PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Rừng là một trong những tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất và vô cùng
quý giá của Việt Nam. Rừng cung các vật liệu cần thiết cho cuộc sống hằng ngày
cho cuộc sống con người như gỗ, củi, thức ăn, thuốc chữa bệnh, giúp điều hòa nhiệt
độ, nước ở các con sông và ngăn chặn xói mòn đất. Rừng Việt Nam còn có tầm
quan trọng đối với thế giới do đây là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật, và
côn trùng rất phong phú và độc đáo của riêng Việt Nam. Tuy nhiên, trong vòng 50
năm gần đây rừng đã bị tàn phá rất nặng nề, phần lớn những khu rừng còn lại nằm
tập trung ở các vùng núi cao.
Trong các khu rừng như vậy cây lá kim đóng một vai trò rất quan trọng
về sinh thái cũng như về khả năng cung cấp gỗ và các lâm sản khác. Cây lá
kim là một phần của một trong hai nhóm thực vật bậc cao, nhóm cây hạt trần
(Gymnospermae). Cây hạt trần có nguồn gốc từ trên 300 triệu năm trước và
trong thời gian dài đã từng tạo thành thảm thực vật chính trên trái đất. Hiện
nay chỉ có khoảng 900 loài cây hạt trần, bao gồm cả các loài Tuế, Gắm
(Gnetum) và những nhóm nhỏ khác. Cây lá kim là nhóm cây có nhiều nhất
trong cây hạt trần. Tất cả các loài cây lá kim đều thụ phấn nhờ gió với các nón
đực và nón cái (hoa) riêng biệt hoặc trên các cây khác nhau (phân tính khác
gốc như ở phần lớn họ Kim Giao – Podocarpaceae) hoặc trên các phần khác
nhau của cùng một cây (phân tích cùng gốc như ở các loài thông – Pinus).
Theo sách “Thông Việt Nam: Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn năm
2004” [2] thì Thiết sam giả lá ngắn là 1 trong số 33 loài Thông của Việt Nam
được xếp vào danh sách các loài bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ quốc gia và
quốc tế .
Trên thế giới, Thiết sam giả lá ngắn gặp ở các vùng núi đá vôi của hai
tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Trung Quốc
Ở Việt Nam, kết quả điều tra nhiều năm cho thấy, Thiết sam giả lá
ngắn được phân bố trên núi đá vôi của các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc
Kạn, Lạng Sơn ở độ cao từ 500-1500 m so với mực nước biển. Loài này mang
1.4. Ý nghĩa đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học và vận
dụng vào thực tế sản xuất.
- Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề
tài cụ thể.
- Học tập, hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật được áp dụng trong
thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn, các hoạt động của công
tác bảo tồn.
Biết được đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc,
tình trạng và vai trò của loài Thiết sam giả lá ngắn.
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Cấu trúc rừng: là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh
vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác
nhau có thể cùng sinh sống hòa thuận trong một khoảng không gian nhất định
trong một giai đoạn phát triển của rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là
sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các
thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường sinh thái. Cấu trúc
rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
- Cấu trúc rừng phản ánh điều kiện sinh thái. Cụ thể: Những nơi có
điều kiện môi trường khắc nghiệt, cấu trúc rừng đơn giản chỉ gồm những loài
cây chống chịu được môi trường đó. Nơi có môi trường thuận lợi, cấu trúc
rừng phức tạp và gồm nhiều loài cạnh tranh, có phần cộng sinh, ký sinh
(các loại rêu, địa y…). Vùng ôn đới, cấu trúc rừng thường là thuần loài, đều
tuổi, một tầng, rụng lá. Vùng nhiệt đới như Việt Nam, cấu trúc rừng tự nhiên
(1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố
cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: Trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1x
1,5m) cây tái sinh có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poison.
Baur G.N (1962) cho rằng sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự
phát triển của cây con còn đối với sự nảy mần và phát triển của cây mần ảnh
hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ cây bụi có ảnh hưởng đến sự
phát triển của cây tái sinh.
2.1.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.1.3. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Trong những năm gần đây nghiên cứu về cấu trúc rừng đã được nhiều
tác giả quan tâm vì cấu trúc rừng là cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp tác
động vào rừng hợp lý.
Đào Công Khanh (1996)[5], Bảo Huy (1993)[1] đã căn cứ vào tổ thành
loài cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp
lâm sinh.
Mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với lớp cây tái sinh trong rừng hỗn loài
cũng được đề cập trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Trương
(1983) [10]. Theo tác giả, cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý
vừa cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng. Muốn đảm bảo
cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt
động thì rõ ràng là lớp cây dưới phải nhiêu hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên.
Điều kiện này không thực hiện được trong rừng tự nhiên ổn định mà chỉ có
trong rừng chuẩn có hiện tượng tái sinh liên tục đã được điều tiết khéo léo của
con người.
Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978)[9] khi nghiên cứu về thảm thực vật
rừng Việt Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điểu
khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng. Nếu các điều kiện
khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay
đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng
không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà
Huyện Nguyên Bình có địa hình núi đồi phức tạp, chủ yếu là núi đá
vôi, độ dốc lớn, chia cắt mạnh và cao từ 700m - 1.300m. Điểm cao nhất là
1.931m (Phía Oắc), điểm thấp nhất 100m. Độ cao trung bình của huyện là
1.100 m. Nhìn chung, địa hình của các xã trên địa bàn huyện Nguyên Bình
nằm trên vùng núi cao có cao độ từ 500m (Thái Học, Tam Kim, Hưng Đạo,
Mai Long) đến 1.400m (Quang Thành, Thành Công, Triệu Nguyên, Yên
Lạc).
- Theo kiến tạo địa hình, huyện Nguyên Bình chia thành 2 vùng rõ rệt:
+ Vùng núi đất gồm các xã: Lang Môn, Bắc Hợp, Minh Tâm, Minh
Thanh, Tam Kim, Quang Thành, Thịnh Vượng, Thành Công, Hoa Thám, Thể
Dục, Hưng Đạo và thị trấn Nguyên Bình.
+ Vùng núi đá gồm các xã: Thái Học, Vũ Nông, Yên Lạc, Triệu
Nguyên, Mai Long, Phan Thanh, Ca Thành và thị trấn Tĩnh Túc.
c. Điều kiện địa chất – thổ nhưỡng
* Tài nguyên đất
Nhìn chung tài nguyên đất của huyện Nguyên Bình khá phong phú.
Theo kết quả tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng 1/25.000 thì trên địa bàn
huyện có 18 loại đất chính trong bảng sau đây:
Bảng 2.1: Thổ nhưỡng huyện Nguyên Bình
Hạng mục Ký hiệu
Diện tích
(ha)
1. Đất phù sa sông suối Py 297,24
2. Đất sám bạc màu trên là sa cổ B 30
3. Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ D 704
4. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa Fl 1.242
5. Đất nâu đỏ trên đá mắc Bazơ và trung tính Fk 1.630
6. Đất đỏ nâu trên đá vôi Fv 240
7. Đất nâu vàng trên đá vôi Fn 360
8. Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất Fs 39.950
địa phương quan tâm phát triển. Trên rừng còn có nhiều động vật hoang dã,
các loại lâm sản có khả năng khai thác như: Măng, Mấm hương, Mộc nhĩ, Sa
nhân, Thảo quả đang bị khai thác vô tổ chức, không có kế hoạch bảo vệ
nguồn gen lâu dài.
d. Điều kiện khí hậu – thủy văn
• Điều kiện khí hậu
Huyện Nguyên Bình thuộc vùng khí hậu á nhiệt đới với 2 mùa rõ rệt:
- Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởng
của gió mùa Đông Bắc khô hanh, thường xảy ra những đợt rét đậm kéo dài
kèm theo sương muối (tháng 12 và tháng 1, tháng 2). Độ ẩm không khí trung
bình 82%/năm. Lượng bốc hơi bình quân trong năm 831,6mm, lượng bốc hơi
lớn tập trung từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, do đó trong các tháng này
thường xuyên xảy ra khô hạn;
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, lượng
mưa trung bình 1200mm. Trong đó mưa lớn nhất trung bình 2.043,7mm.
Lượng mưa trong năm phân bố không đều thường tập trung vào các tháng 6,
tháng 7 và tháng 8. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20
0
C, cao nhất khoảng
35 - 36
0
C, thấp nhất từ 0
0
C đến 6
0
C.
+ Gió bão: Gió Đông Nam và Đông Bắc là 2 hướng gió chủ đạo của
huyện, tốc độ trung bình 1,4 m/giây, mạnh nhất lên đến 20 m/giây, bị ảnh
hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới. Sương muối năm nào cũng tập trung vào
tháng giêng, tháng 2 ít nhất 2 - 3 ngày, có nơi có năm kéo dài 5 - 7 ngày,
2
và Thị trấn Tĩnh Túc 165 người/km
2
. Nơi có mật độ thấp nhất là xã
Thịnh Vượng 16 người/km
2
.
* Lao động, việc làm và đời sống dân cư
Lao động trên địa bàn huyện chủ yếu là theo mùa vụ, do vậy hướng giải
quyết việc làm là khắc phục tình trạng bán thất nghiệp bằng các hình thức đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi. Đầu tư thâm canh tăng vụ,
nâng cao giá trị sản xuất của ruộng đất, phát triển tiểu thủ công nghiệp và
ngành nghề, phát triển kinh tế dịch vụ. Tạo điều kiện cho nhân dân được vay
vốn lãi suất ưu đãi, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm nhằm trang
bị cho nông dân kiến thức thâm canh, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất.
2.2.2.2. Các hoạt động kinh tế trong khu vực
* Sản xuất nông nghiệp
- Ngành trồng trọt
Cây trồng nông nghiệp huyện Nguyên Bình chủ yếu là cây lúa, cây ngô
và các loại cây khác như: khoai, sắn, rau đậu các loại. Ngoài ra, một số dược
liệu có giá trị cũng từng bước được đầu tư trồng và chăm sóc như sa nhân,
sâm đất, …
Diện tích trồng một số cây trồng chủ yếu năm 2010:
+ Diện tích Trúc sào là: 1435 ha
+ Diện tích Dong riềng: 100 ha
+ Diện tích Đỗ tương: 309 ha
+ Diện tích cây Lạc: 152 ha
+ Diện tích Chè chất lượng cao khoảng 7 ha.
+ Diện tích cây Dược liệu: 3,4 ha.
khác nhau nhưng tỷ lệ các nhóm gỗ quý như lát, nghiến còn rất ít do bị khai
thác tràn lan không kiểm soát được.
Thực hiện mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc và phát triển kinh tế
rừng, huyện đã tiếp tục triển khai giao đất, giao rừng, trồng rừng, chăm sóc
khoanh nuôi bảo vệ rừng. Đến nay công tác giao đất lâm nghiệp cơ bản hoàn
thành. Và đã thu hút các nhà đầu tư tham gia khai thác và trồng rừng kinh tế,
nâng tỷ lệ che phủ rừng của huyện từ 45% năm 2005 lên 50,8% năm 2010.
Hiện nay, trên địa bàn huyện có 3 doanh nghiệp đang đầu tư trồng rừng sản
xuất gắn với chế biến. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng phá rừng làm nương
rẫy, khai thác vận chuyển tài nguyên rừng trái phép. Đầu năm 2010, do khô
hạn kéo dài và ý thức kém của một số người dân dẫn đến tình trạng cháy rừng
xảy ra ở một số xã.
Nhìn chung, trong những năm qua, đất lâm nghiệp có rừng đã ngày
càng được mở rộng. Đã có sự đầu tư thích đáng cho công tác khoanh nuôi, tái
sinh và trồng rừng mới. Nhiều khu vực gỗ quý như Lát, Nghiến…được chăm
sóc, bảo vệ; nạn phá rừng chuyển mục đích đất lâm nghiệp sang mục đích
khác từng bước được hạn chế.
2.3.2.3. Giáo dục và Đào tạo.
Ngành giáo dục – đào tạo có nhiều chuyển biến tiến bộ, chất lượng giáo
dục ngày càng được nâng cao, cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp giáo dục
được đầu tư ngày càng nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng. Số trẻ trong độ
tuổi đi học được được huy động ra lớp đạt từ 95% trở lên.
Về phổ cập giáo dục THCS đạt 8/20 đơn vị, vượt mục tiêu đề ra, xóa
mù chữ đạt 100% số xã, thị trấn.
Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, bất cập như việc chống mù chữ ở
một số xã chưa được quan tâm thường xuyên, còn khoán cho ngành giáo dục,
xảy ra hiện tượng tái mù chữ trở lại; số trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
chưa đến lớp học chiếm khoảng 4% so với tổng số trẻ trong độ tuổi, chất
lượng dạy và học chưa đồng đều, nhiều phân trường, lớp trẻ cơ sở vật chất
còn thiếu thốn, tạm bợ.
+ Một hệ thống hồ chứa nước chiếm diện tích 3 ha.
+ 182 Khe lạch, guồng cọn chiếm diện tích 4,55 ha.
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có 854 bể nước ăn phục vụ cho 787 hộ.
* Hệ thống điện
Hiện nay, huyện có 13/20 xã, thị trấn có lưới điện quốc gia đến trung
tâm, gần 60% số hộ được sử dụng điện. Do dân cư phân tán, việc đầu tư lưới
điện tốn kém, nên tỷ lệ hộ chưa được sử dụng điện quốc gia còn nhiều, chủ
yếu ở vùng sâu, vùng xa.
* Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt.
Hiện nay, hệ thống cấp nước trên địa bàn toàn huyện chưa có. Thị trấn
Nguyên Bình và Tĩnh Túc đã được nghiên cứu và lập dự án đầu tư nhưng
chưa được xây dựng. Nhân dân trong huyện đang dùng nước tự chảy hoặc tự
đào giếng để lấy nước sinh hoạt, vì vậy chưa được đảm bảo về vệ sinh môi
trường nguồn nước nhất là về mùa mưa lũ.
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Thiết Sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C.Cheng & L.K.Fu
1975) thuộc họ Thông Pinaceae.
- Giới hạn của đề tài tài tập trung nghiên cứu về cấu trúc, phân bố và
tình trạng của quần thể loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố tự nhiên tại hai xã
Ca Thành và xã Triệu Nguyên huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1. Địa diểm tiến hành nghiên cứu
-Đề tài tập trung triển khai tại hai địa điểm là: Xã Triệu Nguyên, Xã Ca
Thành, Huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
3.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu
- Đề tài tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài
liệu hoàn thiện đề tài dự khiến vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật
rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978). Chuyên đề đã sử dụng phương
pháp điều tra ô tiêu chuẩn đại diện ở khu vực nghiên cứu, số liệu đảm bảo
tính đại diện, khách quan và chính xác. Chuyên đề sử dụng các phương pháp
phân tích số liệu truyền thống, phương pháp kế thừa các tư liệu, số liệu có
liên quan
3.4.4. Ngoại nghiệp
3.4.4.1. Phỏng vấn người dân
- Phỏng vấn những người am hiểu về các loài cây Thiết Sam Gỉa lá
ngắn tại khu vực điều tra như các cụ già người dân bản địa sống gần rừng, cán
bộ kiểm lâm trên địa bàn.
3.4.4.2. Phương pháp lập điều tra theo tuyến
- Tuyến điều tra được lấp từ chân lên tới đỉnh, đi qua các trạng thái
rừng, tiến hành lập OTC tạo những nơi có quần thể loài Thiết sam giả lá ngắn
phân bố. Tùy điều kiện thực tế có thể tiến hành lập 4 tuyến điều tra theo 4
hướng khác nhau: Đông, Tây, Nam và Bắc.
3.4.5 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn
Để mô tả một quần xã thực vật, số liệu cần phải được thu thập trên một
số ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích đủ lớn. Việc áp dụng phương pháp điều tra
theo OTC ngẫu nhiên.
Cách lập ô
Cách bố trí các ô đo đếm được thể hiện trong hình 3.1.
- Đối với ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời:
+ Đối với rừng núi đá, diện tích OTC: 500 m2 (25 m x 20 m), hình
dạng OTC phụ thuộc vào địa hình.
+ Đối với đất có rừng tự nhiên trên núi đất, diện tích OTC: 2500 m2
(50 m x 50 m), hình dạng OTC phụ thuộc vào địa hình.
+ Phân bố: OTC đặt ngẫu nhiên, đại diện cho từng nhóm thực vật khác
nhau, đại diện cho địa hình, độ dốc, điều kiện thổ nhưỡng khác nhau.
+ Các OTC được đánh dấu ngoài hiện trường thông qua hệ thống cột
mặt đất về 2 phía của thân cây (mỗi phía 1 vạch sơn).
(2) Xác định tên cây (tên phổ thông/tên địa phương) cho từng cây gỗ đã
đo đường kính. Những cây không biết tên phải lấy mẫu để giám định nhằm
đảm bảo ≥ 90% số cây đo đếm phải được xác định tên cây.
(3) Xác định phẩm chất cây gỗ cho từng cây gỗ đã đo đường kính:
Xác định phẩm chất cây gỗ cho từng cây gỗ đã đo đường kính phân
theo 3 mức phẩm chất A (Tốt), B (Trung bình), C (Xấu). Chỉ xác định phẩm
chất cho những cây còn sống:
+ Cây phẩm chất A: Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, đều, tán cân đối,
không sâu bệnh hoặc rỗng ruột.
+ Cây phẩm chất B: Cây có một số đặc điểm như thân hơi cong, tán
lệch, có thể có u bướu hoặc một số khuyết tật nhỏ nhưng vẫn có khả năng
sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây đã trưởng thành,
có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh
trưởng hoặc lợi dụng gỗ.
+ Cây phẩm chất C: Cây phẩm chất C là những cây đã trưởng thành, bị
khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn ) hầu như không
có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành nhưng có nhiều
khiếm khuyết (cây cong queo, sâu bệnh, rỗng ruột, cụt ngọn hoặc sinh trưởng
không bình thường), khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đạt
đến độ trưởng thành.
(4) Đo chiều cao
Đo chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành tất cả các cây đã đo đường
kính.
Đơn vị đo đếm là mét, đo chính xác đến 0,2m.
(5) Đo đường kính tán
Đo đường kính tán (Tính trung bình cho đường kính theo hai hướng: Đông –
Tây và Nam – Bắc) cho mỗi cây đã đo đường kính
Tất cả các số liệu được ghi vào biểu mẫu 01 (Phụ lục 01).
c. Điều tra nhóm cây bụi, thảm tươi và thảm mục
thu được từ 5 ô dạng bản và lấy mẫu mỗi loại 200 g để xác định % khối lượng
khô. Đối với hạt lấy toàn bộ hạt thu được từ 5 ô dạng bản.
Xác định sinh khối cây bụi, thảm tươi:
Tại ô dạng bản sau khi thu thập thảm mục tiến hành:
Cắt toàn bộ các cây có trong ô dạng bản (Cây gỗ có đường kính <5cm,
cây tái sinh, cây bụi, thảm tươi). Xác định trọng lượng tươi (fresh weight =
FW ) ngay tại thực địa (g/1 m2).
Chặt nhỏ tất cả mẫu và trộn đều trước khi lấy mẫu phân tích.
Lấy mẫu đại diện 200g tươi, cho vào túi giấy. Để xác định % khối
lượng khô.
Hình 3.3. Khung nhựa 1 x 1 m sử dụng để lập ô dạng bản
Ghi tất cả các số liệu vào biểu mẫu 03 (Phụ lục 03)
Lưu ý:
Các ô mẫu cần được ký hiệu rõ ràng chính xác để biết xuất xứ và có thể
tổng hợp dữ liệu tính toán ở bước xử lý nội nghiệp .
Ký hiệu ô mẫu cần bao gồm các thông tin: Xã, Trạng thái và Số hiệu ô.
Ví dụ: NC-IIa-03: Rừng thuộc xã Nam Cường, trạng thái rừng IIa và ô số 03.
Ký hiệu mẫu lấy về phân tích: Bao gồm các thông tin ô mẫu + ký hiệu của
loại mẫu. Ví dụ: NC-IIa-03-TT (Bao gồm: TT hoặc TC hoặc LA hoặc VT
hoặc HA: Thảm tươi, thân cành, lá, mảnh vụn thực vật và hạt).
Toàn bộ bảng dữ liệu ô mẫu có ký hiệu, tọa độ và được sắp xếp theo lô
rừng, trạng thái rừng, xã và huyện. Dữ liệu này được đính kèm tập số liệu
điều tra thực địa.
3.4.6. Phương pháp phân tích và xử lí số liệu
Các chỉ số thông dụng được tính theo các công thức đã được sử dụng
rộng rãi trong thực tiễn thống kê, quy hoạch rừng với việc sử dụng chương
trình Excel.
(1) Đặc điểm cấu trúc rừng
a. Cấu trúc tổ thành sinh thái tầng cây gỗ:
Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỉ lệ mỗi loài hay nhóm loài tham gia tạo
100
1
x
Gi
Gi
s
i
∑
=
(3-3)
Trong đó : Gi là tiết diện thân của loài thứ i ; s là số loài trong quần hợp
Gi (cm
2
) =
2
1
2
∏
∑
=
Di
x
s
i
Công thức xác định mật độ như sau:
000.10
×=Ν
s
n
cây/ha
Trong đó:
- n: Tổng số cá thể của loài trong các OTC,
- S: Tổng diện tích các OTC (ha).
c. Đánh giá phân bố số loài
- Phân bố số loài, số cây theo các cấp đường kính: Số loài và số
cây được tính cho các cấp đường kính: 6 - 10 cm; 11 - 15 cm; 16 - 20
cm, kết quả được thể hiện bằng đồ thị.
- Phân bố số loài, số cây theo các cấp chiều cao: Số loài và số
cây được tính cho các cấp chiều cao: 1 - 5 m; 6 - 10 m; 11 - 15 m, kết
quả được thể hiện bằng đồ thị.
- Phân bố số loài theo các nhóm tần số xuất hiện: Tần số xuất
hiện ở đây là tần số xuất hiện tuyệt đối của loài, là tỷ lệ phần trăm số ô
tiêu chuẩn có đại diện của loài đó trên tổng số ô tiêu chuẩn đã điều tra.
Số loài được tính cho 5 nhóm tần số: 1 - 20%; 21 - 40%; 41 - 60%; 61 -
80%; 81 - 100%.
d. Đánh giá sự biến động thành phần loài giữa các nhóm cây
Đề tài sử dụng công thức Soerensen’s Index - SI (1948) để tính
chỉ số tương đồng về thành phần loài giữa các nhóm cây trong cùng
một trạng thái cũng như giữa các trạng thái thảm thực vật khác nhau để
đánh giá sự biến động thành phần loài cây gỗ của các tầng khác nhau
trong hiện tại và tương lai, tính theo công thức 3.4.
BA