ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
----------------------------------------------
KHÓA BỒI DƯỠNG SAU ĐẠI HỌC
Tiếp cận sinh thái học trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và
phát triển bền vững
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BÁO CÁO TÓM TẮC
TÊN ĐỀ TÀI
Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng hoạt động và đề xuất giải pháp phát triển
du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà – Thành Phố Hải Phòng.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Võ Thanh Sơn
Những người thực hiện:
Phạm Văn Thương
Từ Quang Tuyến
Vũ Ngọc Hiếu
Khương Hữu Thắng
Phạm Xuân Thành
Nguyễn Hoàng Minh Hải
Hà Nội, 1 – 2010
1
MỞ ĐẦU....................................................................................................................................3
1. Đặt vấn đề............................................................................................................................3
2. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................................................4
4. Tiến trình thực hiện............................................................................................................22
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ.......................................................................................................22
1. Kết luận..............................................................................................................................22
2. Kiến nghị............................................................................................................................23
2
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái (DLST) nói riêng ngày nay đã và đang phát
triển nhanh chóng như một trào lưu tại nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng. DLST ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp
dân cư trong xã hội. Đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra
nhanh chóng của Việt Nam kể từ khi sau thời kỳ đổi mới năm 1986, khi mà các khu
công nghiệp, chế xuất, khu kinh tế được phát triển ồ ạt, dân số không ngừng gia tăng,
đô thị hóa và tập trung dân cư với mật độ dân cư cao, tình trạng ô nhiễm môi trường
diễn ra ngày càng nghiêm trọng thì việc tìm về với tự nhiên, thăm quan tại những khu
du lịch đã trở thành nhu cầu tất yếu của con người.
DLST đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộ phận có tốc độ tăng
trưởng mạnh nhất về tỷ trọng trong ngành du lịch của Việt Nam. Thực tế là, những địa
phương nào còn giữ nhiều khu thiên nhiên, khu bảo tồn, ít bị xâm hại bởi quá trình
phát triển các dự án công nghiệp và còn có được sự cân bằng sinh thái thì nơi đó sẽ có
tiềm năng phát triển tốt về DLST và thu hút được nguồn du khách lớn, lâu dài và ổn
định, từ đó có thể mang lại những lợi ích kinh tế to lớn góp phần làm tăng thu nhập
quốc dân.
Tuy vậy, từ sự phát triển mạnh mẽ và nhu cầu tăng cao đối với du lịch sinh thái ở
Việt Nam trong những năm gần đây thì các khu du lịch sinh thái, khu bảo tồn ở Việt
Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn từ sự thiếu ý thức tham gia của khách
tham quan trong việc bảo tồn những giá trị vốn có của nó và phát triển, và sự yếu kém
3. Nội dung nghiên cứu.
+ Tìm hiểu các tiềm năng thế mạnh cho phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc
gia Cát Bà.
+ Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch sinh thái đang diễn ra tại khu vực VQG Cát
Bà những xu hướng tham gia du lịch sinh thái của khách du lịch hiện nay.
+ Tìm hiểu khả năng tham gia hoạt động du lịch sinh thái của người dân địa
phương: làm dịch vụ, cung cấp sản phẩm truyền thống, hướng dẫn du lịch…
+ Tìm các giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà.
4. Cấu trúc báo cáo
Báo cáo gồm: 79 trang; Mở đầu: 3 trang; Chương 1: Tổng quan: 3 trang; Chương 2:
Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu; 3 trang; Chương 3: Kết quả và thảo
luận: 32 trang; Chương 4: Đề xuất các giải pháp: 7 trang; Kết luận và kiến nghị: 2
trang; Tài liệu tham khảo: 2 trang; Phụ lục: 22 trang.
4
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN
1. Khái niệm về du lịch sinh thái
2. Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
3. Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái
CHƯƠNG 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại Vườn quốc gia Cát Bà - Huyện Cát Hải Thành phố Hải Phòng.
2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 24/12/2009 đến ngày 31/01/2010, trong đó:
- Công tác chuẩn bị diễn ra trong khoảng thời gian từ 24 – 28/12/2009.
- Tổ chức nghiên cứu thực địa, thu thập số liệu tại Cát Bà Từ ngày 29/12/2009 –
10/01/2010.
- Tổng hợp phân tích số liệu điều tra, so sánh kế hoạch từ ngày 10-16/01/2010.
thái tại VQG Cát Bà. Thông qua việc phân tích sơ đồ SWOT, những nguyên nhân dân
đến những điểm yếu, thách thức đối với việc phát triển hoạt động du lịch tại VQG Cát
Bà sẽ được nhân diện để từ đó có định hướng khắc phục và phát huy những cơ hội,
điểm mạnh của vườn.
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ THẢO LUẬN
1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại Vườn quốc gia Cát Bà
1.1. Vị trí địa lý Vườn quốc gia Cát Bà
VQG Cát Bà là hòn đảo lớn nhất của quần đảo, nằm trong khoảng toạ độ địa lý từ
20044’ - 20052’ vĩ độ Bắc và từ 106059’- 107006’ kinh độ Đông.
+ Phía Đông và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long được ngăn cách bởi lạch Ngăn và
lạch Đầu xuôi của tỉnh Quảng Ninh,
+ Phía Tây và Tây Nam là cửa sông Bạch Đằng, sông Cấm và biển Hải Phòng,
+ Phía Đông và Đông Nam giáp với vịnh Lan Hạ,
VQG Cát Bà là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát bà có
những tiềm năng lợi thế đó nên VQG Cát Bà, tạo nhiều cơ hội để phát triển du lịch
không chỉ mức độ trong nước mà còn cả trong khu vực và tầm cỡ thế giới,
1.2. Điều kiện tự nhiên
VQG Cát Bà là điển hình cho kiểu địa hình, địa chất và vùng sinh thái Miền Bắc
của nước ta. Về phía Bắc và Tây Bắc đảo Cát Bà còn có một diện tích khá lớn thành
tạo đệ tứ không phân chia (Q) tạo nên dạng đồng bằng ven biển, chúng được thành tạo
6
do phù sa sông biển, Lớp trầm tích phủ lên trên khá dày (>2m), dưới sâu hơn là phù sa
hạt thô (độ sâu 5 - 10m) chủ yếu là sỏi cuội và cát, hình các bãi cát ven biển rất sạch.
Do cấu trúc Sơn văn của địa hình vùng núi đá vôi, nên trong vùng này chỉ có một
số dòng suối có nước quanh năm. Nguồn nước ngầm khá sâu tồn tại dưới dạng giếng
Karst và sông biển, thủy triều tại VQG Cát Bà có chế độ nhật triều thuần nhất.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và dịch vụ du
lịch của Quần đảo Cát Bà. Trong tương lai đảo Cát Bà và vịnh Hạ Long có thể trở
Phòng 30km, cách thủ đô Hà Nội 120 km và nằm bên cạnh Vịnh Hạ long - Di sản thiên
nhiên thế giới, gần với khu du lịch Đồ Sơn.
Chính vì vậy, khách thăm quan du lịch từ nơi khác đến, đặc biệt là những thành phố
khu vực phía Bắc sẽ không tốn quá nhiều thời gian để có thể có những chuyến du lịch
thưởng ngoạn thiên nhiên tại VQG Cát Bà, đến VQG Cát Bà với hai sự lựa chọn. Đi
bằng đường thủy với tàu cao tốc từ Bến Bính (Hải Phòng) mất khoảng 45 phút. Đi qua
vịnh Hạ Long với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp, đây di sản thiên nhiên thế
giới được tổ chức UNESCO công nhận, đến vịnh Lan Hạ tuy nhỏ hơn nhưng có nhiều
đảo đá vôi, xếp đan xen gần nhau trông rất hùng vĩ. Nếu đi bằng đường bộ, xe ô tô từ
Hải Phòng đến bến cảng Ðình Vũ, theo tầu cao tốc sang bến Cát Hải rồi xuyên qua
VQG Cát Bà bằng ô tô trên đường dài 31 km (đường nhựa).
2.2. Tài nguyên động, thực vật rừng, biển
Vườn quốc gia Cát Bà là nơi hội tụ nhiều HST khác nhau gồm: HST rừng ngập
mặn, HST rừng trên núi đá vôi, HST biển với các rạn san hô,… Có một hệ động, thực
vật đa dạng, gồm 2.320 loài, trong đó có 282 loài động vật sống trong rừng, 538 loài
động vật sống ở đáy biển, 196 loài cá biển, 771 loài thực vật trên cạn, 23 loài thực vật
ngập mặn, 75 loài rong biển, 177 loài san hô...
Hệ động vật có 20 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng cư. Đặc biệt có
loài thú mà không có nơi nào có được là voọc đầu trắng (Vọoc Cát Bà) và một số loài
khác được ghi trong Sách đỏ như: Khỉ lông vàng, sơn dương và nhiều loài chim đẹp
như cao cát, bói cá, hút mật, đầu rìu. Ở Cát Bà cũng có chim yến và rùa biển được
chăm sóc bảo tồn. Hệ thực vật có 1561 loài thuộc 495 chi, 149 họ, trong đó có 250 loài
cây thuốc. Nhiều loài cây quý hiếm cần bảo tồn như chò chỉ, trai lý, lát hoa, kim giao
và cọ Bắc Sơn. Đặc biệt là, đảo có hệ sinh thái rừng ngập nước, trên núi đá vôi có cả
ao, hồ, suối ngầm, nước ngọt cùng suối nước khoáng có cả khả năng chữa trị bệnh,
nhất là thấp khớp.
Với sự phong phú về hệ sinh thái, đa dạng về loài đã tạo cho VQG Cát Bà có một tiềm
năng thu hút cho việc phát triển DLST.
8
Thẳm, áng Vẹm…
2.4. Dịch vụ giải trí và nghỉ dưỡng
Ðến Cát Bà, du khách có thể thuê một chiếc xe gắn máy để đi đến bất cứ nơi nào,
chỗ nghỉ nay đã phát triển khá nhiều. Ðẹp nhất là các khách sạn dựa lưng vào núi, mặt
hướng ra biển. Cát Bà có hơn 60 khách sạn, nhà nghỉ với khoảng 1.000 phòng tập trung
9
ở phố biển ven mép vịnh. Trên hết, sự hấp dẫn của VQG Cát Bà là biển cả. Sau một
ngày leo núi hay thám hiểm các hang động, du khách sẽ thấy vô cùng sảng khoái đắm
mình trong làn nước trong xanh, nằm phơi trên bãi cát trắng mịn. Cát Bà có nhiều bãi
tắm, đặc trưng là sự kín đáo, yên bình.
Ðêm đến không gian Cát Bà thật bao la, hùng vĩ, đẹp đến sững sờ. Ngủ đêm ở đây
là một thích thú tuyệt vời, không khí mát dịu, những làn gió nhẹ mang hơi mặn của
biển lùa vào rừng cây trên núi đá tạo một âm thanh rì rào, như ru khách vào trong giấc
ngủ êm đềm.
2.5. Văn hoá lịch sử, lễ hội truyền thống
Trước đây, vùng đảo núi đá (Cát Bà) từng là hậu cứ của các bà trồng tỉa, hái lượm,
cung cấp lương thực thực phẩm cho các ông ở phía trước chống lại giặc giã, khi chúng
tới đánh chiếm đảo. Cũng từ trận chiến đấu này đã xuất hiện nhiều nữ tướng dũng cảm
nên người đời xưa đã đặt tên cho đảo này là đảo Các Bà rồi sau này gọi lệch đi là đảo
Cát Bà. Trên mảnh đất của làng nghĩa Lộ ngày nay còn tồn tại một ngôi miếu thờ
người phụ nữ đã sinh ra người trai làng dũng cảm Hùng Sơn. Hùng Sơn là người đã có
công tham gia đánh giặc Ân đời vua Hùng thứ sáu. Truyền thuyết về người trai làng
dũng cảm Hùng Sơn như một nét nhạc hùng, âm vang tinh thần yêu nước của một
người dân trên mảnh đất này. Ngày nay người ta lấy tên của chàng trai này đặt tên cho
một thôn của Xã Trân Châu. Theo người dân kể lại thì tại làng Gia Lộc nay thuộc thị
trấn Cát Hải có lệ tế thần biển vào ngày 21 tháng giêng. Cùng với các trò chơi, với lễ
rước nước về đình làng, người ta đua thuyền dưới biển. Tế lễ như thế, Long Hải Đại
các nguồn gen động, thực vật rừng, biển quý hiếm. Đồng thời kết hợp phát triển du lịch
sinh thái, mở rộng các dịch vụ vui chơi, giải trí, tuyên truyền, giáo dục môi trường.
b. Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Ban Giám đốc
Phòng
Khoa học kỹ
thuật
Phòng
Kế hoạch tài
chính
Phòng
Tổ chức hành
chính
Hạt kiểm lâm
Trung tâm
Dịch vụ du
lịch sinh thái
và Giáo dục
môi trường
Các Trạm
kiểm lâm
Hình1: Mô hình bộ máy quản lý tại Vườn quốc gia Cát Bà
Thách thức
- Nhận thức về bảo về cảnh quan thiên
nhiên còn yếu nên khó quản lý
- Có cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp, - Thiếu kinh phí đào tạo nhân lực, đầu tư
các tổ chức trong và ngoài nước
cơ sở hạ tầng
- Có cơ hội nâng cao thu nhập, ngân sách
địa phương và cán bộ
- Cơ chế chính sách chưa thông thoáng
đối với cán bộ
12
3.2. Các phân khu chức năng
Phân khu Phục hồi sinh thái có diện tích 11.094 ha là nơi chủ yếu để xây dựng các
tuyến du lịch khám phá thiên nhiên trong VQG. Phân khu hành chính - dịch vụ được
quy hoạch khá gọn trong thung lũng Trung Trang, có mặt bằng tương đối thuận lợi cho
việc xây dựng, phát triển du lịch sinh thái cũng như các hoạt động giải trí khác. Phân
khu bảo vệ nghiêm ngặt được lựa chọn những nơi ít bị ảnh hưởng bởi các hoạt động du
lịch đối với môi trường sống của các loài động, đặc biệt trong đó các loài có nguy cơ
tuyệt chủng cao, để xây dựng một số tuyến thăm quan cho khách tìm hiểu và các hoạt
động nghiên cứu của các nhà khoa học. Cụ thể như tuyến VQG – Ao ếch – Việt Hải có
chiều dài 13km.
Ngoài ra, vùng đệm của VQG Cát Bà có diện tích 15.259,8 ha nằm trên địa bàn 06
xã, được chia thành hai khu vực.
điểm và tuyến tham quan tại Vườn và đảo Cát Bà cũng như thông tin về lệ phí tham
quan, hướng dẫn và phổ biến các nội quy, quy định cho du khách.
+ Nhà trưng bày mẫu vật: là nơi trưng bày các mẫu vật của các loài động, thực vật
phân bố tại VQG Cát Bà.
+ Đảo Cát Dứa: là nơi tham quan các tài nguyên rừng, biển, leo núi, quan sát một
số loài khỉ sau khi được cứu hộ và bảo vệ tại đây.
+ Đảo Năm Cát: là bãi biển còn hoang sơ, lý tưởng cho nghỉ dưỡng, tắm biển, chèo
thuyền kayark, câu cá hoặc đi tàu để thưởng thức, khám phá cảnh đẹp huyền bí về tài
nguyên rừng và biển tại khu vực Năm Cát và Vịnh Lan Hạ.
+ Vạn Bội: là nơi có nhiều hòn đảo lớn nhỏ, là nơi tắm biển, lặn xem các rạn san
hô, chèo kayark và tham quan các bè nuôi trồng các loài hải sản đặc sản.
14
+ Đồng Ninh tiếp - Việt Hải: nơi tổ chức loại hình du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ
dưỡng. Du khách được thưởng thức, trải nghiệm đời sống văn hóa, sinh hoạt của cộng
đồng dân cư sinh sống tại đây với những nét đặc sắc, độc đáo của một làng-xã.
+ Hòn Ba Cát Bằng: nơi xây dựng loại hình du lịch sinh thái biển, nghỉ dưỡng, xây
dựng một số băng ga lâu (nhà chòi), cắm trại, tắm biển, câu cá, xem san hô, chèo kayak
khám phá các tài nguyên biển, đảo…
+ Khu vực Hang Chống Bỏi, Hòn Cặp Quan: Tổ chức du lịch theo loại hình câu
cá, chèo thuyền kayark, thưởng thức các món hải sản...
+ Đảo Đồng Công: Vườn xây dựng khu nghĩ dưỡng tại đảo Đồng công. Nơi đây du
khách tham quan rừng ngập mặn, quan sát các loài động vật hoang dã như Khỉ đuôi
vàng, Voọc đầu vàng. Bên cạnh đó, quý khách có cơ hội câu cá giải trí vào những ngày
cuối tuần.
c. Các tuyến du lịch trong Vườn
+ Tuyến Rừng Kim giao – Chòi Quan sát - Động Trung Trang: Ngắm rừng xanh
+ Tuyến Động Trung Trang - Khu vực Treo Cơm: Quan sát các loài động vật
hoang dã từ trên xe hoặc trên tuyến du lịch như khỉ vàng, chồn, sóc, chim. Ngoài ra
dọc theo suối du khách có thể bắt gặp những hoạt động đánh bắt tôm cá rất thủ công
của người dân và các điểm câu cá rất cuốn hút và lý thú.
+ Tuyến Vườn Thú - Vườn Thực vật - Hồ Hới: tham quan các loài động vật đang
được cứu hộ tại Vườn. Ngắm Vườn Phong lan, Vườn Bướm và vườn cây thuốc.
+ Tuyến du lịch mạo hiểm: Tuyến Mé Gợ - De Bờ Đa – Trà Báu - Cảng Cây Cau –
Gia Luận: Tuyến mạo hiểm khám phá đời sống thiên nhiên hoang dã để quan sát, tìm
hiểu những loài động thực vật quý hiếm, các hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên đa
dạng.
+ Tuyến đi tàu nhỏ từ Gia Luận – Áng Kê - Trà Báu: (quan sát Voọc Cát bà, tắm
biển, câu cá… có thể kết hợp cả đi bộ từ 1 – 2 ngày).
d. Hoạt động của Trung tâm:
Tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái.
Tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường và hướng nghiệp nông, lâm, ngư
nghiệp.
e. Khả năng tham gia các hoạt động du lịch của cộng đồng địa phương
Cộng đồng có thể tham gia các hoạt động như; nhà hàng, khách sạn, phương tiện đi
lại, thuyền du lịch thăm vịnh, dịch vụ vui chơi giải trí, đồ lưu niệm, nuôi cá lồng bè, dê
núi, gà đồi, rau sạch, hoa quả....... Một số người có trình độ tham gia làm hướng dẫn
viên cho du khách tại các điểm du lịch, các tour, các khách sạn ....
g. Các tác động của du lịch có hại cho tài nguyên, môi trường trong tương lai
16
Hoạt động của DLST cũng gây ra nhiều vấn đề nguy hại đến môi trường: Rác thải,
tiếng ồn, các công trình xây dựng, khói bụi, tiếng ồn...
Săn bắn động vật hoang dã để chế biến thức ăn cho du khách ... đã làm các loài này
gần như suy kiệt., đây là nguyên nhân làm suy giảm hệ sinh thái nghiêm trọng.
Những thuận lợi và khó khăn kể trên về hoạt động du lịch của VQG Cát Bà có thể
được khái quát theo ma trận SWOT như sau:
Điểm mạnh (S)
Điểm yếu (W)
- Lực lượng cán bộ, nhất là cán bộ làm
công tác hoạt động du lịch còn thiếu về
- Đa dạng các hệ sinh thái, đa dạng loài nhân lực và yếu về năng lực nên chưa
động thực vật
đáp ứng nhu cầu đặt ra
- Vườn có cảnh quan thiên nhiên đẹp, cơ - Chưa có quy hoạch tổng thể du lịch
sở cách mạng, nhiều khu di tích có giá VQG Cát Bà,
trị lịch sử,…
- Trung tâm dịch vụ du lịch sinh thái và
- Nhiều loài thủy hải sản có giá trị kinh giáo dục môi trường mới thành lập nên
tế
hiệu quả hoạt động chưa cao, thiếu
- Một số cán bộ đã được từng bước đào vốn,...
tạo về chuyên môn nâng cao năng lực
- Cơ chế chính sách về quản lý tài
chính, phát triển cơ sở hạ tầng, cơ chế
quản lý phân khu chức năng… còn hạn
chế
Cơ hội (O)
Thách thức (T)
và ngoài nước trong công tác hoạt động đồng,...
du lịch.
- Phát triển du lịch kéo theo sự phát
triển của quá trình đô thị hoá, cơ sở hạ
tầng,...gây ảnh hưởng đến cảnh quan
thiên nhiên, sinh thái và đa dạng sinh
học.
3.5. Dự báo sức chịu tải của Vườn quốc gia
Tài nguyên môi trường ở vườn quốc gia Cát Bà sẽ không thể được bảo vệ và phát
triển một cách bền vững nếu phát triển du lịch quá mức sức chịu tải của Vườn. Vì vậy
việc tiến hành nghiên cứu sức chịu tải du lịch của từng nơi và duy trì sự phát triển bền
vững trong chừng mực hay giới hạn chịu đựng là hết sức quan trọng. Trong giới hạn về
phạm vi, thời gian nghiên cứu đề tài này chỉ dựa trên cơ sở thực tế, các ảnh hưởng từ
hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trường qua các đánh giá trực quan qua các năm
thì mức ảnh hưởng vẫn có thể chấp nhận được.
Đối với các tuyến du lịch đi qua hoặc nằm gần phân khu bảo vệ nghiêm ngặt như
tuyến từ trung tâm Vườn đi Ao Ếch - Việt Hải cần hạn chế khách thăm quan vào các
thời điển sáng sớm (trước 8 giờ) và chiều tối (sau 16 giờ) vì đây là thời điểm các loài
động vật hoang dã kiếm ăn. Các tuyến trên biển giáp với các phân khu bảo vệ nghiêm
ngặt 2-3, du khách rất dề nhìn thầy Voọc (loài thú đặc trưng của Cát Bà) từ trên tàu,
nhưng cũng không lên đến gần đàn voọc để tránh làm xáo trộn sinh hoạt của chúng.
Nếu thấy có biểu hiện quá tải có thể giới hạn số lượng khách trên tuyến trong cùng một
thời gian hoặc tăng lệ phí thăm quan để giảm tải.
Đối với các tuyến, điểm du lịch nằm trong vùng phục hồi sinh thái có khả năng phát
triển mạnh các hoạt động thăm quan nghỉ mát, thắng cảnh và các hoạt động vui chơi
giải trí tại đây. Tuy nhiên cũng cần lưu ý tránh các tác động có ảnh hưởng xấu đến sinh
trưởng và phát triển của hệ sinh thái, chú ý bảo vệ cảnh quan và môi trường.
Trong phân khu dịch vụ hành chính là trung tâm đón tiếp khách, có thể bố trí nhà
trưng bày các thông tin, hình ảnh, mẫu vật giới thiệu cho khách, khuôn viên cây cảnh
19
20
- Rà soát lại ranh giới các phân khu chức năng của VQG với ranh giới các vùng của
khu dự trữ sinh quyển
- Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế địa phương ưu tiên cho phát triển DLST
- Riêng khu vực vùng Vịnh Vườn cần liên kết với UBND Huyện lập đề án thu phí
vùng Vịnh nhằm tăng nguồn thu, giảm phiền hà cho du khách khi tiến hành thu phí tại
nhiều điểm
- Đối với các loại hình dịch vụ và liên doanh liên kết cần tạo một khung pháp lý cụ
thể như việc cho thuê đất miễn thuế, hoặc tạo điều kiện vốn để xây dựng lại ngành
nghề, hoặc mở rộng các loại hình dịch vụ
- Xây dựng đô thị tại Cát Bà phải có quy hoạch tổng thể và quy hoạch đó phải hài
hoà với điều kiện tự nhiên, sinh thái, cảnh quan của vùng
- Trong quá trình quy hoạch chi tiết cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa chuyên gia du
lịch và các chuyên gia ở những lĩnh vực liên quan đặc biệt với chính quyến địa phương
và cộng đồng
- Ngoài việc hợp tác với chuyên gia quốc tế có kinh nghiệm trong lĩnh vực phát
triển DLST, điều quan trọng là phải đảm bảo về thủ tục hành chính để cho dự án có
tính khả thi
- Quảng bá trên quốc tế về di sản thế giới làm cơ sở cho ngành du lịch có tính cạnh
tranh trên toàn cầu
- Quy hoạch sử dụng đất để bảo đảm dành đủ các khu vực cho du lịch, bảo tồn và
bảo vệ những khu đó khỏi bị ảnh hưởng do các ngành công nghiệp khác gây ra
- Vừa kết hợp những chính sách, quy định của Nhà nước vừa kết hợp với những
hương ước của địa phương nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục người dân
3. Đối với người dân địa phương
- Nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa và tầm quan trọng của phát triển du
lịch sinh thái
lịch quốc tế năm 2008 (khoảng 190 triệu lượt). Xu thế phát triển du lịch sinh thái có ý
thức đặc biệt với sự phát triển bền vững của du lịch trên quan điểm tài nguyên và môi
trường. Nhiều nước trong khu vực rất quan tâm đến những giá trị văn hoá giáo dục và
lợi ích kinh tế của hoạt động DLST ở các khu vực tự nhiên, dù với nhóm nhỏ hay các
đoàn khách có tổ chức. Phần lớn các nước trong khu vực đã thiết lập và duy trì hệ
thống các VQG với chức năng phát triển du lịch sinh thái mang lại những lợi ích về
kinh tế, bảo tồn và giáo dục.
Sử dụng môi trường rừng hợp lý có hiệu quả để phát triển du lịch sinh thái sẽ tạo
điều kiện cho du khách hoà nhập với thiên nhiên, tái tạo sức khoẻ và góp phần nâng
cao trách nhiệm trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường và bảo tồn các giá trị văn hoá
của địa phương.
22
Du lịch đang là thành phần kinh tế mũi nhọn của Huyện và Thành Phố. Vì vậy cần
có các chính sách hỗ trợ giúp cho ngành du lịch còn non trẻ của Thành phố nói chung
và Vườn quốc gia nói riêng có thể phát triển một cách bền vững.
2. Kiến nghị
* Đề nghị UBND thành phố Hải Phòng:
Sớm xem xét phê duyệt đề án phát triển du lịch sinh thái tổng thể Vườn quốc gia
Cát Bà.
Rà soát lại quy hoạch khu dự trữ sinh quyển để có chiến lược bảo tồn và phát triển
một cách phù hợp nhất. Quy hoạch chi tiết khu nuôi trồng thuỷ sản.
Đề ra chủ trương có tính chất định hướng phát triển tổng thể du lịch sinh thái và
giáo dục hướng nghiệp. Giúp Vườn cũng như các doanh nghiệp hoạt động du lịch ổn
định trên địa bàn.
Xem xét cho phép các doanh nghiệp có đề án chi tiết xin thuê, khoán môi trường
rừng đặc dụng để phát triển DLST.
Hỗ trợ quy hoạch và xây dựng mạng lưới giao thông để đảm bảo giao thông thông