ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA ĐỊA LÝ – ĐỊA CHẤT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
Ở VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA – KẺ BÀNG,
TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Địa lý Tài nguyên & Môi trường
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiên:
ThS. Bùi Thị Thu Trần Thị Hồng Giang
Huế - 05/2014
Lời Cảm Ơn
Đề tài khóa luận được hoàn thành bằng sự nỗ lực của
bản thân dưới sự hướng dẫn của Cô giáo, ThS. Bùi Thị Thu
cũng như quý thầy, cô trong ngành Địa lý, khoa Địa lý – Địa
chất, trường Đại học Khoa học.
Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Các Thầy, Cô trong khoa Địa lý – Địa chất đã nhiệt
tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc hoàn
thành đề tài khóa luận.
- Các cán bộ của Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong
Nha – Kẻ Bàng; Ủy ban nhân dân huyện Bố Trạch, Minh
Hóa, Quảng Ninh; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh
Quảng Bình, đã tận tình giúp đỡ trong việc giới thiệu và
cung cấp tài liệu liên quan đến đề tài.
- Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự trực tiếp
hướng dẫn tận tình, chu đáo của Cô giáo, ThS. Bùi Thị Thu
trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
- Cuối cùng tôi bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người
thân cùng toàn thể anh chị, bạn bè đã động viên, tạo điều
1.3. ẢNH HƯỞNG CỦA DU LỊCH SINH THÁI ĐẾN CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG 12
1.3.1. Ảnh hưởng tích cực 13
1.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực 13
1.4. MỐI QUAN HỆ GIỮA DU LỊCH SINH THÁI VÀ CÁC VƯỜN QUỐC GIA 15
1.4.1. Vai trò của các vườn quốc gia đối với du lịch sinh thái 15
1.4.2. Bản chất của du lịch sinh thái và mục tiêu quản lý của Vườn Quốc gia 16
1.4.3. Mối quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn tự nhiên 17
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 20
1.5.1. Phương pháp thu thập tài liệu 20
1.5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp 21
1.5.3. Phương pháp khảo sát thực địa 21
1.5.4. Phương pháp bản đồ 21
1.5.5. Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch 22
Chương 2 23
TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI CỦA VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA – KẺ BÀNG 23
2.1. TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA – KẺ BÀNG 23
2.1.1. Vị trí địa lý 23
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên 23
2.1.3. Lịch sử hình thành và đặc điểm kinh tế - xã hội của Vườn Quốc gia 30
2.2. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA – KẺ
BÀNG 35
2.2.1. Giới thiệu về các điểm du lịch ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 35
2.2.2. Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái 42
Chương 3 49
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA – KẺ
BÀNG 49
3.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI. 49
3.1.1. Tiềm năng và kết quả đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái 49
3.1.2. Hiện trạng phát triển du lịch ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 49
3.1.3. Kế hoạch phát triển, quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 58
Bảng 2.1. Các đặc trưng khí hậu của địa bàn nghiên cứu 26
Bảng 2.2. Diện tích các vùng trong VQG PNKB 31
Bảng 2.3. Dân số của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 33
Bảng 2.4. Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá 44
Bảng 2.5. Thang đánh giá tổng hợp 47
Bảng 2.6. Điểm đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên của các điểm du lịch ở 47
VQG PNKB 47
Bảng 3.1. Lượt khách du lịch đến VQG PNKB giai đoạn 2003 - 2013 51
Bảng 3.2. Tổng khách du lịch đến Quảng Bình và VQG PNKB 51
Bảng 3.3. Doanh từ hoạt động du lịch tại VQG PNKB 2003 - 2013 53
Bảng 3.4. Tóm tắt ước tính lượng du khách và tỉ lệ đối với các phân khúc thị trường54
Bảng 3.5. Lượng khách các tháng trong năm của các năm 2007, 2009, 2011 55
Hình 3.1. Tính thời vụ của du khách tham quan khu vực VQG PNKB trong năm 2008. 57
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ vị trí Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Hình 2.2. Bản đồ du lịch và phân vùng chức năng Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Hình 3.1. Tính thời vụ của du khách tham quan khu vực VQG PNKB trong năm 2008
Hình 3.2. Bản đồ định hướng phát triển du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng
iii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch nói chung và DLST nói riêng đang là những lĩnh vực có xu thế phát
triển tất yếu. Nhất là trong thời đại ngày nay, khi nền kinh tế phát triển, đi kèm với thu
nhập ngày càng cao hơn thì tính chất công việc ngày càng căng thẳng khiến nhu cầu
nghỉ ngơi, thư giãn trở nên cần thiết. Đồng thời, quá trình đô thị hóa diễn ra trên diện
rộng, con người tập trung sinh sống trong môi trường bê tông hóa, ô nhiễm, khói bụi,
tiếng ồn,…ít có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên, nhất là thiên nhiên hoang dã nên rất
nhiều người có mong muốn tìm đến những nơi có thể hòa mình vào thiên nhiên, để
lượng khách du lịch quốc tế đến Thừa Thiên Huế cao gấp hơn 30 lần số lượng khách
quốc tế đến với Quảng Bình. Tại sao khách quốc tế đến Huế mà không đến Quảng
Bình hoặc chưa đến Quảng Bình? Làm thế nào để khai thác, để thu hút những đối
tượng này đến và dừng chân ở Quảng Bình trong tương lai? Để khai thác tốt tiềm năng
và phát triển DLST ở Quảng Bình, việc nghiên cứu và đề xuất “Định hướng phát
triển du lịch sinh thái ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, huyện Bố Trạch,
tỉnh Quảng Bình” là rất cần thiết.
2. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là đánh giá tiềm năng DLST để đề xuất định hướng phát
triển DLST ở VQG PNKB, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
3. Nhiệm vụ của đề tài
- Thu thập, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc
nghiên cứu DLST.
- Đánh giá tiềm năng DLST ở VQG PNKB.
- Phân tích hiện trạng phát triển du lịch ở VQG PNKB.
- Đề xuất định hướng phát triển DLST ở VQG PNKB.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Toàn bộ lãnh thổ vùng lõi và vùng đệm của VQG PNKB.
- Về nội dung: Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của VQG PNKB rất
phong phú và đa dạng, trong đó có cả những điểm du lịch tâm linh, mang giá trị lịch
sử cao. Đề tài tập trung vào định hướng phát triển DLST nên chỉ tập trung đánh giá
điểm du lịch tự nhiên và văn hóa bản địa.
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội
dung chính được trình bày trong 3 chương:
2
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tiềm năng du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
Chương 3: Định hướng phát triển du lịch sinh thái ở Vườn Quốc gia Phong Nha
– Kẻ Bàng
4
tự nhiên. Theo quan điểm này, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang còn thấp
kém, CSHT chưa đảm bảo, nhất là còn có sự chênh lệch quá lớn giữa thu nhập của
người dân trong nước và thế giới, nếu chạy theo số lượng khách mà không chú ý bảo
tồn tài nguyên thì chính sự phát triển hôm nay phá hoại sự phát triển ngày mai của
bản thân ngành du lịch, một ngành kinh tế đầy triển vọng của đất nước.
Nhìn chung, có thể coi DLST là một quan điểm phát triển du lịch theo hướng
bền vững, lựa chọn những mặt tích cực của một số loại du lịch, và có thể biểu diễn
bằng sơ đồ kết hợp giữa các thành phần du lịch thiên nhiên và văn hóa bản địa, du lịch
ủng hộ bảo tồn, du lịch có GDMT và du lịch hỗ trợ cộng đồng.
1.1.2. Các đặc trưng của du lịch sinh thái
DLST có những đặc trưng sau đây:
- DLST phát triển trên địa bàn có hệ sinh thái tự nhiên điển hình và các yếu tố
văn hóa bản địa. Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên và những
nét văn hóa bản địa đặc sắc.
- Đảm bảo tính bền vững về sinh thái và hỗ trợ bảo tồn: Do DLST phát triển trên
môi trường phong phú về tự nhiên nên trong hoạt động DLST, hình thức, địa điểm và
mức độ sử dụng nó cho các hoạt động du lịch phải được duy trì quản lý cho sự bền vững
của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch. Đặc trưng này được thể hiện ở quy mô
nhóm khách tham quan, yêu cầu sử dụng các phương tiện dịch vụ và tiện nghi của khách
thường thấp hơn các yêu cầu về việc đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng
- Có GDMT: Giáo dục và thuyết minh môi trường bằng các nguồn thông tin,
truyền tải thông tin đến du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên. Đặc điểm có
GDMT trong DLST là một yếu tố cơ bản, có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ
của khách, cộng đồng và chính ngành du lịch.
- Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích từ hoạt động
DLST: cải thiện đời sống, tăng thêm thu nhập cho cộng đồng địa phương trên cơ sở
cung cấp các kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng
tham gia vào việc quản lý, vận hành dịch vụ DLST. Đây cũng là cách để người dân có
thể trở thành người hỗ trợ bảo tồn tích cực.
cấp đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của
các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống và mối liên hệ giữa chúng với nhau và với
các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa
hình, khí hậu. Đó là các hệ sinh thái và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều
6
loài sinh vật (Theo công ước ĐDSH được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Rio De
Janeiro về môi trường).
Như vậy, có thể nói DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên chỉ có thể
tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái
cao. Điều này giải thích tại sao hoạt động DLST thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn
thiên nhiên, đặc biệt ở các VQG, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính ĐDSH cao và
cuộc sống hoang dã. Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình
DLST phát triển ở những vùng nông thôn hoặc các trang trại điển hình.
Điều kiện thứ hai có tính liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của DLST ở
2 điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho khách DLST, người
hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt cần phải là người am hiểu các đặc điểm
sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương. Điều này rất quan trọng và ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST khác với các loại hình du lịch tự
nhiên khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về hiểu biết này ở
người hướng dẫn viên. Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân
địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất về tự nhiên, văn hóa bản địa. Lúc đó,
người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi.
- Đối với hoạt động DLST đòi hỏi phải có được người điều hành đúng nguyên
tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và
không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn
giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hóa
trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi. Ngược lại với các nhà điều
hành du lịch truyền thống, các nhà điều hành DLST phải có được sự cộng tác với các
nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương với mục đích đóng
định về quản lý. Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị
trường khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ. DLST không thể đáp ứng
được các nhu cầu của mọi loại khách.
Điều kiện thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách du
lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết
mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết
đối với sự tồn tại lâu dài của ngành DLST. Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du
khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm.
8
DLST bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững. Điều đó không
có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch. Đây là điểm khác biệt cần nhấn
mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng trưởng của du lịch.
1.2. TIỀM NĂNG VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở
VIỆT NAM
1.2.1. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam
a. Tiềm năng tự nhiên
Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ
với 3/4 là địa hình đồi núi và cao nguyên, với hơn 3200 km đường bờ biển, hàng ngàn
hòn đảo. Đây là nơi sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm
dựng nước, đấu tranh giữ nước với nhiều truyền thống có những nét đặc trưng riêng,
nhiều di tích văn hóa lịch sử nên Việt Nam có nhiều điều kiện phát triển DLST.
Tiềm năng tự nhiên cho phát triển DLST ở Việt Nam là có sự ĐDSH cao. Về
thành phần các loài động thực vật, tại Việt Nam có tới 14.624 loài thực vật thuộc gần
300 họ, trong đó có nhiều loài cổ xưa và hiếm có, ví dụ như cây Tuế phát triển từ Đại
Trung Sinh, các loài có giá trị kinh tế gồm hơn 1000 loài lấy gỗ, 100 loài có dầu, hơn
1000 loài cây thuốc, 100 loài quả rừng ăn được Về động vật có tới 11.217 loài và
phần loài, trong đó có 1.009 loài và phân loài chim, 265 loài thú, 349 loài bò sát lưỡng
cư, 2000 loài cá biển, hơn 500 loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài tôm, cua, nhuyễn
thể và thủy sinh vật khác. Về các loài thú, Việt Nam có 10 loài đặc trưng nhiệt đới:
Cheo, Đồi, Chồn bay, Cầy mực, Cu li, Vượn, Tê tê, Voi, Heo vòi, Tê giác và đặc biệt,
UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Ngoài các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, nhiều nghề thủ công truyền thống
với kỹ năng độc đáo, nhiều lễ hội gắn liền với các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân
gian đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc cùng với những nét riêng, tinh tế của nghệ thuật
ẩm thực được hòa quyện, đan xen trên nền kiến trúc phong cảnh có giá trị triết học
phương Đông đã tạo cho Việt Nam sức hấp dẫn về du lịch.
Với các tiềm năng tự nhiên và nhân văn như vậy, Việt Nam rất thích hợp để
phát triển DLST, đặc biệt là tại các VQG và KBTTN.
1.2.2. Tình hình phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
DLST đang ngày càng phát triển. Theo đánh giá của Tổ chức Du lịch Thế
giới (WTO) trên phạm vi toàn cầu khối lượng khách hàng tham gia vào loại hình
DLST ở các vùng thiên nhiên hoang dã chiếm 10%, khoảng 50 triệu lượt khách và
10
doanh thu khoảng 30 tỉ USD. Tỷ lệ tăng hàng năm từ 10-30%, trong khi du lịch
truyền thống (du lịch nghỉ dưỡng, tham quan thư giãn, vui chơi giải trí, kinh doanh,
hội họp) tăng trung bình khoảng 4%. Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đã
có nhiều chuyển biến tích cực đáng kể. Số lượng khách tăng đều đặn qua các năm
từ 30-40%. Tuy nhiên, các loại hình du lịch phổ biến vẫn là du lịch truyền thống.
Xu hướng mới từ cả phía cầu và cung du lịch đã dẫn tới loại trình du lịch lựa chọn
(alternative tourism), dần dần thay thế cho loại hình du lịch đại trà truyền thống
(mass tourism). Trong số đó, phải kể đến DLST một lựa chọn cho phát triển du lịch
bền vững. Nếu các loại hình du lịch truyền thống tập trung cao độ vào việc thoả
mãn các nhu cầu của khách du lịch thì DLST tập trung cao vào hoạt động của
khách du lịch với những ảnh hưởng tích cực của họ tới môi trường và cư dân ở nơi
khách đến du lịch.
Nhận thức rõ tiềm năng và xu hướng cũng như khả năng phát triển, DLST đã
và đang trở thành một hướng đi chủ đạo trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia.
Những định hướng ban đầu trong phát triển DLST đã phát triển các loại hình du lịch
như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thám hiểm, du lịch văn hóa – lễ hội gắn với bản địa,
du lịch tắm biển, du lịch xanh,… là những loại hình du lịch rất được ưa thích.
Bảng 1.1. Tổng khách du lịch đến Quảng Bình giai đoạn 2003 - 2013
Năm
Tổng khách du lịch đến Quảng Bình
Số lượng (người) Tốc độ tăng trưởng (%)
2003 399.799
2004 615.522 53,9
2005 510.594 -18,1
2006 551.894 8,0
2007 593.062 7,4
2008 527.960 11,0
2009 652.551 23,6
2010 857.748 31,4
2011 1.044.303 21,7
2012 1.065.000 1,9
2013 1.139.335 6,9
[Nguồn: VQG PNKB, Sở VHTT & DL Quảng Bình và tính toán của tác giả]
1.3. ẢNH HƯỞNG CỦA DU LỊCH SINH THÁI ĐẾN CỘNG ĐỒNG ĐỊA
PHƯƠNG
12
DLST không chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở các nguồn tài
nguyên thiên nhiên được bảo vệ, mà nó còn có mối quan hệ với các cộng đồng địa
phương trong phạm vi lân cận các VQG.
Những yếu tố thu hút sự quan tâm của khách du lịch với cộng đồng địa
phương rất đa dạng như: các yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, kiến trúc, văn hóa,
văn nghệ, truyền thống, tập quán sinh hoạt, trang phục, âm nhạc, tôn giáo, ngôn
ngữ, ngành nghề truyền thống, và các món ăn địa phương… Thêm vào đó, khi
khách du lịch đến tham quan, cộng đồng địa phương lại cung cấp các dịch vụ như:
nơi ăn, chốn nghỉ và các dịch vụ du lịch khác…
Vì vậy, khách DLST, dù chỉ đi tham quan, khám phá thiên nhiên mà vẫn không
tránh khỏi những ảnh hưởng đến cộng đồng địa phương. Mối quan hệ này nên được
Du lịch tập trung gây ra sự quá tải cho cơ sở hạ tầng hiện có như: khả năng
cung cấp nước, điện, nhiên liệu, xử lý chất thải… Ngược lại, nếu cơ sở hạ tầng được
thiết kế và quy hoạch lớn hơn nhu cầu thì mức sử dụng thấp, sẽ dấn đến thua lỗ hay
dấn đến gia tăng giá cả bất hợp lý.
Thực chất, sự mở rộng du lịch đã gây nên sự lạm phát giá đất và được coi như
là một tác động lâu dài. Việc mở rộng các vùng đất được sử dụng cho du lịch đánh
gofl ở Thái Lan, đã nảy sinh các “cơn sốt” đất kéo dài.
b. Ảnh hưởng tiêu cực về mặt văn hóa – xã hội
Trong du lịch, các ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa – xã hội bản địa đã trở nên
khá phổ biến ở nhiều quốc giá. Sự phát triển du lịch quá mức gây ảnh hưởng đến lối
sống truyền thống của người dân địa phương, và thường không phải tốt hơn. Ví dụ,
những người dân ở thị trấn Fuenterrebia của Tây Ban Nha có nguy cơ mất đi truyền
thống văn hoá của mình khi buộc phải biểu diễn những điệu nhảy dân tộc vì sức mạnh
của đồng đô la. Các ví dụ tương tự có thể thấy ở nhiều nơi, trong đó đặc biệt ở các
nước đang phát triển như Tháo Lan, Malysia, Indonesia, và cả ở Việt Nam.
Các hành vi cờ bạc, nghiện hút và mại dâm là những tệ nạn mà du lịch có thể là
một trong những nguyên nhân gây nên hoặc dung túng. Ví dụ về “du lịch tình dục” có
thể thấy ở nhiều nơi, trong đó điển hình như Băng Cốc – Thái Lan, Sydney (Australia)
với phố King Cross,…
Nhiều nghiên cứu cho thấy, mức độ và thời gian “đối mặt” với du lịch qua các
hoạt động du lịch của dân địa phương có thể dẫn đến sự thay đổi thái độ của họ với du
khách. Mối quan hệ giữa khách du lịch và dân địa phương sẽ trở nên “bức bối, khó
chịu” đối với cả hai khi số du khách vượt quá mức có thể chấp nhận được.
DLST, với mục tiêu cải thiện mức sống cho đa số người dân địa phương, có khả
năng hạn chế những ảnh hưởng xấu về văn hóa – xã hội. Đây là một mục tiêu không
thể xem nhẹ trong DLST, song song với mục tiêu bảo tồn.
14
Để tránh khỏi những tác động tiêu cực của du lịch thông thường, việc thiết kế
một kế hoạch phát triển DLST, đảm bảo các yêu cầu cơ bản là rất cần thiết trước khi
khuyến khích ở một khu tự nhiên.
Các yếu tố khiến một VQG hoặc một khu tự nhiên trở thành hấp dẫn khách du
lịch rất đa dạng và bao gồm:
- Vị trí ở gần hay xa sân bay quốc tế, nội địa hay một trung tâm du lịch lớn.
- Khả năng đến khu vực tham quan, dễ hay khó?
- Các đặc điểm sinh thái tự nhiên: sự đa dạng, các loài quý hiếm, điển hình, các
loài đặc hữu, sự hấp dẫn và khả năng để quan sát chúng (bằng cách nào, thường xuyên
hay mang tính mùa), sự an toàn khi quan sát.
- Các yếu tố hấp dẫn khác như: bãi biển, sông, hồ nước với các thiết bị giải trí;
thác nước hoặc bể bơi; và các loại hình giải trí khác.
- Các yếu tố văn hóa xã hội địa phương hấp dẫn khách.
- Mức độ đảm bảo các dịch vụ: ăn uống, nơi ở và các dịch vụ khác.
- Mức độ khác biệt so với các khu du lịch khác.
- Mức độ gần/xa các điểm du lịch lân cận, sự hấp dẫn của các điểm này đối với
du khách, khả năng kết hợp tham quan.
Thông thường, khách DLST mong muốn tìm đến những nơi có đặc điểm khác
biệt, và có thể kết hợp với những hoạt động giải trí khác như tắm nắng, bơi lội, mua
hàng hóa… Vì vậy, một khu tự nhiên hay một VQG sẽ có nhiều khả năng hấp dẫn
khách du lịch khi có nhiều yếu tố trên kết hợp.
Việc khai thác các tiềm năng du lịch vủa các VQG hay các khu tự nhiên còn
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.
1.4.2. Bản chất của du lịch sinh thái và mục tiêu quản lý của Vườn Quốc gia
Bản chất của DLST, mối quan hệ với VQG là vai trò của nó với mục tiêu bảo
tồn, hỗ trợ cộng đồng là những cơ sở lý luận khoa học cho việc khuyến khích phát
triển DLST trong khu vực VQG. Chức năng của VQG với yêu cầu bảo tồn được đặt
lên hàng đầu, và tạo môi trường cho các hoạt động du lịch cũng à những cơ sở cho
DLST phát huy vai trò ở VQG PNKB. Vì vậy, các hoạt động du lịch cần đảm bảo tôn
trọng những mục tiêu quản lý của VQG đã được quy định chung như sau:
- Bảo vệ các khu cảnh quan và tự nhiên có tầm vóc quan trọng quốc gia và quốc
tế nhằm phục vụ cho mục đích du lịch, giải trí, giáo dục, khoa học và tín ngưỡng.
16
17