Khảo Sát Sự Hài Lòng Và Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên, Huyện Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai - Nguyễn Thị Thanh Trúc - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHẢO SÁT SỰ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI
NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2008
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Khảo Sát Sự Hài Lòng
Và Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên,
Huyện Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai” do Nguyễn Thị Thanh Trúc, sinh viên khóa 2004,
ngành Kinh tế Tài nguyên Môi trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
TS. Đặng Minh Phương
Người hướng dẫn,
(chữ ký)
Ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
(chữ ký, họ tên) (chữ ký, họ tên)
Ngày tháng năm Ngày tháng năm
LỜI CẢM TẠ
Trên hết con xin ghi ơn cha mẹ, anh chị với lòng biết ơn sâu sắc nhất.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu cùng toàn thể quí thầy cô trường Đại
Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quí thầy cô khoa Kinh tế đã nhiệt
tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báu trong suốt thời gian học
tập tại trường.

DANH MỤC PHỤ LỤC x
CHƯƠNG I 1
MỞ ĐẦU 1
1.1. t v n đĐặ ấ ề 1
1.2. M c tiêu nghiên c uụ ứ 2
1.2.1. M c tiêu chungụ 2
1.2.2. M c tiêu c thụ ụ ể 2
1.3. Ph m vi nghiên c uạ ứ 3
1.4. C u trúc c a khóa lu nấ ủ ậ 3
CHƯƠNG 2 4
TỔNG QUAN 4
2.1. T ng quan đi u ki n t nhiên kinh t xã h i c a V n Qu c gia Cát Tiênổ ề ệ ự ế ộ ủ ườ ố 4
2.1.1. Gi i thi u V n Qu c gia Cát Tiênớ ệ ườ ố 4
2.1.2. Các đi u ki n t nhiênề ệ ự 7
2.1.3. c đi m kinh t xã h iĐặ ể ế ộ 9
2.2. Tài nguyên đa d ng sinh h cạ ọ 11
2.2.1. H th c v tệ ự ậ 12
2.2.2. H đ ng v tệ ộ ậ 13
2.3. Tài nguyên nhân v nă 15
2.4. Nhân s c a trung tâm Du l ch sinh thái và Giáo d c môi tr ngự ủ ị ụ ườ 16
2.5. Các tuy n tham quan trong V n Qu c gia Cát Tiênế ườ ố 20
2.5.1. Các lo i hình du l ch sinh thái V n Qu c gia Cát Tiênạ ị ở ườ ố 20
2.5.2. Các tuy n tham quan trong V n Qu c gia Cát Tiênế ườ ố 20
CHƯƠNG 3 39
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1. C s c a vi c hình thành giá tr c a m t tài nguyên du l chơ ở ủ ệ ị ủ ộ ị 39
3.1.1. Khái ni m DLSTệ 39
3.1.2. C s c a nguyên t c du l ch sinh tháiơ ở ủ ắ ị 27
vi
3.1.3. Khái ni m v khách du l chệ ề ị 28

4.4.5. C c u phòng ti p đónơ ấ ế 61
4.4.6. m b o an toànĐả ả 64
4.4.7. C ch chính sách cho các nhà đ u tơ ế ầ ư 65
4.4.8. i v i môi tr ngĐố ớ ườ 65
CHƯƠNG 5 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
5.1. K t lu nế ậ 68
5.2. nghĐề ị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC
viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DLST & GDMT Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường
IUCN Liên Minh Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc tế
(International Union for Conservation of Nature)
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
UBND Ủy Ban Nhân Dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
(United Nations Educational, Scientific and
Culrtural Organization)
VND Việt Nam đồng
VQG Vườn Quốc gia
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Bảng Bố Trí Nhân Sự của Trung Tâm DLST & GDMT 17
Bảng 4.1. Số Lượng Khách Du Lịch đến với VQG Cát Tiên 32
Bảng 4.2. Doanh Thu từ Hoạt Động Du Lịch của VQG Cát Tiên 35
Bảng 4.3. Mục Đích Chuyến Đi của Khách 45
Bảng 4.4. Hình Thức Biết Thông Tin về VQG Cát Tiên của Du Khách 46

MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Du lịch trong thế kỷ XXI đang chi phối mạnh mẽ đến nền kinh tế của nhân loại
và là ngành công nghiệp không khói lớn nhất thế giới. Kinh tế du lịch thu hút được
khoảng 17 triệu lao động ở vùng Đông Nam Á (chiếm 7,9% tổng lao động trong ngành
du lịch của thế giới) và chiếm 9,9% tổng số lao động trong các ngành nghề. Du lịch
tạo ra 10% tổng sản phẩm xã hội và 9% tổng sản phẩm quốc dân trong vùng Đông
Nam Á. Lao động trong các họat động lữ hành và du lịch của thế giới tăng trưởng gấp
1,5 lần so với các lĩnh vực khác.
Xuất phát từ sự nhận thức được lợi ích (bảo tồn tự nhiên, bảo tồn các giá trị văn
hóa của các dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội .v.v.) của du lịch sinh thái (DLST), Liên
Hiệp Quốc đã chọn năm 2002 làm năm quốc tế về DLST. Các nhà làm du lịch nhận
định rằng nơi nào còn giữ được nhiều khu thiên nhiên tự nhiên, có được sự cân bằng
sinh thái thì nơi đó sẽ có tiềm năng phát triển tốt về DLST và thu hút được nguồn du
khách lớn, lâu dài và ổn định. Trên thế giới, đặc biệt là tại các nước phát triển như
Thuỵ Điển, Nhật Bản, Mỹ, các khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng dựa trên sự kết
hợp giữa bảo tồn và phát triển du lịch, nhiều loại hình du lịch được hình thành như leo
núi, thăm động vật hoang dã trong xe bảo vệ, theo dõi cuộc sống của các loài linh
trưởng, ngắm nhìn các loài động thực vật biển. Gần đây, một số nước Châu Phi cũng
rất chú trọng phát triển loại hình du lịch này. Ở một số nước như Uganda, Nigiêria
việc phát triển du lịch sinh thái được đưa vào chiến lược phát triển kinh tế của đất
nước.
Tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2003, cả nước Việt Nam đã có 25 Vườn Quốc
gia (VQG) và 115 khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập và trong tương lai sẽ có
nhiều hơn nữa các khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập trong cả nước. Các khu bảo
tồn thiên nhiên và các Vườn Quốc gia ra đời là điều kiện rất tốt để bảo tồn các nguồn
gen động thực vật quý hiếm trước các hiểm họa bị tuyệt chủng. Nhiều khu bảo tồn
thiên nhiên, Vườn Quốc gia là những di sản thiên nhiên của quốc gia, chứa đầy tiềm
năng cho phát triển du lịch sinh thái như Vịnh Hạ Long, hồ Ba Bể, động Phong Nha,
Vườn Quốc gia Cát Tiên, Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân

nghiên cứu khu vực phía Nam của VQG Cát Tiên trên địa phận tỉnh Đồng Nai và một
xã vùng đệm gần với trụ sở Vườn: xã Nam Cát Tiên, là xã nằm trên trục đường chính
đến Vườn.
Thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 01/03/2008 đến ngày 30/06/2008.
Giới hạn đề tài: Đề tài về phát triển du lịch sinh thái là một đề tài rộng, liên
quan nhiều vấn đề, nhiều cơ quan ban ngành. Tôi xin giới hạn ở mức lấy những ý kiến
của du khách và khảo sát thực địa để đề ra các giải pháp phù hợp với nhân lực, vật lực
hiện tại của Vườn trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường.
1.4. Cấu trúc của khóa luận
Chương 1: Nêu lên lý do chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa
của đề tài.
Chương 2: Giới thiệu tổng quan về Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Chương 3: Giới thiệu một số khái niệm về du lịch sinh thái, khách du lịch, tài
nguyên du lịch thiên nhiên, nhân văn, đa dạng sinh học.
Chương 4: Tiến hành phân tích các số liệu điều tra tìm ra nguyên nhân và đề ra
một số giải pháp dựa trên nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái để thu hút khách du
lịch đến với Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Chương 5: Kết luận và dựa vào kết quả điều tra, phân tích đưa ra một số kiến
nghị nhằm phát triển ngành du lịch sinh thái ở VQG Cát Tiên nói riêng và du lịch sinh
thái ở các Vườn Quốc gia vùng Đông Nam Bộ nói chung.
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của Vườn Quốc gia Cát Tiên
2.1.1. Giới thiệu Vườn Quốc gia Cát Tiên
a) Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Cát Tiên được hình thành từ 2 vùng riêng biệt bao gồm phần
phía Bắc nằm ở huyện Bảo Lâm và huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng có ranh giới là
phía Bắc và Tây Bắc trùng với ranh giới Tỉnh Đắk Nông, phía Đông trùng với ranh
giới hành chính Thị trấn Đồng Nai và xã Lộc Bắc, phía Nam trùng ranh giới với xã

đoàn 600, đồng chí Tổng Bí thư đã thấy tài nguyên quý giá của khu rừng và đề nghị
đưa vào khu Bảo tồn. Chủ trương này đã được lãnh đạo Bộ Lâm Nghiệp (nay là Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai và
5
các ngành chức năng, các nhà khoa học khẩn trương thực hiện, tiến hành điều tra quy
hoạch, xây dựng Luận chứng Kinh tế Kỹ thuật trình Chính Phủ. Ngày 7/7/1978, Thủ
tướng Chính phủ có Quyết định số 360 của Thủ tướng về việc thành lập Khu Rừng
Cấm Nam Bãi Cát Tiên thuộc địa phận huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Đồng thời, Ủy
ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai có quyết định thành lập Hạt Kiểm Lâm Nam Bãi Cát
Tiên làm nhiệm vụ quản lý và bảo vệ khu bảo tồn do một đồng chí Đại úy là Hạt
Trưởng.
Năm 1986, Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Nai thành lập Ban Quản Lý
Khu Rừng Cấm Nam Cát Tiên. Cũng vào thời điểm này, UBND tỉnh Đồng Nai có
quyết định di dời toàn bộ lực lượng Quân đội đang đóng chân trong địa bàn ra khỏi
Khu Bảo tồn. Ngày 13/1/1992, Thủ Tướng Chính phủ có Quyết định số 08 về việc
thành lập Vườn Quốc gia Cát Tiên, trên cơ sở diện tích của Khu Bảo tồn Nam Cát
Tiên của tỉnh Đồng Nai và chuẩn bị mở rộng thêm diện tích về phía tỉnh Lâm Đồng và
tỉnh Bình Phước. Ngày 16/2/1998, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 38 – 1998
của Thủ Tướng về việc chuyển giao Vườn Quốc gia Cát Tiên cho Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn quản lý. Tháng 12/1998, Vườn Quốc gia Cát Tiên được chính
thức bàn giao trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và mở rộng với tổng
diện tích là 71.920 ha. Vườn có con dấu riêng. Bộ máy tổ chức của Vườn: Giám đốc 1
người, Phó Giám đốc 2 người. Bộ máy giúp việc Giám đốc gồm có: phòng tổ chức
hành chính; Phòng kế hoạch tài chính; Phòng nghiên cứu khoa học – kỹ thuật. Các đơn
vị trực thuộc Vườn: trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái và giáo dục môi trường: giám
đốc 1 người, phó Giám đốc 2 người. Bên cạnh đó còn có hạt kiểm lâm, trạm y tế, văn
phòng đại diện tại TP HCM và thành phố Biên Hòa (Đồng Nai).
Ngày 10/11/2001, tổ chức UNESCO quốc tế đã công nhận Vườn Quốc gia Cát
Tiên là khu dư trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới, và cũng là khu dự trữ sinh quyển
thứ 2 của Việt Nam (sau khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ). Ngày 4/8/2005, Ban Thư ký

Đatapok. Kiểu địa hình đồi thấp, bằng phẳng: ở phía Đông Nam Vườn Quốc gia Cát
Tiên. Độ cao so với mặt nước biển 130-150m, độ dốc 5- 7
o
, độ chia cắt thưa. Kiểu địa
hình bậc thềm sông Đồng Nai và dạng đồi bát úp tiếp giáp đầm hồ: độ cao so với mặt
nước biển 130m, chạy dọc theo sông Đồng Nai và vùng ven sông Đồng Nai phía Tây
Bắc Vườn từ khu vực giáp ranh Bình Phước- Đồng Nai đến Tà Lài, bề rộng khoảng
1.000m. Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm độ cao so với mặt nước biển thấp
hơn 130m, như các bàu nước Bàu Cá, Bàu Chim, Bàu Sấu.
VQG Cát Tiên có các kiểu địa hình đa dạng, phức tạp tạo cho khu vực những
cảnh quan khác nhau, nhiều điểm thu hút khách bao gồm núi, thác, sông, suối, hang
động, bàu nước. Địa hình đa dạng như thế nhưng hiện vẫn chưa được khai thác hết,
còn hạn chế ở mức độ đi quanh quẩn xem cảnh quan trong Vườn và chèo xuồng trên
bàu nước. Các chuyến đi không thu hút khách đến tham quan quay lại bởi đôi khi
khách chỉ đến xem một lần cho biết, đây cũng là một phần đặc thù của DLST.
7
b) Đặc điểm về địa chất – Thổ nhưỡng
Trước kỷ Đệ Tứ, nền địa chất được phủ một lớp trầm tích kiểu đặc trưng bởi đá
phiến thạch sét. Sau kỷ Đệ Tứ, nơi này được phủ một lớp phù sa cổ do sông Cửu Long
bồi đắp lên trên nền đá phiến thạch sét. Tiếp sau đó là hoạt động của núi lửa phủ lấp
một lớp bazan. Cùng với quá trình phun trào, phủ lấp là quá trình bào mòn, bồi tụ tạo
nên một lớp phù sa suối, phù sa sông. Trải qua nhiều quá trình phong hóa, xâm thực,
bào mòn, rửa trôi, tích tụ tạo nên nền địa chất đan xen nhau khá phức tạp. Chính thổ
nhưỡng đa dạng và màu mỡ, phù hợp với nhiều loài thực vật nên VQG Cát Tiên có
gần như đầy đủ các loài thực vật của các cánh rừng trên khắp Việt Nam. Hiện nay, du
khách đến VQG có thể thấy các tảng đã magma, phần còn lại của núi lửa đã tắt.
c) Đặc điểm về khí hậu
VQG Cát Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt. Mùa khô từ
tháng 11, 12 đến tháng 3, 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 4, 5 đến tháng 10, 11. Theo
số liệu thu thập từ 2 trạm thủy văn gồm trạm Cát Tiên (Lâm Đồng) thu thập dữ liệu về

nước trung bình 5m. Mùa kiệt 2 - 3m. Ở phía Bắc, Tây Bắc và phần phía Đông từ Bến
Cự đến Tà Lài thuyền máy có thể đi lại được. Dựa vào vị thế và địa lợi này, Vườn đã
dùng sông Đồng Nai để phát triển du lịch cũng như giao thông đi lại trong khu vực.
Nhưng lòng sông có nhiều đá và sâu nên không thể dựa vào sông để khai thác hoạt
động bơi lội như vùng hạ lưu của sông Đồng Nai trong khu vực của khu du lịch Bò
Cạp Vàng. Hoạt đánh bắt cá của cư dân khu vực VQG Cát Tiên diễn ra ít và dòng
nước chảy không ổn định, chỉ những người có kinh nghiệm mới đánh bắt trong khu
vực này. Đây vừa là thuận lợi và khó khăn của VQG, thuận lợi vì các loài cá được bảo
tồn, vệ sinh dòng nước thượng nguồn được bảo đảm, khó khăn đó là không khai thác
đoạn sông cho du lịch trong khi khách đi du lịch thường thích hòa mình vào thiên
nhiên nhất là trước vẻ bề ngoài yên ả lấp lánh của sông Đồng Nai.
Trong Vườn Quốc gia Cát Tiên có nhiều hệ suối lớn như: Đaleh, Đa R’soui, Đa
M’Bri (khu vực Lộc Bắc); Đa Dim Bo, Đa Thai, Đa Ce Nac, Đa Nhor (khu vực Cát
Lộc); Đa Louha, Đa Bitt, Đa Bao, Đa Tapoh, Đa Sameth (khu vực Nam Cát Tiên). Tất
cả các hệ suối đều chảy ra sông Đồng Nai. Toàn bộ diện tích của Vườn Quốc gia Cát
Tiên là lưu vực trực tiếp của hồ thủy điện Trị An. Phần phía Nam của Vườn là lưu vực
tiếp giáp hồ. Do địa hình của VQG Cát Tiên tương đối bằng phẳng, lượng mưa nhiều
nên thường gây ra ngập úng nhất là khu vực suối Đaklua. Trên các hệ suối chính
thường có nước vào mùa khô, còn phần thượng nguồn và các suối nhánh, một số suối
nhỏ ngắn thường khô hạn. Mùa mưa nước dâng cao trong các chân núi và thung lũng ở
khu vực Cát Lộc và ngập tràn trên diện tích khá lớn khu vực khá bằng phẳng ở khu
vực Nam Cát Tiên. Hệ bàu có diện tích nước ngập 2.500 ha vào mùa mưa và thu hẹp
lại khoảng 100- 150 ha vào mùa khô, đây cũng là nơi sâu nhất của các bàu: Bàu Cá,
Bàu Chim, Bàu Sấu. Đặc điểm thủy văn ở Vườn Quốc gia Cát Tiên bao gồm sông,
suối, thác, gềnh, thung lũng, bàu, đầm lầy và các vùng bán ngập nước đều hiện diện ở
Vườn Quốc gia Cát Tiên làm tăng giá trị về tính đa dạng sinh học, điều hòa và tăng
thêm số lượng cá thể cho loài khi dòng nước được chuyển ra vào mỗi mùa nước ngập
và tôn tạo cảnh quan thiên nhiên của Vườn Quốc gia Cát Tiên.
2.1.3. Đặc điểm kinh tế xã hội
a) Dân số

liệu thống kê cuối năm 2006, trên địa bàn huyện có 11 trường Mầm non, 14 trường
Tiểu học, 8 trường Trung học Cơ sở và 3 trường Trung học Phổ thông. Thị trấn Đạ
10
Teh, huyện Đạ Teh có 12 trường, trong đó có 4 trường Mầm non, 4 trường Tiểu học, 3
trường Trung học Cơ sở, và 1 trường Trung học Phổ thông. Tuy nhiên, hiện nay vẫn
còn nhiều địa phương trong khu vực gặp khó khăn thiếu thốn cơ sở vật chất ảnh hưởng
lớn đến dạy và học. Tổng số giáo viên Mầm non và Trung học Phổ thông trong khu
vực VQG Cát Tiên hiện nay là 2.665 người. Trong đó, đông nhất là giáo viên Tiểu
học, có 1.193 người; giáo viên Trung học Cơ sở có 873 người; giáo viên Mầm non có
352 người; giáo viên Phổ thông Trung học có 247 người. Tuy nhiên, số lượng giáo
viên phân bố theo số lượng dân cư và mật độ dân số. Tính đến niên học 2006- 2007,
tổng số học sinh trong các cấp từ Mầm non đến Trung học Phổ thông trong khu vực
VQG Cát Tiên có 53.012 em, chiếm 25,47% dân số. Trong đó, học sinh Mầm non là
7.236 em. Tiểu học là 23.025 em, Trung học Cơ sở là 17.801 em, và Trung học Phổ
thông là 4.950 em.
Y tế
Trong Vườn có 1 trạm y tế phục vụ sơ cứu. Ngoài ra cách trụ sở VQG Cát Tiên
(1km) có 1 trạm y tế thuộc xã Nam Cát Tiên được xây dựng năm 1989 có diện tích
1,21 ha, là phòng khám đa khoa của Nhà nước, phục vụ cho 3 cụm các xã Nam Cát
Tiên, Phú An, Núi Tượng. Còn có 1 phòng mạch phục vụ cán bộ VQG Cát Tiên đặt tại
ấp 4, cách trụ sở Vườn 800m.
d) Thành phần dân tộc
Thành phần dân tộc sống trong VQG Cát Tiên gồm hơn 30 dân tộc. Chiếm đa số
là người Kinh (67,1 %), tiếp đến là các dân tộc ít người thuộc các tỉnh miền núi phía
Bắc Tày (11,1%); Nùng (8,1%); H’Mông (1,1%), Dao (1,3%); và sau cùng là các dân
tộc bản địa tại chỗ. Trước đây các dân tộc bản địa S’tiêng (2,3%); Châu Mạ (6,2%);
Hoa (1,1%); Châu Ro (0,1%); Mường (0,7%); Ê đê (0,001%); dân tộc khác (0,001%).
2.2. Tài nguyên đa dạng sinh học
Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm giữa 2 vùng sinh học địa lý từ vùng cao nguyên
Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, do vậy hội tụ được các luồng hệ thực

Đông Bắc khu Nam Cát Tiên, gần sông Đồng Nai. Thành phần loài hầu hết là các loài
cây gỗ rụng lá trong mùa khô. Đất nông và khô hơn đất ở rừng lá rộng thường xanh.
Rừng gồm 2 tầng cây gỗ trong đó tầng trên cao hơn 20 m gồm các loài đặc trưng là
Bằng lăng (Lagestroemia spp.), Tung (Tetrameles nudiflora) và Râm (Anogeisus
acuminata). Tầng cây gỗ cao 10 -20 m gồm các loài như Trâm (Sterculia lanceolata),
Lòng mang (Pterospermum diversifolium), Căm xe (Xylia lolabriiformis), Sống rắn
12
(Albizia chinensis), .v.v. Tầng cây gỗ nhỏ hay cây bụi cao dưới 10 m gồm các loài Bồ
an (Colona sp.) và Thành ngạnh (Cratoxylon polyanthum). Tầng cây dây leo khá phát
triển với các loài Song đá (Calamus rudentrum) và Mây đắng (Daemonorops
pierreanum) rất phổ biến. Tầng dưới tán thưa thớt như Kim cang (Smilax sp.), Khoai
nưa (Amorphophalus sp.).
Rừng hỗn giao gỗ, tre nứa phân bố ở phía Đông và Nam Vườn Quốc gia Cát
Tiên. Đây là kiểu phụ thứ sinh nhân tác của rừng thường xanh và rừng nửa rụng lá, do
bị lửa rừng, khai thác quá mạnh, rừng bị mở tán và tre nứa xen vào. Thành phần cây
gỗ phức tạp, thường gặp là Vắp, Bằng lăng, Căm xe (Xylia sp.), hai loài tre chủ yếu là
lồ ô (Bambusa balcosa) và mum (Bambusa sp.)
Rừng tre nứa cũng là kiểu phụ thứ sinh nhân tác, sau khi rừng bị phá làm
nương rẫy rồi bỏ hóa, các loài tre nứa xâm nhập và phát triển. Hai loài tre phổ biến là
lồ ô (Bambusa balcoa, B. procera) và mum (Bambusa sp.), chúng tạo thành các rừng
lớn, những nơi ngập nước chỉ có tre La ngà (Bambusa bambos) tồn tại.
Thảm thực vật đầm lầy: Vườn Quốc gia Cát Tiên có diện tích đầm lầy lớn.
Trong mùa mưa nước sông tràn lên làm ngập một diện tích lớn. Mùa khô rút đi để lại
nhiều bàu, đầm lầy trong khu trung tâm vùng Nam Cát Tiên, như Bàu Sấu, Bàu Chim,
Bàu Cá. Thực vật ưu thế là các loài cây gỗ chịu nước như Đại phong tử (Hydnocarpus
anthelmintica), Lộc vừng (Barringtonia acutagula), Săng đá (Xanthophyllum
colubrinum), xen lẫn với Lau, Lách (Saccharum spontaneum), Cỏ đế (Sacchanum
arundinaceum), Lau sậy (Neyraudia arumdinaceae). Bao quanh đầm lầy có tre La ngà
(Bambusa bambos) tồn tại và chịu ngập trong mùa mưa.
2.2.2. Hệ động vật

hàng năm các loài chim di trú (bao gồm các loài di trú vào mùa đông; loài bay qua khu
vực trong lúc di cư và loài đến sinh sản trong mùa sinh sản) tập trung về ngày càng
nhiều như Mòng két mày trắng (Anas querquedula), Gà lôi nước (Hydrophasianus
chirurgus), Te vàng (Vanellus cinerreus), Dô nách nâu, Ó cau (Glareola maldivarum),
Diều đầu trắng (Circus aeruginosus), Diều mướp (Circus melanoleucos).
Thú gồm 103 loài thuộc 29 họ, 11 bộ, trong đó có 39 loài có tên trong Sách Đỏ
Việt Nam. Các loài thú quý hiếm như Bò Banten (Bos banteng), Bò Gaur (Bos
gaurus), Hổ (Felis tigris), Gấu chó (Helarctos malayanus), Gấu ngựa (Selenarctos
thibetanus), Voi (Elephas maximus), Báo hoa mai (Panthera pardus), Báo lửa (Felis
temmincki), Cầy mực (Arctictis binturon), Chó sói (Cuon alpinus), Voọc chân đen
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status