ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
TRƯƠNG THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH
THÁI VƯỜNG QUỐC GIA BA BỂ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Mã số
: 60 85 02
Người hướng dẫn khoa học : TS. Phí Hùng Cường
Thái Nguyên, năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều thập kỷ vừa qua, đặc biệt là từ những năm 1950 trở lại đây, du
lịch toàn cầu đã phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân về lượng
Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể nằm ở phía Bắc của tỉnh Bắc Kạn, có tiềm
năng đất đai, khí hậu và tài nguyên động thực vật đa dạng và phong phú. Nơi đây
từng được chọn làm nơi nghỉ mát, vui thú của quan lại, thực dân thời Pháp thuộc.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là việc quan tâm đầu tư, khai thác các thế mạnh của
Vườn còn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.
Vì vậy, để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của tỉnh
Bắc Kạn trong tổng thể kinh tế - xã hội của cả nước, việc “Nghiên cứu, đánh
giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia
Ba Bể”nhằm đảm bảo hài hoà giữa phát triển nhanh, hiệu quả và lâu bền, xoá
đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và thể lực của nhân dân và cải thiện môi trường
là rất cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên thế
giới và Việt Nam vào địa bàn VQG Ba Bể nhằm đánh giá tiềm năng và đưa ra các
giải pháp cho phát triển DLST ở VQG Ba Bể. Góp phần tôn tạo, khai thác có hiệu
quả tài nguyên, BVMT, phát triển cộng đồng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình, các hướng nghiên cứu về phát triển DLST trên
thế giới và Việt Nam. Vận dụng nghiên cứu vào phát triển DLST VQG Ba Bể.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng hoạt động DLST
tại khu vực VQG Ba Bể.
- Đề xuất một số định hướng khai thác hiệu quả các tiềm năng phát triển
DLST phù hợp với lãnh thổ VQG Ba Bể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về du lịch sinh thái
1.1.1. Trên thế giới
“DLST là một loại hình du lịch có nguồn gốc từ du lịch thiên nhiên, được
xem như một phương pháp hữu hiệu nhằm thỏa mãn lòng khao khát cháy bỏng của
con người đến với thiên nhiên, gắn BVMT tự nhiên với phát triển bền vững.” [39]
Khi con người bắt đầu quan tâm về vấn đề BVMT, cũng là lúc DLST được
nhắc tới ngày càng nhiều hơn, nhất là từ sau hội nghị thượng đỉnh về môi trường tổ
chức tại Thụy Điển năm 1972. Nhưng nó chỉ thực sự được nghiên cứu vào thập kỷ
80 của thế kỷ XX, DLST đã được Hector Ceballos Lascurain – một nhà nghiên cứu
tiên phong về loại hình du lịch này đưa ra định nghĩa đầu tiên vào năm 1987 – đã
thu hút sự quan tâm của nhiều người trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1990, hiệp hội
DLST Quốc tế được thành lập. Ở phạm vi quốc gia, một số nước cũng đã thành lập
hiệp hội DLST quốc gia như: Brazil, Úc, Vênêzuêla…
Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu DLST
mang tính lý thuyết cũng như thực tiễn cao như: Ecotourism: Principles, practices &
policies for sustainability; Tourism planning; Ecotourism planning for protected areas;
The sustainability of ecotourism in Indonesia; Ecotourism and deverlopment, … hầu
hết các tài liệu này đều đã đưa ra các quan điểm, các nguyên tắc về DLST. Tuy nhiên
tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng khai thác du lịch và tùy từng quốc gia mà có quan
niệm khác nhau, nhưng nhìn chung, các tác giả đều cho rằng DLST là một loại hình
du lịch tối ưu, đảm bảo thực hiện được hai chức năng: phát triển và bảo tồn.
Các quốc gia đứng đầu về DLST hiện nay là Australia, New Zealand, Thụy
Điển, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Canada, Hoa Kỳ, ở khu vực Đông Nam Á có Mailaisia,
Mianma… Do nhu cầu đặc biệt cho chăm sóc sức khỏe con người về thể chất, tinh
thần, nâng cao nhận thức về thiên nhiên, cũng như BVMT cho người dân trên toàn
cầu, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã lấy năm 2002 là “Năm Quốc tế DLST” nhằm
tôn vinh ý nghĩa quan trọng của DLST, những ảnh hưởng và các lợi ích mà DLST
mang lại đối với vấn đề BVMT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thông đi lại được cải thiện, VQG Ba Bể đã bắt đầu thu hút được sự chú ý của các
nhà đầu tư, của khách du lịch và của các nhà khoa học. Nhiều công trình nghiên cứu
khoa học đã và đang được tiến hành trong khu vực, bao gồm: Luận chứng kinh tế kỹ thuật VQG Ba Bể; Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường, đề xuất giải pháp
khai thác hợp lý phục vụ phát triển KT - XH và BVMT vùng hồ VQG Ba Bể;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Nghiên cứu vùng đệm và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững ở VQG Ba
Bể; Nghiên cứu KT - XH, nguyên nhân sâu xa của sự suy giảm đa dạng sinh học
(ĐDSH) ở hai vùng khác nhau của Việt Nam, nghiên cứu mẫu ở khu vực VQG Ba
Bể và KBTTN Na Hang ở phía Bắc và VQG Yok Don ở Tây Nguyên; Quy hoạch
phát triển nông – lâm nghiệp và nông thôn huyện Ba Bể giai đoạn 1999 – 2010; …
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà
khoa học đi trước trong lĩnh vực DLST về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, luận văn
giải quyết một cách có hệ thống mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn về vấn đề này
và vận dụng vào nghiên cứu trong điều kiện khu vực VQG Ba Bể.
1.2. Các vấn đề cơ bản về du lịch sinh thái
1.2.1. Khái niệm về du lịch sinh thái
1.2.1.1. Du lịch
Trên thế giới, khái niệm du lịch được đưa ra từ rất sớm, với rất nhiều khái
niệm khác nhau. Các định nghĩa truyền thống chỉ xem du lịch đơn giản như một kỳ
nghỉ hoặc một chuyến đi để giải trí, làm phong phú thêm nhận thức của con người.
Theo Dowling & Weiler “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân
đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu
lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ” [41]
“Tài nguyên du lịch là các thành phần và các tổ hợp khác nhau của cảnh
quan tự nhiên, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn
khác được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành
các điểm du lịch, tuyến du lịch, khu du lịch, đô thị du lịch…” [14]
Tài nguyên du lịch được chia làm hai dạng là tài nguyên du lịch tự nhiên và
tài nguyên du lịch nhân văn. Các tài nguyên này có thể đang được khai thác hoặc
chưa khai thác. Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên DLST phụ thuộc nhiều yếu
tố: khả năng nghiên cứu và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn, yêu
cầu phát triển các sản phẩm DLST, trình độ phát triển khoa học công nghệ tạo các
phương tiện khai thác tiềm năng tài nguyên…
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa mạo, địa hình, khí
hậu, thủy văn, sinh vật, hệ sinh thái (HST), cảnh quan thiên nhiên, di sản thiên
nhiên có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để phục vụ mục đích du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do
con người sáng tạo ra. Bao gồm truyền thống văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích
lịch sử cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con
người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng vào mục
đích du lịch. [17, 29]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho
thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và
hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Và nơi nào có tài nguyên du lịch
phong phú thì sẽ có điều kiện thuận lợi để tổ chức nhiều loại hình du lịch với nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Năm 1991, theo Megan Epler Wood: “DLST là du lịch đến các khu vực còn
tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường và văn hoá mà
không làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế
để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích cho người dân địa phương”. [43]
Theo Lindberg, K. and Hawkins, 1993: “DLST được phân biệt với các loại
hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh
thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo mối quan
hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến
bản thân du khách thành những người đi đầu trong công tác BVMT. Phát triển
DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hoá và môi trường,
đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính cho du lịch mang lại và
chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”. [13].
Định nghĩa của Hiệp hội DLST quốc tế: “ DLST là việc đi lại có trách
nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc
lợi cho người dân địa phương”. [20]
DLST (ecotourism) được xem như một quan điểm phát triển du lịch bền
vững, đảm bảo thực hiện chức năng phát triển kinh tế và bảo tồn[1, 16]. Ngoài ý
nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ ĐDSH và văn hóa cộng đồng, phát triển
DLST mang lại những nguồn lợi to lớn về mặt kinh tế, tạo cơ hội tăng thêm việc làm
và nâng cao thu nhập, dân trí và sức khỏe cộng đồng dân cư địa phương thông qua
GDMT, văn hóa, lịch sử và nghỉ ngơi giải trí.
Ở Việt Nam, tại Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....