nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia ba bể - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRƯƠNG THỊ HƯỜNG

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH
THÁI VƯỜNG QUỐC GIA BA BỂ LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Mã số : 60 85 02

Người hướng dẫn khoa học : TS. Phí Hùng Cường

Nam đã tích cực hội nhập và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Du lịch là một
trong ít ngành kinh tế ở nước ta mạng lại nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm. Hơn 10
năm trước, du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực, nhưng đến nay
khoảng cách này được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philippin, chỉ còn đứng sau
Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Theo Tổ chức du lịch thế giới thuộc
Liên hợp quốc (UNWTO), hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ
tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới. [51]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể nằm ở phía Bắc của tỉnh Bắc Kạn, có tiềm
năng đất đai, khí hậu và tài nguyên động thực vật đa dạng và phong phú. Nơi đây
từng được chọn làm nơi nghỉ mát, vui thú của quan lại, thực dân thời Pháp thuộc.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là việc quan tâm đầu tư, khai thác các thế mạnh của
Vườn còn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.
Vì vậy, để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của tỉnh
Bắc Kạn trong tổng thể kinh tế - xã hội của cả nước, việc “Nghiên cứu, đánh
giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia
Ba Bể”nhằm đảm bảo hài hoà giữa phát triển nhanh, hiệu quả và lâu bền, xoá
đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và thể lực của nhân dân và cải thiện môi trường
là rất cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên thế
giới và Việt Nam vào địa bàn VQG Ba Bể nhằm đánh giá tiềm năng và đưa ra các
giải pháp cho phát triển DLST ở VQG Ba Bể. Góp phần tôn tạo, khai thác có hiệu
quả tài nguyên, BVMT, phát triển cộng đồng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình, các hướng nghiên cứu về phát triển DLST trên

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về du lịch sinh thái
1.1.1. Trên thế giới
“DLST là một loại hình du lịch có nguồn gốc từ du lịch thiên nhiên, được
xem như một phương pháp hữu hiệu nhằm thỏa mãn lòng khao khát cháy bỏng của
con người đến với thiên nhiên, gắn BVMT tự nhiên với phát triển bền vững.” [39]
Khi con người bắt đầu quan tâm về vấn đề BVMT, cũng là lúc DLST được
nhắc tới ngày càng nhiều hơn, nhất là từ sau hội nghị thượng đỉnh về môi trường tổ
chức tại Thụy Điển năm 1972. Nhưng nó chỉ thực sự được nghiên cứu vào thập kỷ
80 của thế kỷ XX, DLST đã được Hector Ceballos Lascurain – một nhà nghiên cứu
tiên phong về loại hình du lịch này đưa ra định nghĩa đầu tiên vào năm 1987 – đã
thu hút sự quan tâm của nhiều người trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1990, hiệp hội
DLST Quốc tế được thành lập. Ở phạm vi quốc gia, một số nước cũng đã thành lập
hiệp hội DLST quốc gia như: Brazil, Úc, Vênêzuêla…
Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu DLST
mang tính lý thuyết cũng như thực tiễn cao như: Ecotourism: Principles, practices &
policies for sustainability; Tourism planning; Ecotourism planning for protected areas;
The sustainability of ecotourism in Indonesia; Ecotourism and deverlopment, … hầu
hết các tài liệu này đều đã đưa ra các quan điểm, các nguyên tắc về DLST. Tuy nhiên
tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng khai thác du lịch và tùy từng quốc gia mà có quan
niệm khác nhau, nhưng nhìn chung, các tác giả đều cho rằng DLST là một loại hình
du lịch tối ưu, đảm bảo thực hiện được hai chức năng: phát triển và bảo tồn.
Các quốc gia đứng đầu về DLST hiện nay là Australia, New Zealand, Thụy
Điển, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Canada, Hoa Kỳ, ở khu vực Đông Nam Á có Mailaisia,
Mianma… Do nhu cầu đặc biệt cho chăm sóc sức khỏe con người về thể chất, tinh
thần, nâng cao nhận thức về thiên nhiên, cũng như BVMT cho người dân trên toàn
cầu, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã lấy năm 2002 là “Năm Quốc tế DLST” nhằm
tôn vinh ý nghĩa quan trọng của DLST, những ảnh hưởng và các lợi ích mà DLST
mang lại đối với vấn đề BVMT.

khoa học đã và đang được tiến hành trong khu vực, bao gồm: Luận chứng kinh tế -
kỹ thuật VQG Ba Bể; Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường, đề xuất giải pháp
khai thác hợp lý phục vụ phát triển KT - XH và BVMT vùng hồ VQG Ba Bể;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
Nghiên cứu vùng đệm và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững ở VQG Ba
Bể; Nghiên cứu KT - XH, nguyên nhân sâu xa của sự suy giảm đa dạng sinh học
(ĐDSH) ở hai vùng khác nhau của Việt Nam, nghiên cứu mẫu ở khu vực VQG Ba
Bể và KBTTN Na Hang ở phía Bắc và VQG Yok Don ở Tây Nguyên; Quy hoạch
phát triển nông – lâm nghiệp và nông thôn huyện Ba Bể giai đoạn 1999 – 2010; …
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà
khoa học đi trước trong lĩnh vực DLST về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, luận văn
giải quyết một cách có hệ thống mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn về vấn đề này
và vận dụng vào nghiên cứu trong điều kiện khu vực VQG Ba Bể.
1.2. Các vấn đề cơ bản về du lịch sinh thái
1.2.1. Khái niệm về du lịch sinh thái
1.2.1.1. Du lịch
Trên thế giới, khái niệm du lịch được đưa ra từ rất sớm, với rất nhiều khái
niệm khác nhau. Các định nghĩa truyền thống chỉ xem du lịch đơn giản như một kỳ
nghỉ hoặc một chuyến đi để giải trí, làm phong phú thêm nhận thức của con người.
Theo Dowling & Weiler “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân
đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu
lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ” [41]
Hay trong định nghĩa của Pirojnik, một nhà địa lý người Belarus đã đưa ra định
nghĩa về du lịch mà trong đó không dùng tới cụm từ di chuyển tạm thời, một trong
những yếu tố để phân biệt một chuyến di chuyển bình thường với một chuyến du
lịch là sử dụng thời gian nhàn rỗi: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
thời gian nhàn rỗi có liên quan đến sự di cư và lưu trú tạm thời ngoài nơi ở thường

phương tiện khai thác tiềm năng tài nguyên…
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa mạo, địa hình, khí
hậu, thủy văn, sinh vật, hệ sinh thái (HST), cảnh quan thiên nhiên, di sản thiên
nhiên có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để phục vụ mục đích du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do
con người sáng tạo ra. Bao gồm truyền thống văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích
lịch sử cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con
người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng vào mục
đích du lịch. [17, 29]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho
thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và
hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Và nơi nào có tài nguyên du lịch
phong phú thì sẽ có điều kiện thuận lợi để tổ chức nhiều loại hình du lịch với nhiều
sản phẩm du lịch có giá trị đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
1.2.1.3. Du lịch sinh thái
DLST được hiểu trên nhiều khía cạnh khác nhau dưới các tên gọi khác nhau:
Du lịch thiên nhiên (Nature tourism), du lịch môi trường (Environmental tourism),
du lịch đặc thù ( Particular tourism), du lịch xanh (Green tourism), du lịch thám
hiểm (Adventure tourism), du lịch bản xứ (Indigenuos tourism), du lịch có trách
nhiệm (Responsible tourism), du lịch nhạy cảm (Senditized tourism), Du lịch bền
vững (Sustainable tourism)… [16]
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector
Ceballos- Lascurain đưa ra năm 1987: “DLST là du lịch đến những khu vực tự
nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: Nghiên cứu, tham quan với ý
thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được khám phá”. Được
biểu diễn bằng sơ đồ sau:

tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường và văn hoá mà
không làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế
để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích cho người dân địa phương”. [43]
Theo Lindberg, K. and Hawkins, 1993: “DLST được phân biệt với các loại
hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh
thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo mối quan
hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến
bản thân du khách thành những người đi đầu trong công tác BVMT. Phát triển
DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hoá và môi trường,
đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính cho du lịch mang lại và
chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”. [13].
Định nghĩa của Hiệp hội DLST quốc tế: “ DLST là việc đi lại có trách
nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc
lợi cho người dân địa phương”. [20]
DLST (ecotourism) được xem như một quan điểm phát triển du lịch bền
vững, đảm bảo thực hiện chức năng phát triển kinh tế và bảo tồn[1, 16]. Ngoài ý
nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ ĐDSH và văn hóa cộng đồng, phát triển
DLST mang lại những nguồn lợi to lớn về mặt kinh tế, tạo cơ hội tăng thêm việc làm
và nâng cao thu nhập, dân trí và sức khỏe cộng đồng dân cư địa phương thông qua
GDMT, văn hóa, lịch sử và nghỉ ngơi giải trí.
Ở Việt Nam, tại Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển
DLST ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9-9-1999 cũng đã định nghĩa: “DLST là loại
hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường,
có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực
của cộng đồng địa phương”. [8]
Cho dù khái niệm về DLST còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất, song
dựa trên những điểm chung từ các định nghĩa về DLST trên thế giới, Tổ chức du
lịch thế giới đưa ra những đặc điểm cơ bản về định nghĩa về DLST như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hợp lý các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường. Việc khai thác, sử dụng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
tài nguyên du lịch cho phát triển cần được quản lý sao cho không chỉ thỏa mãn nhu
cầu hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu phát triển du lịch qua nhiều thế hệ. Bên
cạnh đó trong quá trình phát triển, các tác động của hoạt động du lịch đến môi
trường sẽ được hạn chế đi đôi với những đóng góp cho các nỗ lực tôn tạo tài
nguyên, BVMT.
- Đảm bảo sự bền vững về xã hội : theo đó sự phát triển du lịch có những đóng
góp cụ thể cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển.
Để đảm bảo đạt được 3 mục tiêu cơ bản trên, phát triển DLST cần tuân thủ
các nguyên tắc cụ thể sau:
a. Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý
Sự phát triển bền vững nói chung và phát triển DLST nói riêng cần đảm bảo
việc lưu lại cho thế hệ tương lai nguồn tài nguyên không kém hơn so với những gì
mà các thế hệ trước được hưởng. Điều này có nghĩa là trong quá trình khai thác sử
dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến các giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất
đi của các loại sinh vật, sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các HST có giá
trị du lịch như các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước, các rạn san hô
và khả năng bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. Điều này cũng còn có
nghĩa là tài nguyên và môi trường du lịch cần được hiểu đó không phải là "hàng hóa
cho không" mà phải được tính vào chi phí đầu vào của sản phẩm du lịch để có được
nguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát và ngăn
chặn sự xuống cấp môi trường. Duy trì hoạt động du lịch trong giới hạn "sức chứa"
(Carrying Capacity) được xác định.
Khái niệm "Sức chứa" ở đây cần được hiểu từ 5 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm
lý, xã hội và quản lý. Trên quan điểm bảo vệ tài nguyên, môi trường đảm bảo cho phát
triển bền vững, khái niệm "sức chứa" cần được hiểu từ khía cạnh sinh học và xã hội.

dạng, hoạt động du lịch cũng dễ làm tổn hại đến nó nếu không được quản lý và
giám sát có hiệu quả.
Sự đa dạng văn hóa bản địa cũng bị đe dọa khi người dân bản địa biến nó
thành hàng hóa bán cho khách du lịch. Việc tiêu chuẩn hóa các sản phẩm văn hóa
để phục vụ khách đang làm mất đi nhiều giá trị văn hóa đặc sắc độc đáo riêng của
địa phương. Tính đa dạng văn hóa cũng sẽ bị ảnh hưởng khi cộng đồng địa phương
có những điều chỉnh hóa văn hóa bản địa riêng của mình để đáp ứng thị hiếu theo nhu
cầu của khách và điều này còn thường dẫn tới sự điểu chỉnh về tinh thần "phục vụ".

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Sự đa dạng của hệ thống xã hội và hệ thống sinh thái của một vùng hay ở
một địa phương cũng sẽ bị ảnh hưởng khi các ngành nghề truyền thống ít thu nhập
như đánh bắt cá, canh tác nông nghiệp bị những công việc dịch vụ du lịch có thu
nhập cao hơn lấn át và theo thời gian những nghề này sẽ dần bị mất đi nhường chỗ
cho một số nghề "độc tôn".
d. Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao vì vậy
mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch
chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể KT - XH nói chung ở phạm vi quốc
gia, vùng và địa phương. Ngoài ra, đối với mỗi phương án phát triển cần tiến hành
đánh giá tác động môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và
môi trường. Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch
trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như với việc sử dụng có hiệu
quả tài nguyên, đảm bảo môi trường.
e. Chú trọng việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển
Để phát triển KT - XH nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng việc khai
thác các tiềm năng tài nguyên là điều tất yếu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trên một địa
bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình không có sự hỗ trợ đối với

việc sử dụng và đào tạo cán bộ nhân viên người địa phương là cần thiết bởi họ có
những hiểu biết sâu sắc hơn về tự nhiên, văn hóa bản địa cũng như mối quan tâm
nhiều hơn tới cộng động địa phương.
h. Tăng cường tính trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng cáo du lịch
Xúc tiến, quảng cáo luôn là một hoạt động quan trọng đối với phát triển du
lịch, đảm bảo sự thu hút khách, tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm
du lịch. Chiến lược quảng cáo, tiếp thị đối với DLST bao gồm việc xác định đánh
giá và luôn rà soát để xác định đúng khả năng đáp ứng của các nguồn tài nguyên du
lịch tự nhiên và nhân văn, cũng như việc cân đối các sản phẩm du lịch cụ thể.
Hoạt động quảng cáo, tiếp thị thiếu trách nhiệm sẽ tạo cho khách những hy
vọng không thực tế do thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác dẫn đến sự thất
vọng của du khách về các sản phẩm du lịch được quảng cáo. Kết quả của hoạt động
này sẽ là thái độ tẩy chay của du khách đối với cộng đồng và những sản phẩm du lịch
của địa phương ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của du lịch. Việc quảng cáo, tiếp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
thị cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao
sự tôn trọng của du khách đối với môi trường thiên nhiên, văn hóa và xã hội và các
giá trị nhân văn nơi tham quan, đồng thời sẽ làm tăng đáng kể sự thỏa mãn của khách
đối với các sản phẩm du lịch. Điều này sẽ góp phần làm giảm những tác động tiêu
cực từ hoạt động thu hút khách, đảm bảo cho tính bền vững trong phát triển du lịch.
i. Coi trọng việc thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu
Công tác nghiên cứu là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của
bất cứ ngành kinh tế nào, đặc biệt là những ngành có nhiều mối quan hệ trong phát
triển và phụ thuộc vào nhiều điều kiện về tự nhiên, môi trường, văn hóa - xã hội
như ngành du lịch. Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ
khoa học vững chắc dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan. Hơn thế nữa,
trong quá trình phát triển nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nảy sinh sẽ có những

bốn khía cạnh: vật lý - sinh học, tâm lý học, xã hội và mức độ quản lý. Tất cả
những khía cạnh này có liên quan đến lượng khách đến một địa điểm vào cùng
một thời điểm.
- Yếu tố vật lý - sinh học: Khía cạnh vật lý là số lượng khách thực tế mà
điểm đó có thể chứa. Khía cạnh sinh học là lượng khách tối đa mà nếu lớn hơn sẽ
vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái
do hoạt động của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra.
- Khía cạnh tâm lý: sức chứa được hiểu là lượng khách mà nếu vượt quá
thì bản thân du khách sẽ bắt đầu cảm thấy hứng thú du lịch của mình bị ảnh
hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác. Tác động này làm giảm đáng kể sự
hài lòng của du khách.
- Khía cạnh xã hội: sức chứa là giới hạn lượng khách du lịch mà tại đó bắt
đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hóa –
xã hội, KT - XH của khu vực.
- Khía cạnh quản lý: là giới hạn lượng khách tới mà khu du lịch có thể phục
vụ, kiểm soát hoạt động của khách để không làm ảnh hưởng tới môi trường và xã hội.
 Yêu cầu thứ tư là thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của du khách. Nâng
cao hiểu biết về tự nhiên, văn hóa bản địa là rất khó khăn song là yêu cầu cần thiết
với sự tồn tại lâu dài của DLST. [16, 42]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
1.2.2.3. Đặc trưng của du lịch sinh thái
Bao gồm cả các đặc trưng chung về du lịch và đặc trưng riêng chỉ có ở DLST
a. Đặc trưng của du lịch
 Tính đa ngành
Đặc trưng này được thể hiện ở đối tượng được khai thác phục vụ du lịch (Sự
hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị văn hóa, cơ sở hạ tầng, dịch vụ đi kèm
khác…). Đồng thời thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều

b. Những đặc trưng riêng của du lịch sinh thái
 Giáo dục cao về môi trường
DLST giúp con người tiếp cận gần gũi hơn với các vùng tự nhiên, các khu bảo
tồn, nơi có giá trị cao về ĐDSH và rất nhạy cảm về môi trường. Từ đó nâng cao
hiểu biết của người dân về những ảnh hưởng xấu mà họ có thể gây ra với môi
trường khi tham gia hoạt động du lịch. Do đó họ biết được cách hạn chế tới mức
thấp nhất những tác động tiêu cực tới môi trường. Nên có thể nói DLST là chìa
khóa cân bằng giữa phát triển du lịch với BVMT khi mà các hoạt động du lịch ngày
càng gây áp lực lớn tới môi trường.
 Góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, duy trì ĐDSH
Với tính giáo dục cao, DLST hình thành và nâng cao ý thức trách nhiệm bảo
vệ các nguồn tài nguyên, thúc đẩy hoạt động bảo tồn đảm bảo phát triển bền vững.
 Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương
Cộng đồng địa phương chính là chủ sở hữu các nguồn tài nguyên tại địa
phương mình. Việc thu hút và trao cho họ những quyền lợi sẽ giúp các nhà quản lý
tránh đưa ra các quyết định có thể dẫn tới xung đột với địa phương. Mặt khác khi
cộng đồng địa phương tham gia DLST, họ sẽ có cơ hội làm việc và các sản phẩm
dịch vụ của họ được du khách sử dụng. Do đó, mức độ lệ thuộc và khai thác tự
nhiên của họ sẽ giảm dần và nhận thức về giá trị của môi trường cũng được nâng
cao. Giải quyết được vấn đề này cũng chính là giảm được sức ép của cộng đồng địa
phương lên môi trường. [7]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
1.3. Vƣờn quốc gia và du lịch sinh thái
1.3.1. Khái niệm về vườn quốc gia
VQG là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà:
- Nơi có một hay vài HST không bị thay đổi lớn do sự khai thác hoặc chiếm
lĩnh của con người. Các loài động, thực vật, các đặc điểm hình thái, địa mạo và nơi
Nguồn: [8]
Quan hệ cùng tồn tại (A): khi có rất ít mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và
bảo tồn tự nhiên hoặc cả hai tồn tại một cách độc lập. Trường hợp này xảy ra khi
hoạt động du lịch mới phát triển, mức sử dụng tài nguyên còn thấp, ít ảnh hưởng
tới môi trường.
Quan hệ cộng sinh (B): trong đó cả du lịch và bảo tồn tự nhiên đều nhận
được những lợi ích từ mối quan hệ này và có sự hỗ trợ lẫn nhau. Đây là giai đoạn
phát triển tiếp theo, du lịch có mối quan hệ với bảo tồn theo hướng tích cực nếu
hoạt động du lịch được quản lý, quy hoạch phù hợp với các quy luật tự nhiên có lợi
cho bảo tồn tự nhiên và du lịch. Khi đó giá trị tự nhiên vẫn được bảo tồn, thậm chí
ở điều kiện tốt hơn trong khi chất lượng sản phẩm du lịch vẫn được đảm bảo, lợi
ích cho ngành du lịch và cho khu vực tăng cường.
Quan hệ mâu thuẫn (C): khi sự hiện diện của du lịch, nhất là du lịch đại
chúng, làm tổn hại đến nỗ lực bảo tồn tự nhiên. Trường hợp này xảy ra khi phát
triển du lịch với mục đích đơn thuần về lợi ích kinh tế, không quan tâm với công
tác bảo tồn.
(A)
DL &BT
độc lập với nhau

một cơ chế tự hoạch toán tài chính cho VQG. Trong đó, có cả việc duy trì bảo tồn
các HST, các diện tích tự nhiên quan trọng, các khu bảo tồn, các VQG.
- Tăng cường chất lượng môi trường: du lịch có thể cung cấp những sáng
kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua việc kiểm soát chất lượng nước,
không khí, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và vấn đề môi trường khác. Du lịch còn
cải thiện các tiện nghi môi trường thông qua các chương trình quy hoạch cảnh
quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc.
- Đề cao môi trường: việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt sẽ
nâng cao giá trị các cảnh quan đồng thời khuyến khích mở rộng vùng đất giáp ranh,
tạo điều kiện duy trì độ che phủ thực vật tự nhiên, tăng cường BVMT.
- Cải thiện hạ tầng cơ sở: các cơ sở hạ tầng địa phương như sân bay, đường
xá, hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc, xử lý chất thải có thể được cải thiện
thông qua hoạt động du lịch.
- Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương cũng như
là du khách thông qua việc trao đổi và học tập với nhau. Từ đó mọi người có nhận
thức tích cực hơn trong việc bảo tồn tài nguyên và môi trường.
- Lợi ích kinh tế: du lịch tạo nguồn thu nhập, ngân sách, giải quyết công ăn
việc làm, thu hút ngoại tệ… Điều đó giúp nâng cao mức sống của cộng đồng địa
phương, phát triển kinh tế địa phương, kinh tế vùng và quốc gia, từ đó giảm bớt
sức ép lên môi trường VQG.
- Giao lưu, trao đổi văn hóa giữa du khách và người địa phương, góp phần
làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của cả hai phía cũng như sự hiểu biết và hợp
tác trong nhiều lĩnh vực khác (kinh tế, chính trị, xã hội, văn minh).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
1.3.4. Tác động tiêu cực có thể nảy sinh do hoạt động du lịch ở các vườn quốc gia
DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, nên sự phong phú, đa dạng
trong các giống loài, các HST của thế giới tự nhiên chính là giá trị của sản phẩm du

sản động vật của khách du lịch dẫn đến việc săn lùng, buôn bán làm giảm đáng kể số
lượng quần thể động vật và cuối cùng là thay đổi cấu trúc HST ban đầu. Hơn nữa
khách du lịch và phương tiện vận chuyển khách có khả năng đem đến một số loài sinh
vật ngoại lai ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của những HST địa phương.
- Ảnh hưởng tới KT - XH địa phương: việc mang lại lợi ích kinh tế từ hoạt
động du lịch sẽ không tránh khỏi sự giảm giá trị các hệ thống văn hóa, mất đi tình
trạng ổn định ban đầu của xã hội, xuất hiện sự xung đột giữa cái cũ và cái mới: sự
thương mại hóa nghệ thuật, văn hóa, tăng sự phân hóa xã hội về thu nhập, gây biến
động giá cả…
1.3.5. Quan hệ giữa du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương
DLST không chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở các nguồn tài
nguyên thiên nhiên được bảo vệ, mà nó còn có mối quan hệ với cộng đồng địa
phương trong phạm vi lân cận các VQG. Những yếu tố thu hút sự quan tâm của
khách du lịch với cộng đồng địa phương rất đa dạng như: yếu tố văn hoá, di tích lịch
sử, kiến trúc, tập quán sinh hoạt, ngành nghề truyền thống, tôn giáo, món ăn địa
phương… Thêm vào đó, khi khách du lịch đến thăm, cộng đồng địa phương lại cung
cấp các dịch vụ như lưu trú, ăn uống , Vì vậy, khách DLST, dù chỉ đi tham quan,
khám phá thiên nhiên thì vẫn không tránh khỏi những mối quan hệ qua lại với cộng
đồng cư dân địa phương. Mối quan hệ này thể hiện qua quan hệ “ cung-cầu”: nhu
cầu của du khách và việc đáp ứng các nhu cầu đó của địa phương. Mối quan hệ này
nếu được duy trì tốt sẽ tạo ra những lợi ích đối với cả hai bên.
1.3.5.1. Ảnh hưởng tích cực
Du lịch nói chung và DLST nói riêng có thể mang lại lợi ích cho cộng đồng
địa phương thông qua cơ hội việc làm, thay đổi chất lượng cuộc sống của người dân
và khiến họ trở thành lực lượng bảo tồn có hiệu quả. Những thay đổi tích cực này
được thể hiện qua các mặt sau:
- Tạo cơ hội việc làm trực tiếp trong ngành du lịch, trong các ngành hỗ trợ
khác liên quan đến du lịch và cả trong lĩnh vực quản lý nguồn tài nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status