Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM DƯƠNG VĂN THIỆN Tên Đề Tài:
“ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI
THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng &
L.K.Fu, 1975) TẠI KHU BẢO TỒN KIM HỶ, BẮC KẠN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010-2014

Th

Th

ái Nguyên - năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu một số đặc điểm
lâm học loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng
& L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn” là công trình
nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, khóa luận được thực hiện dưới sự
hướng dẫn của ThS. Nguyễn Tuấn Hùng và ThS. Lê Văn Phúc trong thời
gian thực tập từ tháng 02/2014 đến tháng 05/2014. Những phần sử dụng tài
liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều
tra quá trình điều tra diễn ra trên thực địa hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi
hoàn toàn chịu chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỉ luật của Khoa và
nhà trường đề ra.
Thái nguyên, tháng 5 năm 2014

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận đã chỉnh sửa sau khi hội đòng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)

MỤC LỤC
Phần 1
:
MỞ ĐẦU
1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa 3
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa về thực tiễn 3
Phần 2
:
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4
2.1. Trên Thế giới 4
2.2. Ở Việt Nam 9
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 14
2.3.1. Điều kiện tự nhiên 14
2.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội 19
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
……………………………………………………………………………….21
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 21
3.3. Nội dụng nghiên cứu 21
3.4.Phương pháp nghiên cứu 22

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTTT Công thức tổ thành
D1.3tb Đường kính ngang ngực trung bình
ĐDSH Đa dạng sinh học
G Tiết diện
Hvntb Chiều cao vút ngọn trung bình
KBT Khu bảo tồn
ÔDB Ô dạng bản
ÔTC Ô tiêu chuẩn
QXTV Quần xã thực vật
VQG Vườn quốc gia
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.13: Mật độ tái sinh tại đai độ cao trên 700m
42
Bảng 4.14: Phân bố tái sinh theo chất lượng
43
Bảng 4.15: Phân bố tái sinh theo nguồn gốc
44
Bảng 4.16: Đặc điểm cây bụi thảm tươi tại các đai độ cao nơi cóThiết
Sam Giả Lá Ngắn phân bố
44
DANH MỤC CÁC BIỂUBiểu 01: Biểu điều tra tầng cây cao 56
Biểu 02: Biểu điều tra cây tái sinh 56
Biểu 03: Biểu điều tra cây bụi 56
Biểu 04: Biểu điều tra thảm tươi 57
Biểu 05: Điều tra Thiết Sam Giả Lá Ngắn trưởng thành 57
Biểu 06: Điều tra Thiết Sam Giả Lá Ngắn tái sinh 57
Biểu 07 : Biểu điều tra đặc điểm hình thái Thiết sam giả lá ngắn 58 PHỤ LỤC
vôi có độ cao từ 500 – 1500m so với mặt nước biển như Hà Giang, Cao Bằng,
Bắc Kạn, Lạng Sơn (Bắc Sơn). Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá
trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan.
Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá
thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân,
nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm
hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả
năng tái sinh kém. Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Cần
phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng
loài cây này ở vùng núi đá vôi.
Thiết Sam Giả Lá Ngắn được đề nghị là loài bổ xung vào danh lục các
loài quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai

2thác và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt
Nam 2007 và danh lục đỏ IUCN.
Những nghiên cứu về Thiết Sam Giả Lá Ngắn trên núi đá vôi ở nước ta
còn nhiều hạn chế, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc
điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên
còn rất ít.
Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu
về đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu. Vì vậy việc nghiên cứu sâu về
hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh tự nhiên là điều
cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho công tác bảo tồn
một loài quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang đứng trước
nguy cơ tuyệt chủng.
Xuất phát từ những nguy cơ trên cần thiết phải tìm hiểu nhằm tìm ra
các biện pháp có hiệu quả để bảo vệ vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

1975).
1.4.2. Ý nghĩa về thực tiễn
- Biết được đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc,
tình trạng và vai trò của loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn.
- Từ nghiên cứu đưa ra các biện pháp bảo tồn loài một cách tốt nhất. 4Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Trên Thế giới
Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, lâm học loài cây
Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ
nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài
của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài.
Tolmachop A.I. cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể
bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt
địa lý” (Richards P.W, 1968) [20].
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái
và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới. Đây là bước đầu tiên, làm
tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan. Sự ra đời của các bộ thực vật
chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại
cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau.
Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ
quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố
ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt. Điều này có ý nghĩa
cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống.
Có rất nhiều công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài

hình thái. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại
bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng. Ông nhận định:
"Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo
và cũng phong phú nhất về mặt loài cây" (Richards P.W, 1968) - Vương Tấn
Nhị dịch) [20].
Odum E.P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái, trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935). Ông đã phân chia
ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên

6cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng
như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý (Odum E.P,
1971) [34].
Lacher. W (1978) đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh
thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh
sáng, độ nhiệt, độ ẩm, nhịp điệu khí hậu (Lê Phương Triều, 2003) [25].
Theo Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900
loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt
đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi.
Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216
loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (Nguyễn Hải
Tuất, 2006) [28].
Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre,
2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình
thái của loài Vối Thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về
đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp
cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng
rừng (Hoàng Văn Chúc, 2009) [9].

rằng, kiểu cách tái sinh phổ biến của cây gỗ rừng mưa là tái sinh theo vệt hay
theo lỗ trống (Nguyễn Thanh Bình, 2003) [2].
Theo quan điểm của các nhà lâm học thì hiệu quả tái sinh rừng là xác
định được mật độ tái sinh, chất lượng cây tái sinh (cây triển vọng), tổ thành
loài và phân bố của cây tái sinh…Sự tương đồng hay khác biệt trong tổ thành
của loài cây tái sinh với tổ thành loài cây gỗ đã được các nhà khoa học quan
tâm Richards (1933, 1939); Baur (1964). Do tính phức tạp của tổ thành loài
cây, nên khi khảo sát người ta chỉ đo đếm, nghiên cứu các loài có giá trị thực
tiễn và có ý nghĩa nhất định. Vansteenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm

8tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh
vệt (Lê Xuân Thắng, 2003) [21].
Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng,
đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn
hoàn cảnh rừng. Hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ
thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố.
Nghiên cứu Thiết Sam Giả lá ngắn
Trên thế giới, Thiết Sam Giả lá ngắn gặp ở các vùng núi đá vôi của hai
tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc).
Lịch sử của tên cây: Tên gọi chung “Linh Sam Douglas” (David
Douglas) nhà thực vật học người Scotland là người đầu tiên giới thiệu
Pseudotsuga menziesii đến Scotland vào năm 1827. Trong quá khứ các loài
cây đã được Botanically phân loại trong các nhóm chi cây khác xuất hiện
tương tự như trong chi: Abies, Thông , Picea, Sequoia và Tsuga.
Chi này được mô tả đầu tiên bởi Carriere với các đại linh sam Douglas
của Bắc Mỹ, Pseudotsuga menziesii như một loài điển hình (nó trước đây
được đặt trong chi Thông và Abies). Có 22 loài và 3 giống đã được mô tả,

của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879-
1907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi
tiếng, là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là
Bộ thực vật chí Đông Dương do H. Lecomte chủ biên (1907-1952). Trong
công trình này, các tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả
các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó
hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ (Tên cây rừng Việt
nam, 2000) [5].
Ngoài ra, còn rất nhiều các bộ sách chuyên khảo khác, tuy không tách
riêng cho vùng Tây Nam Bộ nhưng cũng đã góp phần vào việc nghiên cứu đa
dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện

10điều tra quy hoạch, 1971-1988), Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990),
Cây tài nguyên (Trần Đình lý và cs., 1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần
Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng
Quảng Hà, 1997), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn chi & Trần Hợp, 1999),
Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, v.v (Trần Hợp, 2002) [14].
Nguyễn Thị Yến khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng nguồn
tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 15
loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng
và tiêu chuẩn của sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN (Nguyễn Thị Yến, 2003)
[30].
Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ\khi nghiên cứu hiện
trạng hệ thực vật ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã
thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm ở KBT thiên nhiên Thần
Sa - Phượng Hoàng gồm có 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 22 loài

Minh Tuấn, 1997) [27].
Vũ Văn Cần đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của
cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia
Cúc Phương, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân bố, hình thái, vật
hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân bố, tác giả cũng
đã đưa ra những kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi (Vũ Văn
Cần, 1997) [6].
Nguyễn Thanh Bình (2003) [23] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm
học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang. Với những kết quả
nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm
về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả
còn cho rằng phân bố N-H và N-D đều có một đỉnh; tương quan giữa Hvn và
D1,3 có dạng phương trình Logarit (Nguyễn Thanh Bình, 2003) [2].

12Lê Phương Triều đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài
Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả
nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra tác
giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D1.3,
N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3 (Lê Phương Triều, 2003) [25].
Nguyễn Toàn Thắng đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài
Dẻ Anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng. Tác giả đã có những kết luận
rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành
tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế là Dẻ
Anh, Vối Thuốc Răng Cưa, Du Sam, (Nguyễn Toàn Thắng, 2008) [22].
Hoàng Văn Chúc trong công trình “Nghiên cứu một số đặc điểm tái
sinh tự nhiên loài Vối Thuốc trong các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi ở
tỉnh Bắc Giang” đã mô tả một cách chi tiết về đặc điểm hình thái, vật hậu, tái

cao I (0-20 cm) và giảm dần ở các cấp chiều cao cao hơn. Mật độ cây tái sinh
thấp nhất (612-875 cây/ha) ở cấp chiều cao V (101 – 130 cm) (Lương Thị Thanh
Huyền, 2009) [17].
Nghiên cứu Thiết Sam Giả Lá Ngắn
Thiết Sam Giả Lá Ngắn được phân bố trên núi đá vôi của các tỉnh Hà
Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Đây là vùng phân bố cực nam của chi
Thiết Sam Giả Lá Ngắn ở châu Á.
Việt Nam được xếp vào một trong 10 điểm nóng nhất thế giới về bảo
tồn Thông, theo như kế hoạch bảo tồn Thông của IUCN. Dự án “Bảo tồn và
phát triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tủng,
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang” do Quỹ Môi trường toàn cầu, chương trình
tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam (UNDP- GEF/SGP) thực hiện mới chỉ bảo
tồn được 4 loài thuộc nhóm Thông (Thông Tre Lá Ngắn, Hoàng Đàn Rủ,
Thông Đỏ và Dẻ Tùng Sọc Nâu). Việc mới phát hiện thêm 2 loài thuộc họ

14Thông (Thiết Sam Núi Đá và Thiết Sam Giả) một lần nữa khẳng định, xã Thài
Phìn Tủng hiện nay đang lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm, đặc biệt là các
loài thuộc nhóm Thông, chiếm tới 21% tổng số loài Thông của cả nước.
Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,
1975), đây là loại gỗ nhỡ, gỗ đẹp và bền, thường mọc trên các đỉnh núi đá vôi
có độ cao từ 500 - 1500m so với mặt nước biển. Loài này mang nhiều ý nghĩa
về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan.
Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá thể
trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng
chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ
nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái
sinh kém. Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Cần phải có

, có nhiều nơi dốc đứng. Hiện tượng Caster hoá
diễn ra rất mạnh, bao gồm Caster bề mặt và Caster ngầm, tạo nên nhiều hang
động và sông ngầm. Khu vực được chia làm 2 vùng rõ rệt:
Vùng núi đá: nằm ở phía Tây và Tây Nam khu vực, đây là vùng rừng
trên núi đá vôi tập trung, địa hình phức tạp, gồm nhiều đỉnh cao, độ cao trung
bình 600-700m độ dốc 25-35 độ có nơi > 45độ, đường đi lại khó khăn, tài
nguyên thực vật rừng nói chung ít bị tác động.
Vùng núi đất: nằm ở phía Bắc và phía Đông - Đông Nam khu vực địa
hình ít phức tạp, độ cao trung bình từ 400-600m độ dốc từ 25-30 độ. Đây là
nơi dân cư tập trung đông, giao thông đi lại dễ dàng, có tiềm năng để phát
triển sản xuất nông – lâm nghiệp.
c. Địa chất, đất đai
Địa chất:
Nền địa chất khu vực nghiên cứu có nguồn gốc trầm tích nằm trong
quy luật tạo sơn chung của vùng Đông Bắc nước ta, với các sản phẩm trầm
tích chủ yếu là bột kết và cát kết phân lớp mỏng, phiến thạch sét, cuội kết hạt
nhỏ và sỏi kết màu xám cùng đá vôi màu đen và xám sáng khó phong hóa.

Trích đoạn Cấu trúc tổ thành tầng cây cao ở độ cao trên 700m Đặc điểm loài cây bụi thảm tươi nơi Thiết Sam Giả Lá Ngắnphân bố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status