Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài thiết sam giả lá ngắn (pseudotsuga brevifolia w c cheng l k fu, 1975) tại xã thài phìn tủng, huyện đồng văn, tỉnh hà giang - Pdf 24

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
ÔDB 4
Ô dạng bảng 4
ÔTC 4
Ô tiêu chuẩn 4
VQG 4
Vườn quốc gia 4
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH VẼ 6
Phần 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 3
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
3
2.1. Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trên thế giới 3
2.2. Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở Việt Nam 4
2.3. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh 7
2.3.1. Trên thế giới 7
2.3.2. Ở Việt Nam 9
2.4. Những nghiên cứu về Thiết sam giả lá ngắn 11
2.4.1. Trên thế giới 11
2.4.2. Ở Việt Nam 12
2.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 14
2.5.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Văn 14

4.2.3. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 34
4.2.4. Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang 35
4.3. Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh loài Thiết sam giả lá
ngắn 36
4.3.1. Ảnh hưởng của địa hình 36
4.3.2. Ảnh hưởng của đất 37
4.3.3. Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi 38
4.3.4. Ảnh hưởng của độ tàn che 42
4.3.5. Ảnh hưởng của con người 43
4.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Thiết sam giả lá ngắn 43
PHẦN 5 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.3. Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ÔDB Ô dạng bảng
ÔTC Ô tiêu chuẩn
VQG Vườn quốc gia
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi (theo Drude) 27
Bảng 4.1. Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ ở vị trí sườn 28
Bảng 4.2. Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ ở vị trí đỉnh 29
Bảng 4.3. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh ở các
vị trí núi đá vôi 31
31
Bảng 4.4: Nguồn gốc và chất lượng cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh ở vị trí
sườn núi đá vôi 32
Bảng 4.5: Nguồn gốc và chất lượng cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh ở vị trí
đỉnh núi đá vôi 33

nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm
hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả
năng tái sinh kém.
Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị là loài bổ sung vào danh lục các loài
quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006, nghiêm cấm khai thác và
sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo Sách đỏ Việt Nam 2007
và Danh lục đỏ IUCN (2007). Chính vì vậy, nếu không có những biện pháp bảo
vệ và nhân rộng chúng ra thì loài cây này sẽ có nguy cơ bị tiêu diệt.
Hiện nay trong nhiều vùng rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng trong
đó có loài Thiết sam giả lá ngắn do sử dụng phương thức khai thác - tái sinh
không đáp ứng được những lợi ích lâu dài của nền kinh tế và bảo vệ môi
trường. Các phương thức khai thác - tái sinh không hợp lý đã và đang làm cho
loài Thiết sam giả lá ngắn suy giảm cả về số lượng và chất lượng.
Vì vậy, Thiết sam giả lá ngắn đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Cần
phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng
loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi. Hiện nay, những nghiên cứu về Thiết
sam giả lá ngắn trên núi đá vôi ở nước ta còn nhiều hạn chế, các nghiên cứu
mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, những
thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên còn rất ít.
2
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết
sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng &
L.K.Fu, 1975) tại xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà
Giang”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn tại
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp
xúc tiến quá trình phục hồi nhằm nâng cao chất lượng rừng và các quá trình
diễn ra trong hệ sinh thái rừng tự nhiên.

làm rẫy. Vai trò quan trọng của lớp tái sinh này là nguồn thay thế lớp cây đã
già cỗi, là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng.
Khoa học ngày nay đã chứng tỏ rằng các biện pháp bảo vệ, sử dụng và
tái sinh tạo lại rừng chỉ có thể giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết
đầy đủ về bản chất các quy luật sống của rừng tương ứng với những điều kiện
tự nhiên môi trường khác nhau. Nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên rừng có
khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu chúng ta nắm được quy luật tái sinh,
chúng ta sẽ có điều khiển quy luật đó phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh.
Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định phương
thức kinh doanh rừng.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả của tái sinh
rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng
cây con, đặc điểm phân bố. Vai trò của cây con là thay thế cây già cỗi, vì vậy
hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của
rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Trên thế giới, tái sinh rừng đã được nghiên cứu
từ hàng trăm năm trước đây, nhưng từ năm 1930, mới bắt đầu nghiên cứu tái
sinh rừng nhiệt đới.
Theo P.W Richard tổng kết quá trình nghiên cứu tái sinh cho thấy, cây tái
sinh có dạng phân bố cụm, một số có dạng phân bố Poissn Van Steens (1956), đã
nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng mưa nhiệt đới, đó là tái sinh
phân tán liên tục của loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của loài cây ưa sáng
Do đặc điểm của rừng nhiệt đới là thành phần loài phức tạp, nên trong
quá trình nghiên cứu, hầu như các tác giả chỉ tập trung vào các loài cây gỗ có
ý nghĩa nhất định.
4
Đối với rừng nhiệt đới, các nhân tố như: Ánh sáng, độ ẩm của đất, kết
cấu quần thụ cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tái
sinh Baur G.N (1976) cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát
triển của cây con. Nhưng đối với sự nảy mầm và quá trình sinh trưởng của
cây mầm ảnh hưởng đó lại không rõ.

pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về
các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện
pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa.
Lê Ngọc Công (2004) [3] nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã
thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ,
468 chi, 654 loài, chủ yếu là lá rộng thường xanh trong đó có nhiều cây gỗ
quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến,…
Do đó, có thể nói rằng tái sinh rừng phụ thuộc nhiều vào nhân tố sinh
thái là ánh sáng chiếu xuống tán rừng. Các nhân tố nhiệt độ, ẩm độ không ảnh
hưởng nhiều nhưng nó cũng là nguyên nhân để cây tái sinh phát triển: Nơi
ẩm, đất tốt thì cây tái sinh phát triển tốt.
Trần Ngũ Phương (1970) [14] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới
mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động
của con người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết
quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm
thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi,
trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình
tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần
giống rừng khí hậu ban đầu” .
Thái Văn Trừng (1978) [17] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt
Nam đã kết luận, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và ảnh hưởng đến quá
trình tái sinh tự nhiên trong rừng.
Nguyễn Văn Trường (1991) đã tổng kết và đưa ra kết luận về tình tái
sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái
sinh dưới tán rừng của những loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang
6
tính chu kỳ. Sự phân bố cây tái sinh rất không đồng đều, số cây mạ chiếm ưu
thế rõ rệt so với số cây ở cấp tuổi khác.
Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiên cứu
từ những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái,

20 năm) đã không có quá trình tái sinh tự nhiên từ hạt hoặc có những cây con
đã chết rất sớm, nên điều tra không thấy một cá thể nào có D
1.3
<20cm.
Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài Du sam đá vôi
(Keteleeria davidiana Beissn.) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc
Kạn Trần Ngọc Hải (2011) [7] kết quả cho thấy: đây là loài cây gỗ lớn thuộc
họ Thông (Pinaceae), Du sam đã được tìm thấy tại Khu bảo tồn thiên nhiên
Kim Hỷ với những quần thể nhỏ 3-5 cây, rải rác trên các đỉnh núi đá vôi có độ
cao 600 – 700m so với mực nước biển. Chủ yếu mọc với loài Thiết sam giả lá
ngắn (Pseudotsuga brevifolia). Tái sinh tự nhiên của loài ít gặp. Đây là loài
thuộc nhóm nguy cấp, số cá thể trưởng thành gảm chỉ còn dưới 100. Do đó
cần có giải pháp bảo tồn khẩn cấp để cứu loài cây này thoát khỏi nguy cơ bị
tuyệt chủng.
Theo Bùi Thế Đồi và cs (2013) [6] Sa mộc dầu (Cunninhamia konishii) là cây
gỗ thường xanh, có biên độ sinh thái rộng, tuy nhiên ở VQG Pù Mát chúng có phân
bố hẹp, gián đoạn tạo thành những quần thể gần như thuần loài, xuất hiện ở độ cao
từ 900 – 1500m, mật độ 25-30 cây/ha. Sống cùng với Sa mộc dầu còn có các loài:
Săng mây, Trâm, Trâm lá nhỏ, Cà phê rừng, Vải rừng, Sến mật, đây đều là những
loài có mặt trong công thức tổ thành rừng. Mật độ cây tái sinh của rừng có Sa mộc
dầu phân bố khá cao, tuy nhiên, số lượng cây Sa mộc dầu tái sinh lại rất hạn chế,
dao động từ 4 - 125 cây/ha.
2.3. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh
2.3.1. Trên thế giới
Nhân tố sinh thái được nhiều tác giả quan tâm và tìm hiểu là sự thiếu hụt ánh
sáng của cây con dưới tán rừng. Nếu ở trong rừng, cây con chết vì thiếu nước thì
cũng không nên loại trừ do thiếu ánh sáng. Trong rừng mưa nhiệt đới, sự thiếu hụt
ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển cây con, còn đối với sự nảy mầm và
phát triển mầm non thường không rõ (Baur G, N 1962) [23].
Ngoài ra Ghent, A.W (1969) còn nhận xét: Thảm mục, chế độ thủy nhiệt,

dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây tái sinh của
các loài cây gỗ. Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng
khoáng, thảm cỏ phát triển kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ non
không đáng kể. Ngược lại những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì
thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ, trong điều kiện này chúng là nhân tố
9
gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng Bannikov, 1967; Vipper 1973 (Dẫn theo
Đặng Kim Vui, 2002) [20].
Theo Aubréville (1949), trong các nhóm yếu tố sinh thái phát sinh quần thể
thực vật, nhóm yếu tố khí hậu - thủy văn là nhóm yếu tố chủ đạo, quyết định hình
thái và cấu trúc của các kiểu thảm thực vật. Nhóm khí hậu - thủy văn gồm các yếu
tố quan trọng nhất là nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, chế độ gió,…
Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống
của cây con. Andel.S (1981) chứng minh độ đầy tối ưu cho sự phát triển bình
thường của cây gỗ là 0,6 - 0,7. V.G.Karpov (1969) còn khẳng định “ độ khép
tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con”.
Ngoài những nhân tố sinh thái, thì trong tái sinh rừng, các nhân tố như : Thảm
tươi, cây bụi, động vật ăn hạt cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tái sinh tự nhiên
(Xannikov (1976), Vipper (1973), Mishra và Sharma (1994).
Khi nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái
sinh tự nhiên. Trong đó nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ
ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên.
Baur G.N. (1962) [23] cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng
ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm, ảnh hưởng này
thường không rõ ràng.
Catinot (1974) một chuyên gia hàng đầu về lâm sinh nhiệt đới với
nhiều thập kỷ kinh nghiệm ở rừng nhiệt đới Châu Phi, khi áp dụng các biện
pháp lâm sinh cho rừng tự nhiên, ông rất quan tâm đến lớp cây tái sinh phía
dưới tán rừng. Ông cho rằng các nhà lâm sinh nhiệt đới sẽ không hoàn thành
trách nhiệm của mình nếu họ chỉ thay thế rừng tự nhiên bằng các khu rừng

khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật: Ngô Quang Đê, Lê Văn Toán, Phạm
Xuân Hoàn (1994) nghiên cứu mật độ cá thể và số lượng loài cây phục hồi
sau nương rẫy bỏ hóa tại Con Cuông - Nghệ An; Lâm Phúc Cố (1996) nghiên
cứu ở Púng Luông - Yên Bái; Phùng Tửu Bôi - Trần Xuân Thiệp (1997)
nghiên cứu ở vùng Bắc Trung Bộ.
Mặt khác, theo Thái Văn Trừng, một kiểu thảm thực vật có xuất hiện hay
không trước hết phụ thuộc vào khu hệ thực vật ở đó và điều kiện khí hậu thổ
nhưỡng thích hợp. Việc tái sinh phục hồi lại rừng trên đất chưa có rừng ngoài
việc bị chi phối bởi khu hệ thực vật thì nó còn chịu ảnh hưởng bởi khoảng
cách từ nơi đó đến các khu rừng lân cận. Thực vật có khả năng tự phát tán để
gieo giống hoặc gieo giống nhờ gió, nhờ nước, nhờ động vật. Tuy vậy, phạm
11
vi phát tán để gieo giống của bất kỳ cách thức nào cũng không phải là vô hạn,
nên khoảng cách càng xa thì khả năng tái sinh của thực vật càng kém vì càng
xa thì mật độ hạt giống đưa đến càng thấp. Phạm Ngọc Thường (2002) đã
nghiên cứu mối liên quan giữa khoảng cách từ nguồn giống tự nhiên đến khu
vực tái sinh trên đất sau canh tác nương rẫy và kết luận: “khoảng cách từ nơi
tái sinh đến nguồn cung cấp giống càng xa thì mật độ và số loài cây tái sinh
càng thấp” [11].
2.4. Những nghiên cứu về Thiết sam giả lá ngắn
2.4.1. Trên thế giới
Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)
Chi Pseudotsuga - hoàng sam, Họ Thông Pinaceae, bộ Thông Pinales.
Tên khác: Pseudotsuga sinensis Dode var. brevifloia (W.C. Cheng et
L.K. Fu) Farjonet Silba.
Thiết sam giả lá ngắn (danh pháp khoa học là Pseudotsuga brevifolia
W.C Cheng & L.K.Fu,1975), là một loài thực vật Hạt trần, thuộc chi
Pseudotsuga, họ Thông.
Chi Pseudotsuga là các loài có các nón (quả) một năm, không có các u
bướu rõ rệt. Gốc vảy bắc rộng bản, che phủ hoàn toàn các hạt khi nhìn xa

Pseudotsuga rehderi, Pseudotsuga guinieri và Pseudotsuga flahaultii
(Martínez 1963).
Mối quan hệ giữa các loài này được chấp nhận rộng rãi sau nghiên cứu
của Strauss et al.1990, sử dụng các mảnh vỡ hạn chế DNA và Gernandt và
Liston (1999) sử dụng DNA ribosome hạt nhân.
Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C. Cheng et L.K. Fu,
1975) được IUCN(2007) xếp vào tình trạng sắp nguy cấp (VU), Nghiêm cấm
khai thác và sử dụng với mục đích thương mại.
2.4.2. Ở Việt Nam
Về phân loại: Theo Nguyễn Tiến Hiệp và cs (2004), họ Thông ở Việt
Nam có 3 loài thiết sam: Thiết sam giả (Pseudotsugga sinensis Dode), Thiết
sam núi đá (Tsuga chinensis (Franch.) Pritz. Ex Diels), Thiết sam núi đất
(Tsuga dumosa (D. Don) Eichler).
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) [13] mô tả về loài Thiết sam giả lá ngắn có
tên khoa học là (Pseudotsuga brevifolia W.C.Cheng & L.K.Fu) hoặc
13
(Pseudotsuga sinensis Dode var. Brevifolia (Cheng & Fu), Pseudotsuga sinensis
Dode. Loài này thường mọc trên đỉnh và đường đỉnh núi đá vôi ở một số tỉnh
miền núi phía Bắc như: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, trên độ cao từ
500-1500m so với mực nước biển.
Thiết sam giả lá ngắn được phân bố trên núi đá vôi của các tỉnh Hà
Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Đây là vùng phân bố cực nam của chi
Thiết sam giả ở châu Á.
Việt Nam được xếp vào một trong 10 điểm nóng nhất thế giới về bảo tồn
Thông, theo như kế hoạch bảo tồn Thông của IUCN. Dự án “Bảo tồn và phát
triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tủng,
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang” do Quỹ Môi trường toàn cầu, Chương trình
tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam (UNDP- GEF/SGP) thực hiện mới chỉ bảo
tồn được 4 loài thuộc nhóm Thông (Thông tre lá ngắn, Hoàng đàn rủ, Thông
đỏ và Dẻ tùng sọc nâu). Việc mới phát hiện thêm 2 loài thuộc họ Thông

2.5.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Văn
2.5.1.1.Vị trí địa lý
Ngày 15 tháng 12 năm 1962, Hội đồng chính phủ đã ban hành quyết
định số 211-QĐCP tách huyện Đồng Văn thành 3 huyện: Yên Minh, Mèo
Vạc và Đồng Văn.
Đồng Văn là một huyện vùng cao biên giới của tỉnh Hà Giang, đồng
thời cũng là huyện cực Bắc của Việt Nam, huyện Đồng Văn cách thành phố
Hà Giang 146km có tọa độ địa lý từ 23
o
06’06’’ đến 23
o
21’17’’ vĩ độ Bắc,
105
o
07’35’’ đến 105
o
24’40’’ kinh độ Đông.
Có ranh giới giáp với:
- Phía Bắc và Tây giáp Trung Quốc
- Phía Nam giáp huyện Yên Minh
- Phía Đông giáp huyện Mèo Vạc.
Huyện Đồng Văn có 17 xã thì 9 xã có đường biên giới với Trung Quốc
với tổng chiều dài là 52,5km. Trên địa bàn huyện có quốc lộ 4C chạy qua là
tuyến giao thông quan trọng của tỉnh Hà Giang, trung tâm huyện cách thành
phố Hà Giang 100km về phía Bắc. Yên Minh vừa là cửa ngõ phía Bắc của
tỉnh Hà Giang, vừa là một điểm trên trục trung chuyển giữa vùng cao Đồng
Văn - Quản Bạ với Trung Quốc và thành phố Hà Giang. Vị trí đó vừa là lợi
thế, vừa là thách thức đối với huyện Yên Minh trong xu thế hội nhập nền kinh
15
tế của cả huyện nói riêng và cả tỉnh Hà Giang nói chung với nền kinh tế của

2.5.1.5. Thảm thực vật
Những đặc điểm về địa hình và khí hậu khiến cho Hà Giang có các loại
rừng nhiệt đới. Sử sách ghi chép rằng, cho đến cuối thế kỷ XIX, trên đất Hà
16
Giang rừng rậm phủ kín mọi khu vực từ vùng thấp đến vùng cao. Rừng có
nhiều loại cây cho gỗ quý như Đinh, Lim, Sến, Táu, dược liệu quý như
Tam thất, Đỗ trọng, Xuyên khung, . nhiều loại cây cho củ, cho quả, có thể
nuôi sống con người, có loại cây cho nhựa làm chất gắn, chất thắp sáng, làm
chất nhuộm cùng với các loại tre, trúc, mây. Các động vật quý hiếm như Hổ,
Báo, Sơn dương cùng nhiều loại chim quý.
Như vậy, rừng Hà Giang là cả một quần thể thực vật, động vật phong
phú. Song các loại rừng kể trên đến nay chỉ còn lại rất ít, được phân bố không
đều ở vùng cao, vùng xa dân cư, ở những nơi núi thấp chỉ còn lại các vạt rừng
tre, nứa, hoặc được bao phủ bởi lau, sậy, cỏ tranh.
2.5.1.6. Tình hình dân sinh kinh tế xã hội
Theo niên giám thống kê năm 2010. Dân số toàn huyện là 65.421 người,
mật độ dân số 147 người/km
2
, Đồng Văn là địa bàn sinh sống của 16 dân tộc
như: Lô Lô, Pu Péo, Cờ Lao, Dao, Giáy, Tày, Kinh, Hoa…. trong đó dân tộc
Mông chiếm tới 88%.
Nhân dân các dân tộc huyện Đồng Văn có đời sống văn hóa, tinh thần
khá phong phú, đa dạng. Bên cạnh những nét riêng biệt mang tính bản địa,
trong quá trình giao tiếp văn hóa các dân tộc có sự đan xen, cộng sinh càng
tăng thêm vẻ đẹp phong phú, đa dạng của văn hóa các dân tộc.
* Thuận lợi:
- Đồng Văn là một huyện miền núi có nguồn đất đai rộng lớn và phong
phú tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật rừng,khí
hậu chia làm 2 mùa rõ rệt nên sự phân bố thực vật hết sức phong phú và đa
dạng. Ngoài ra còn có hệ thống mạng lưới sông ngòi dày đặc.

du canh, du cư đốt rừng làm nương rẫy còn rất ít, đó là nhờ vào chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà Nước.
2.5.2. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Thài Phìn Tủng
2.5.2.1. Vị trí địa lý, địa hình
* Vị trí địa lý: Xã Thài Phìn Tủng nằm ở sườn và thung lũng cao nguyên
đá vôi thuộc huyện Đồng Văn, một huyện biên giới vùng cao cực Bắc của
tỉnh Hà Giang và của Việt Nam. Thài Phìn Tủng Nằm trên trục đường Quốc
lộ 4C đi từ thị xã Hà Giang lên Đồng Văn. Cách thị xã Hà Giang 140km và
cách thị trấn Đồng Văn 11km.
Thài Phìn Tủng có tọa độ địa lý: từ 23
o
15’ đến 23
o
17’ độ vĩ Bắc và từ
105
o
16’ đến 105
o
18’ độ kinh Đông.
18
Ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp xã Ma Lé
- Phía nam giáp xã Sính Lủng và xã Sà Phìn
- Phía Đông giáp xã Tà phìn và một phần xã Đồng Văn
- Phía Tây giáp xã Lũng Táo.
* Địa hình: Thài Phìn Tủng có địa hình núi đá vôi cao trung bình 1000 -
1200m so với mực nước biển, có đỉnh cao nhất 1.614m là đỉnh Tà Tủng Chứ.
Một số đỉnh cao trên 1500m như Thài Phìn Tủng (1545m), Hapuda B
(1535m), Phín Tủng B (1569m)….
2.5.2.2. Khí hậu

19
có diện tích đất canh tác nhỏ hơn 500m
2
. Phần lớn đất nương rẫy được trồng
ngô địa phương, trồng xen canh hoặc luân canh rau cải, đậu co ve, đậu hà lan
hoặc đậu răng ngựa.
Về chăn nuôi: Tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có: 11485 con, trong đó:
1129 con bò, 38 con trâu, 1337 con lợn, 797 con dê, 12 con ngựa, 8172 con
gia cầm các loại. Tính ra có 85% số hộ chăn nuôi bò, 93% số hộ chăn nuôi
lợn hoặc dê ( trung bình 2-5 con/hộ) 95% số hộ chăn nuôi gia cầm, trung bình
10-20 con gia cầm/hộ.
Về giáo dục và y tế: Có 1 trường tiểu học, trung học cơ sở và mấu giáo
với hơn 50 giáo viên. Xã có 1 trạm y tế 2 tầng khang trang, làm công tác chăn
sóc sức khỏe cộng đồng, khám chữa bệnh thông thường và thường xuyên
tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình cho cộng đồng dân cư địa phương.

Trích đoạn Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp Ảnh hưởng của địa hình xuất một số giải pháp bảo tồn loài Thiết sam giả lá ngắn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status