MỤC LỤC
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
1
2
3
Tên bảng
Bảng 2.1: Số lượng các loài thực vật trong rừng ngập mặn
ven biển huyện Giao Thủy
Bảng 2.3: Thống kê số lượng khách quốc tế tới thăm vườn
quốc gia Xuân Thủy qua các năm (2007 – 2009)
Bảng 2.4:Thống kê số lượng khách du lịch nội địa tới thăm
vườn quốc gia Xuân Thủy trong các năm (2007 – 2009)
Trang
4
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
1
2
Hình 1.1: Bản đồ quy hoạch vườn quốc gia Xuân Thủy –
tỉnh Nam Định
Bảng 2.2: Các dạng sống của thực vật tại vườn quốc gia
Xuân Thủy
sinh thái còn được xem như một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường thông
qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của
khách, của người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch.
Ở nước ta, cùng với sự phát triển của du lịch nói chung, trong những năm gần
đây du lịch sinh thái Việt Nam cũng phát triển nhanh chóng.Với ưu thế nhiều di sản
thiên nhiên, di sản văn hóa đặc sắc như vịnh Hạ Long, hồ Ba Bể, động Phong Nha,
vườn quốc gia Cúc Phương, vườn quốc gia Tràm Chim, các khu dự trữ sinh quyển
thế giới… sẽ là nền tảng mạnh mẽ cho sự phát triển của các loại hình du lịch sinh
thái tạo sự hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước.
Vườn Quốc Gia Xuân Thuỷ là Vườn Quốc Gia(VQG) mới đượcthành lập trong
khu vực đồng bằng sông Hồng (2/1/2003), là khu vực có hệ sinh thái đất ngập nước
cửa sông ven biển điển hình ở Việt Nam. Tuynhiên hoạt động du lịch ở đây lại
chưa được đầu tư đúng mức và còn nhiều hạn chế.Vì vậy việc nghiên cứu tiềm
năng du lịch sinh thái (DLST)có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm định hướng cho
phát triển du lịchsinh thái - một giải pháp phát triển hợp lý về cả mặt xã hội và mặt
3
môitrường.Việc thực hiện đề tài “Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia
Xuân Thủy” với mục tiêu nghiên cứu và đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại
Xuân Thủy. Trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến và phương hướng phát triển du
lịch khu vực này, nhằm mục đích bảo vệ môi trường tự nhiên của địa phương, tăng
hiệu quả kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của du khách góp phần giải quyết việc làm, tăng
thêm thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân địa phương.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
Mục tiêu của đề tài : Đánh giá hiện trạng và tiềm năng du lịch sinh thái, từ đó đề
ra hướng phát triển du lịch sinh thái cho khu vực Vườn Quốc Gia Xuân Thuỷ
3. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
•
như: tắm biển, nghỉ núi,… đều được hiểu là du lịch sinh thái.
Có thể nói cho đến nay khái niệm về du lịch sinh thái vẫn được hiểu dưới nhiều
góc độ khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau. Hiện nay, đa số ý kiến tại các diễn
đàn quốc tế chính thức về du lịch sinh thái đều cho rằng: “du lịch sinh thái là loại
hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ các hoạt động bảo tồn và được quản lý
bền vững về mặt sinh thái. Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn
giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên
nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với
các hệ sinh thái và văn hóa bản địa”.
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản sau:
•
Tổ chức thực hiện và phát triển dựa vào những giá trị thiên nhiên và văn hóa
•
•
•
bản địa.
Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái.
Có giáo dục và diễn giải về môi trường.
Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng.
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu tiên được Hector
Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái đưa ra vào
năm 1987 như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô
nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và
5
Định nghĩa của Australia: “Du lịch sinh thái là du lịch dựa và thiên nhiên có
liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên và được quản lý
bền vững về mặt sinh thái”.
Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm“DLST là Du lịch dựa vào thiên
nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên được
quản lý bền vững về mặt sinh thái”.
Định nghĩa của hiệp hội sinh thái quốc tế: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có
trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện
phúc lợi cho người dân địa phương. Trong đó yếu tố quản lý bền vững bao hàm cả
nội dung hỗ trợ phát triển cộng đồng”.
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998:“DLST là du lịch có mục đích với
các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường,
không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển
kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa
phương”.
Một định nghĩa khác của Honey (1999):“DLST là du lịch hướng tới những khu
vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác
hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi
trường, nó trực tiêp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa
phương và nó khuyên kích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”.
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc
gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái
là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường
có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các
lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo
tồn”.
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái“DLST là
một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục
7
8
1.2. Những đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái.
Mọi hoạt động của du lịch sinh thái đều được thực hiện dựa trên những giá trị
của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ
tầng, dịch vụ. Kết quả của quá trình khai thác đó là sự hình thành những sản phẩm
du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội.
Du lịch sinh thái cũng là một loại hình du lịch vì vậy nó cũng mang tất cả những
đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung bao gồm:
1.2.1. Tính đa ngành
Tính đa ngành được thể hiện ở đối tượng khai thác, phục vụ cho du lịch (sự hấp
dẫn về cảnh quan thiên nhiên, các giá trị về lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các
dịch vụ kèm theo…). Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho
nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách
du lịch (điện nước, nông sản, hàng hóa,…).
1.2.2. Tính đa thành phần
Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ
du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức
tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch.
1.2.3. Tính đa mục tiêu
Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử văn
hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động
dịch vụ du lịch, mở rộng giao lưu văn hóa, kinh tế, và nâng cao ý thức tốt đẹp của
mọi thành viên trong xã hội.
1.2.4. Tính liên vùng
Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể các điểm du lịch trong
một khu vực, trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau.
1.2.5. Tính mùa vụ
phần nâng cao hơn nữa giá trị nhận thức cho cộng đồng, tăng nguồn thu nhập cho
người dân sở tại. Điều này cũng tác động ngược trở lại một cách tích cực với hoạt
động bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái.
10
1.3. Những nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
1.3.1. Có hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo
ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn.
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái tạo ra
sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các hình thức du lịch tự nhiên khác,
Cùng một nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, các sản phẩm của chúng đều có giá
trị, giá trị sử dụng, được trao đổi mua bán qua các hình thức dịch vụ du lịch. Song
du lịch sinh thái lại có tính giáo dục và trách nhiệm cao hơn nhiều so với loại hình
du lịch tự nhiên. Du lịch sinh thái phức tạp hơn trên nhiều phương diện: Hướng dẫn
an toàn, chi phí bảo hiểm… và đòi hỏi cao hơn về ý thức trách nhiệm của người tổ
chức cũng như du khách.
Khách du lịch sinh thái sau một chuyến tham quan sẽ có tầm nhìn và hiểu biết
hơn về những đặc tính sinh thái khu vực và văn hóa cộng đồng địa phương.Với
những hiểu biết đó, thái độ cư sử của du khách sẽ thay đổi được thể hiện bằng
nhiều nỗ lực tích cực trong việc bảo tồn và phát triển tự nhiên sinh thái và văn hóa
khu vực.
1.3.2. Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp tới môi
trường và hệ sinh thái khu vực. Các tác động tiêu cực của du lịch sinh thái sẽ làm
thay đổi và biến tính hệ sinh thái và môi trường.Một số hệ sinh thái và môi trường
sống đặc biệt dễ bị tổn thương vì áp lực phát triển du lịch sinh thái, một phần môi
trường sống có chất lượng kém hơn, điều này dẫn đến giảm đi về đa dạng sinh học.
Với các loại hình du lịch khác, vẫn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái
họ cũng là người thấy được trực tiếp sự biến đổi (phát triển hay xuống cấp) của hệ
sinh thái, môi trường, văn hóa… của khu vực.Các hệ sinh thái, môi trường văn hóa
đó có được bảo tồn, duy trì hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của người
dân ở đây.
Chính vì thế mà đây là nguyên tắc, là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái.Du
lịch sinh thái khuyến khích người dân tham gia các hoạt động du lịch như cho thuê
nhà nghỉ, làm hướng dẫn viên du lịch, sản xuất các mặt hàng nông sản, hàng thủ
công mỹ nghệ truyền thống.Kết quả là cuộc sống của người dân địa phương sẽ ít
phụ thuộc vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ thấy được lợi ích của việc
bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái.
12
1.4. Vai trò của phát triển du lịch sinh thái
Phát triển du lịch sinh thái là khai thác có hiệu quả những giá trị của tài nguyên
du lịch sinh thái kèm theo những giá trị về cơ sở hạ tầng và lao động, tạo ra sức hấp
dẫn về tài nguyên du lịch sinh thái bằng các sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh đáp
ứng nhu cầu của du khách, đem lại lợi ích cho xã hội. Sự phát triển du lịch sinh thái
có vai trò vô cùng to lớn.
1.4.1. Du lịch sinh thái với bảo vệ môi trường
Môi trường và du lịch có mối quan hệ biện chứng với nhau.Môi trường là các
thông số đầu vào, tiền đề để phát triển mạnh du lịch, ngược lại thông qua phát triển
du lịch sinh thái sẽ giúp môi trường được bảo vệ và nâng cao chất lượng.
Du lịch sinh thái được xem là công cụ tốt nhất để bảo tồn thiên nhiên, nâng cao
chất lượng môi trường, đề cao các giá trị cảnh quan và nhận thức của toàn dân về
sự cần thiết phải bảo vệ hệ sinh thái dễ bị tổn thương, khống chế sự thay đổi của
môi trường sinh thái, khắc phục những tài nguyên đang bị hủy hoại.
Phát triển du lịch sinh thái đồng nghĩa với bảo vệ môi trường vì du lịch sinh thái
tồn tại gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình.Du lịch
sinh thái được xem là công cụ bảo tồn đa dạng sinh học, nếu các hoạt động du lịch
thay đổi cơ cấu sản xuất, thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở tài
nguyên và nội lực của mình.Phát triển du lịch sinh thái góp phần cải thiện đáng kể
đời sống văn hóa xã hội của nhân dân. Du lịch sinh thái tạo điều kiện đẩy mạnh sự
giao lưu văn hóa giữa du khách và người dân địa phương, góp phần làm cho đời
sống văn hóa xã hội những vùng này trở nên sôi động hơn, văn minh hơn. Du lịch
sinh thái phát triển tốt, nhiều dịch vụ du lịch chất lượng cao được tăng cường, điều
đó tạo điều kiện giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Tuy nhiên về mặt người dân bản địa dù dưới hình thức nào khi đã thương mại
hóa thì văn hóa của họ cũng bị ảnh hưởng, du lịch luôn du nhập những thói quen có
thể tốt, có thể tiêu cực. Du lịch sinh thái sẽ góp phần hạn chế tối thiểu mặt tiêu cực
14
thông qua giáo dục có mục đích cho du khách, cộng đồng địa phương khi tham gia
và hành trình du lịch sinh thái.
1.4.3. Du lịch sinh thái góp phần tăng GDP
Du lịch là một ngành kinh doanh sinh lợi hơn bất kỳ một ngành kinh tế nào khác.
Lợi nhuận hàng năm mang lại cho các quốc gia hàng trăm triệu USD.
Theo số liệu điều tra của hiệp hội du lịch sinh thái thế giới thì du lịch sinh thái
chiếm khoảng 20% thị phần du lịch thế giới, ước tính du lịch sinh thái đang tăng
trưởng hàng năm với tốc độ trung bình từ 10%-30%. Sự đóng góp kinh tế của du
lịch sinh thái không chỉ phụ thuộc vào lượng tiền mang đến khu vực mà điều quan
tâm là lượng tiền đọng lại ở khu vực mà nhờ đó tạo ra được những tác động nhân
bội. Theo ước lượng chung là không đến 10% số tiền tiêu của du khách được nằm
lại ở cộng đồng gần điểm du lịch sinh thái vì phần lớn kinh phí được sử dụng cho
tiếp thị và đi lại trước khi du khách đến điểm du lịch.
Du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
con người trong thời đại kinh tế phát triển. Tuy nhiên khi du lịch phát triển sẽ có
những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và văn hóa bản địa. Du lịch sinh thái
xuất hiện là một công cụ vô cùng hữu ích để hạn chế những tiêu cực của du lịch,
điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho khách du lịch sinh thái,
người hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các
đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương. Điều này rất quan
trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động DLST, khác với những loại
hình du lịch tự nhiên khác, du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không
cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên. Trong nhiều trường hợp, cần thiết
phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó
người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi.
- Hoạt động DLST đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc. Các nhà
điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam
kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho
16
khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hóa trước khi
những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi. Ngược lại, các nhà điều hành
DLST phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và
cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài
các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết
chung giữa người dân địa phương và khách du lịch.
1.5.3. Điều kiện thứ ba
Điều kiện thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các hoạt động có thể của hoạt
động DLST đến tự nhiên và môi trường, theo đó DLST cần được tổ chức với sự
tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa”. Khái niệm “sức chứa” được hiểu từ
bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả những khía cạnh này có
liên quan tới lượng khách đến một điểm vào cùng một thời điểm.
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa du khách
mà khu vực đó có thể tiếp nhận.Điều này liên quan tới những tiêu chuẩn tối thiểu
về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ.
phương pháp thực nghiệm. Một điểm cần lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là
quan niệm về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong
những điều kiện phát triển xã hội khác nhau (ví dụ giữa các nước châu Âu và châu
Á, giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển…). Rõ ràng để đáp ứng yêu
cầu này, càn phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ
vào đó mà quyết định về quản lý. Điều này cần được tiến hành với các nhóm đối
tượng khách trên thị trường khác nhau, phù hợp với tâm lý và quan niệm của
họ.DLST không thể đáp ứng được nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách. Để
đơn giản, Boullon (1985) đưa ra một công thức chung để xác định sức chứa du lịch
của một khu vực, chia thành yêu cầu khu vực do khách sử dụng và tiêu chuẩn trung
bình cho từng cá nhân (thường là m2/người)
Tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi khách thường được xác định bằng
thực nghiệm và thay đổi phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch. Ví dụ: Hoạt
động giải trí ở các khu du lịch - Nghỉ dưỡng biển * : 30 – 40m2/người
18
- Picnic *: 60 – 160m2/người
- Thể thao * : 200 – 400m2/người
- Hoạt động cắm trại ngoài trời : 100 -200m2/người
* Bao gồm cả không gian các hoạt động cần thiết : cảnh quan, tắm… Và do đó
tổng số khách có thể tham quan mỗi ngày được tính: Số lượng khách tham quan
hàng ngày = Sức chứa * Hệ số luân chuyển.
1.5.4. Điều kiện thứ tư
Điều kiện thứ tư, thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch. Việc
thỏa mãn mong muốn của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối
với tự nhiên, văn hóa bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết
đối với sự tồn tại lâu dài của ngành DLST. Vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng
du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan.
1.6. Các loại hình phát triển du lịch sinh thái
19
•
Quan sát chim: Các sân chim ở Việt Nam đặc biệt là các sân chim nằm ở
khu vực đồng bằng sông Cửu Long có số lượng chim lớn, thành phần loài
phong phú, với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm cần được bảo vệ…nơi thu
hút nhiều nhà khoa học và du khách tới nghiên cứu, tham quan… hình
•
thức này ở Việt Nam mới phát triển chưa phổ biến nhiều.
Thăm bản làng các dân tộc: Khách du lịch có cơ hội tìm hiểu các giá trị
văn hóa bản địa như tập tục sinh hoạt, sản xuất, lễ hội…được hình thành
•
và phát triển gắn với đặc điểm tự nhiên của vùng.
Du thuyền: Việt Nam là một đất nước có mật độ sông ngòi dày đặc, đây
chính là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức loại hình du lịch tham quan
•
thắng cảnh trên du thuyền đầy hấp dẫn.
Mạo hiểm: Ở Việt Nam hình thức du lịch mạo hiểm bắt đầu được hình
•
thành từ du lịch lặn biển, mô tô vượt các địa hình hiểm trở…
Ở đó cho phép khách du lịch đến thăm, dưới những điều kiện đặc biệt, cho
•
các mục đích nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, giải trí và lòng ngưỡng mộ.
Việc thiết lập VQG và các khu bảo tồn nhằm mục tiêu chính trong bảo tồn đa
dạng sinh học và tính toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ nghiên cứu khoa học và
giáo dục, tạo môi trường du lịch. Như vậy VQG là những địa bàn phù hợp
•
•
cho DLST.
Khả năng hấp dẫn DLST của VQG
VQG và các khu cảnh quan tự nhiên hấp dẫn ngày càng được quan tâm trong
sử dụng để đầu tư cho phát triển du lịch vì sự phong phú của tự nhiên, sự đa
dạng của hệ sinh thái và cảnh quan đẹp. Chúng được coi là nền tảng cho sự
•
phát triển DLST và mang lại lợi ích về kinh tế xã hội.
Một trong những yếu tố thúc đẩy việc thành lập VQG chính là tạo cơ hội cho
mọi người tham quan, giải trí trong thiên nhiên. Do đó, nhiều quốc gia đã
•
quyết định thành lập VQG và khu bảo tồn.
Yếu tố khiến một VQG hoặc một khu tự nhiên trở thành hấp dẫn khách du
21
tự nhiên hay một VQG sẽ có nhiều khả năng hấp dẫn khách du lịch khi có nhiều
yếu tố trên kết hợp.
Như vậy, tiềm năng du lịch của một VQG có thể bị lu mờ hay được phát huy tùy
thuộc vào khả năng khai thác, quản lý của các nhà quy hoạch, điều hành du lịch
trong việc phối hợp với các nhà quản lý VQG và cộng đồng địa phương. Việc phối
hợp không chặt chẽ giữa các bên liên quan sẽ dẫn đến tình trạng phát triển du lịch
thiếu sự giám sát, quản lý thận trọng, có thể nảy sinh những tác động tiêu cực đến
môi trường của khu tự nhiên và dẫn đến việc phá hủy chính nguồn tài nguyên mà
du lịch phụ thuộc vào.
1.7.2. Lợi ích du lịch mang lại cho Vườn quốc gia
Có thể khái quát một số lợi ích từ du lịch như sau:
•
Tạo động lực quan trọng trong việc thiết lập và bảo vệ VQG. Nghĩa là lợi
•
ích hai chiều được hình thành khi du lịch hoạt động trong các VQG.
DLST có khả năng mang lại nguồn thu nhập lớn cho VQG. Tuy nhiên mục
tiêu chính của du lịch sinh thái không phải là lợi ích kinh tế thuần túy mà
là khả năng của nó trong việc góp phần bảo tồn cảnh quan thiên nhiên đẹp,
tính đa dạng các hệ sinh thái, thế giới động vật phong phú và các nền văn
•
hóa dân tộc đặc sắc.
Tác động vào cấu trúc địa chất, cấu tạo đá, khoáng sản: do hoạt động leo
•
núi, thăm hang động, thu lượm mẫu đá… làm kỷ niệm.
Tác động lên thổ nhưỡng: do hoạt động đi bộ, cắm trại, bãi đỗ xe… gây
•
ảnh hưởng đến môi trường và điều kiện sống của hệ sinh vật.
Tác động vào nguồn tài nguyên nước: tập trung số đông khách du lịch sẽ
ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng nguồn nước. Việc xử lý chất thải
không triệt để và hợp lý sẽ làm tăng nguy cơ giảm chất lượng nguồn nước
•
của khu du lịch và vùng lân cận.
Tác động lên hệ thực vật: hoạt động du lịch giải trí có thể tạo ra tác động
đến thực vật như bẻ cành, giẫm đạp, thải khí từ phương tiện giao thông,
•
làm đường, bãi đỗ xe, công trình dịch vụ v.v
Tác động lên động vật: hoạt động tham quan, tiếng ồn của khách, của
phương tiện giao thông khiến động vật hoảng sợ, thay đổi diễn biến sinh
hoạt và địa bàn cư trú, sinh sống của chúng.
Ngoài ra, việc thải rác bừa bãi có thể gây ra sự nhiễm dịch bệnh cho động vật
hoang dã…Nhu cầu tiêu dùng xa xỉ các món ăn từ động vật của du khách dẫn đến
việc săn lùng, buôn bán làm giảm đáng kể số lượng quần thể động vật và cuối cùng
25