môi trường thiên nhiên và tìm đến những vùng
6
thiên nhiên nhiều tiềm năng về môi
trường
sinh thái để cải thiện kinh tế, phúc lợi
xã hội, sức khoẻ và hưởng thụ, khám phá những cái mới, cái
lạ,
cái đẹp và sự
trong lành của thế giới tự nhiên , tạo ra mối quan hệ hữu cơ, hoà đồng giữa con
người
với
thiên nhiên, môi trường đồng thời hành động có ý thức trách nhiệm
làm cho thiên nhiên
môi
trường bền vững, phong phú phục vụ trở lại lợi ích của
con người cả ở hiện tại và tương
lai.
1.2 Tất yếu về du lịch sinh thái tại Việt
Nam
Phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Du lịch sinh thái phát triển
nhằm thoả mãn
nhu
cầu ngày một tăng của khách du lịch, của cộng đồng. Nhu
cầu này liên quan chặt chẽ đến sự
phát

triển
không ngừng của xã hội, đảm bảo
về tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh

nỗ lực bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên


văn
hoá
phục vụ phát triển kinh tế thông qua du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Với
tư cách là
một
ngành kinh tế mũi nhọn - Du lịch trong đó có Du lịch sinh
thái
ngày càng khẳng định vị thế của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất
7
nước.
1.3 Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh
thái
1.3.1 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh
thái:
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của
các hệ sinh thái
tự
nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh thái tự
nhiên được hiểu là sự cộng sinh của
các
điều kiện địa lý, khí hậu và động thực
vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh
thái
động vật (animal
ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (
agri-cultural
ecology), sinh thái khí hậu ( ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human

sinh
thái điển hình với tính đa dạng sinh thái
cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều
này
giải thích tại sao
hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên
(natural reserve), đặc biệt ở các vườn quốc gia (national park), nơi còn tồn tại
những khu rừng với tính đa
dạng
sinh học cao và cuộc sống hoang dã. Tuy nhiên
điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số
loại

hình
du lịch sinh thái phát
8
triển ở những vùng nông thôn (rural tourism) hoặc các trang trại
(
farm
tuorism) điển
hình.
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch
sinh thái ở 2
điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách du lịch
sinh thái,
người
hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am
hiểu cac đặc điểm sinh thái tự nhiên


tồn
thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục
đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dai các
giá
trị tự nhiên và văn hoá
khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân
địa
phương và du
khách.
Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch
sinh
thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần
được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ
các
quy định về “sức chứa”. Khái niệm
9
“sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý

xã hội. Tất cả
những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng
một
thời

điểm.
Đứng trên góc độ vật lý, “sức chứa” ở đây được hiểu là số lượng tối đa
khách du lịch mà
khu
vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu
chuẩn về không gian đối với mỗi du

thể xác định
một

con
số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu
vực
khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định
một cách tương
đối
bằng phương pháp thực
nghiệm.
Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định “sức chứa” là quan niệm
về sự đông đúc
của
các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những
điều kiện phát triển xã hội khác nhau (

dụ giữa các nước châu Á và châu Âu,
giữa các nước phát triển và đang phát triển...). Rõ ràng để
đáp

ứng
yêu cầu này,
cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào
đó

có các quyết định về quản lý. Điều này cần được tiến hành đối với các
10
nhóm đối tượng
khách hoặc thị


sự
phát triển nhanh chóng này đe doạ tính bền vững của du
lịch sinh thái và mở rộng ra những
cái


thể đóng góp cho sự phát triển bền
vững. Du lịch sinh thái bản thân nó bị giới hạn phạm vi,
mức
độ phát triển. Nó
không thể tiếp nhận một số lượng lớn du khách mà không phải là nguyên nhân
dần dần làm thay đổi dẫn đến sự phá huỷ lý do mà nó tồn tại. Vì vậy vấn đề
trọng tâm trong việc
phát
triển du lịch sinh thái bền vững là sự kiểm soát hạn
chế những nguyên tắc xử lý và thực
hiện.
Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững.
Điều đó không

nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch. Đây là
điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong
thời
điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về
tốc độ tăng trưởng của du lịch
.
Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác
về mức độ giáo
dục

những nguyên tắc
về
môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài
nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn
hoá)
nhằm thu hút khách mà còn bên trong
của
nó.
- Du lịch sinh thái phải tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá
trị
bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này
.
- Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đạt lên hàng đầu do
đó mỗi người
khách
du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa
của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó
hơn
là làm biến đổi môi trường cho sự
thuận tiện cá
nhân.
- Du lịch sinh thái phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với
địa phương và
đối
với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn
hoá, xã hội hay khoa học
).
- Du lịch sinh thái phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc
với môi trường tự
nhiên,

động.
- Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn
khổ quốc tế
cho

ngành.
CHƯƠNG
2
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TẠI VQG XUÂN SƠN
2.1 Giới thiệu chung:
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây Nam của huyện Tân Sơn, tỉnh
Phú Thọ, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình, và Sơn La.
Đây là khu vực núi đá vôi có hệ sinh thái rừng điển hình của miền Bắc. Năm 2002,
theo QĐ số: 49/ QĐ – TTg ngày 17 tháng 4 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ,
khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn đã được chuyển hạng thành Vườn quốc gia
Xuân Sơn.
Vị trí địa lý:
• Tọa độ địa lý:
13
o 21003’ đến 21012’ vĩ độ Bắc.
o 104051’ đến 105001’ kinh độ Đông.
o Phía Bắc giáp xã Thu Cúc
o Phía Nam giáp với huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình
o Phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn La
o Phía Đông giáp các xã: Tân Phú, Mỹ Thuận, Long Cốc và Vinh Tiền
o Phía Tây Nam giáp khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh và Hồ thuỷ
điện Hoà Bình
o Phía Tây Bắc giáp khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa và Hồ Thuỷ điện
Sơn La

Với độ cao tối đa so với mặt biển là 1.386m (đỉnh núi Voi), vùng núi đá vôi
Xuân Sơn ở độ cao dưới 700m được che phủ bởi kiểu thảm thực vật rừng kín
thường xanh cây lá rộng, ẩm, nhiệt đới, cấu trúc 5 tầng, trong đó tầng vượt tán gồm
những cây gỗ lớn, đường kính hàng mét, cao tới 30-35m như: sâng, trai, nghiến…
Nhiều cây quý hiếm có giá trị bảo tồn và có giá trị kinh tế cao như: lát, kim giao,
chò chỉ, nghiến, củ dòm... Ở độ cao từ 700m trở lên, là kiểu thảm thực vật rừng kín
thường xanh, cây lá rộng á nhiệt đới. Ngoài một số loại thường xanh hay rụng lá
thuộc các họ long não, dẻ, hồ đào v.v.. còn gặp một số loại thuộc ngành hạt trần
như dẻ tùng sọc trắng hẹp, kim giao núi đá, thông tre lá dài. Cấu trúc của kiểu rừng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status