MỤC LỤC
TT Thứ tự 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 2
DANH MỤC CÁC HÌNH 2
1.1. Đặt vấn đề 3
1.2. Mục đích nghiên cứu 5
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 5
1.4. Ý nghĩa của đề tài 6
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu 6
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 6
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 7
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 8
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
2.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam 13
2.3. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 18
2.3.1. Điều kiện tự nhiên 18
2.3.2. Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 21
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
3.3. Nội dung nghiên cứu 27
3.4. Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.2. Ngoại nghiệp 30
3.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
4.1. Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây tầng cao 35
4.1.1. Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả lá ngắn phân bố
tại vị trí > 1000 m 35
Chiều cao vút ngọn
H
dc
Chiều cao dưới cành
IUCN Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên
KBT Khu bảo tồn
ODB Ô dạng bản
OTC Ô tiêu chuẩn
STT Số thứ tự
TB Trung bình
TT Thứ tự
1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thổ nhưỡng huyện Nguyên Bình 19
Bảng 4.1: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả lá
ngắn phân bố ở vị trí > 1000 m 35
Bảng 4.2: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ ở vị trí < 1000 m 37
Bảng 4.3: Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh ở vị trí 38
Bảng 4.4: Phân tích nguồn gốc và chất lượng cây Thiết sam giả lá ngắn tái
sinh theo vị trí 40
Bảng 4.5: Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao của loài Thiết sam giả lá
ngắn và các loài khác trong khu vực nghiên cứu 41
Bảng 4.6: Bảng phân bố cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh theo mặt phẳng
ngang ở các vị trí 43
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của độ tàn che đến loài Thiết sam giả lá ngắn tái sinh
tự nhiên ở vị trí 43
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh tự nhiên ở 44
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của địa hình đến tái sinh tự nhiên ở vị trí khác nhau45
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của địa hình đến chất lượng cây tái sinh (%) 46
Bảng 4.11: Đặc điểm tính chất đất tại khu vực nghiên cứu nơi có loài Thiết
khác, phá rừng làm bãi chăn thả gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống cho con
người cùng với sự gia tăng tần suất của các đám cháy rừng. Đối với những loài
nguy cơ tuyệt trủng tăng lên do các quần thể thường nhỏ và có phân bố hạn chế,
đều vốn là bản chất là những cây tàn tích còn lại trong lịch sử tiến hóa.
Loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng &
L.K.Fu, 1975) là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam, có phân
bố tự nhiên hiện còn sót lại ở vùng núi đá vôi của các tỉnh: Hà Giang, Cao
Bằng, Bắc Kạn, Lặng Sơn (Bắc Sơn). Đây là loại gỗ nhỡ, gỗ đẹp và bền,
thường mọc trên các đỉnh núi đá vôi có độ cao từ 500 – 1500 m so với mặt
nước biển. Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá
trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan. Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu
hẹp nhanh chóng và một số cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm
trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích
4
thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay
đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém. Vì vậy, loài này đang đứng
trước nguy cơ tuyệt chủng. Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và
hướng tới phát triển nhân rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi.
Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị loài bổ xung vào danh lục các loài
quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai thác
và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt Nam
2007 và danh lục đỏ IUCN năm 2007.
Những nghiên cứu về Thiết sam giả lá ngắn trên núi đá vôi ở nước ta còn
nhiều hạn chế, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc
điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên
còn rất ít.
Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về
đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu. Vì vậy việc nghiên cứu sâu về
hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh tự nhiên là điều
cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho bảo tồn một loài
này sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm tái sinh và khả năng phục hồi tự nhiên
thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu.
6
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam tính đa dạng sinh học và số lượng
loài động thực vật đều bị giảm sút. Rất nhiều loài đã được đưa vào danh sách
cần bảo tồn. Trong đó có trên 200 loài cây lá kim được xếp là bị đe dọa tới
mức độ tuyệt chủng trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, phần lớn các loài cây lá
kim đều bị đe dọa ở mức độ nhất định.
Dựa vào các tiêu chuẩn đánh giá tình hình các loài của IUCN, chính phủ
Việt Nam cũng công bố sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thức đẩy công tác
bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học được sử
dụng vào việc soạn thảo các quy định, pháp luật của nhà nước về bảo vệ tài
nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.
Sách đỏ IUCN công bố văn bản năm 2004 (Sách đỏ năm 2004) vào ngày 17
tháng 11 năm 2004. Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với
2.140 phân loài, giống, chi và quần thể. Trong đó, 15.503 nằm trong tình
trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật, và 2
loài nấm [2].
Các loài được xếp vào bậc 9 theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt
chủng như tốc độ suy thái (rate of decline), kích thước quần thể
(populationsize), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức
độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution
fragmentation) [2].
+ Tuyệt chủng (EX): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật được quy
định trong Sách đỏ IUCN. Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng khi
có những bằng chứng chắc chắc rằng cá thể cuối cùng đã chết.
+ Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW): Là một trạng thái bảo tồn của
1,5m) cây tái sinh có dạng phân bố cụm một số ít có phân bố poisson. Ở châu
Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập, Taylor (1954) và Barnard (1955) xác định
số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần thiết phải bổ sung vào
trồng rừng nhân tạo. Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh rừng tự
nhiên nhiệt đới Châu á như: Bava (1954), Budowski (1956), Cantinot (1965)
lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh
8
có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và
phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng [3].
Khi điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô
vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986)
[7], các ô đo đếm điều tra tái sinh có diện tích từ 1 – 4m
2
. Do diện tích điều
tra nhỏ nên việc đo đếm được dễ dàng nhưng yêu cầu ô phải đủ lớn và trải dài
trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng, điều
này cũng được thừa nhận ở các công trình nghiên cứu sau này.
Barnard (1955) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [7], để giảm sai số trong
khi thống kê tái sinh tự nhiên, tác giả đã đưa ra phương pháp “ điều tra chuẩn
đoán”, theo phương pháp này kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo
giai đoạn phát triển của cây tái sinh.
Van Steenis (1956) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [7], cho rằng, hai đặc
điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái
sinh vệt (tái sinh lỗ trống). Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên
sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh, một hiện tượng khá phổ biến ở các nước
nhiệt đới.
Về cấu trúc của quần thể ảnh hưởng tới tái sinh đã được Andel, S (1981)
chứng minh độ đầy tối ưu cho sự phát triển bình thường cây gỗ là 0,6 – 0,7.
Độ khép tán của quần thể có quan hệ với mật độ và sức sống của cây con.
Trong sự cạnh tranh giữa thực vật về dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, ẩm độ tùy
Theo Whitmore và Wong xác định trong ánh sáng tổng số lọt với tầng
thực vật thân cỏ thì 50% là do các vệt nắng đem lại. G.N. Baur cho rằng
gradian về cường độ ánh sáng trong rừng mưa biến đổi từ 2% ở gần mặt đất
đến gần 100% bên trên vòm là đã có bậc chuyển rất lớn [1].
Một số tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài về biến động của các nhân tố
sinh thái dưới tán rừng và ảnh hưởng của nó đến sinh trưởng phát triển ở lớp
cây tái sinh đã được chứng minh rằng:
Các nhân tố sinh thái chủ yếu dưới tán rừng như chế độ chiếu sáng, chế
độ nhiệt ẩm… có sự biến động rất khác nhau theo chiều đứng và theo chiều
ngang và sự biến động này phụ thuộc rất lớn vào cấu trúc rừng, vào thành
phần loài cây, thời gian sinh trưởng và tuổi rừng. Đồng thời đến nay còn
nhiều quy luật biến đổi các nhân tố sinh thái chưa được khám phá, đặc biệt ở
dưới tán rừng nhiệt đới thường xanh (A.A.Aleceev, 1965, 1982; B.C.Belov,
1974, 1980; X.N.Xelnov, 1977, 1980) [5].
10
Sự biến động các nhân tố tiểu khí hậu rừng đề tuân theo những quy luật
nhất định và chính có sự biến đổi đó đôi khi tạo ra điều kiện rất có lợi cho đời
sống của cây tái sinh dưới tán rừng (C.B.Belov, 1982; Alecev, 1965, 1982) [5].
Với nhân tố nước: Rừng có tác động rất lớn trong tiểu tuần hoàn nước, ở
nơi không có rừng, nơi rơi xuống mặt đất được chia thành ba bộ phận: bốc
hơi, chảy trên bề mặt, thấm vào đất. Phần thấm vào đất bị thực vật hút và phát
tán vào khí quyển, nước được chứa trong đất một lượng bổ sung cho nước
ngầm. Nước bốc trên tán rừng có thể ngưng tụ thành mưa nên tán rừng còn có tác
dụng phân phối lại lượng nước mưa rơi [6]. Nước không chỉ là nhân tố sinh thái
mà còn là nhân tố sinh tồn, giữ vai trò quan trọng trong đời sống cây rừng [7].
Hiện nay, trên thế giới chỉ có khoảng 900 loài cây hạt trần, bao gồm cả
các loài Tuế, Gắm (Gnetum) và những nhóm nhỏ khác. Ngược lại, cây hạt kín
được ước tính có khoảng 400.000 loài. Cây lá kim là nhóm cây có nhiều nhất
trong cây hạt trần. Tất cả các cây lá kim đều thụ phấn nhờ gió với các nón đực
và nón cái (hoa) riêng biệt hoặc trên các cây khác nhau (phân tính khác gốc
phía đông của Trung Quốc và Liên Xô cũ. Những vùng mà không có cây lá
kim thì hoặc là những sa mạc (nóng như Xa-ha-ra hoặc lạnh như Tây Tạng)
hoặc là những rừng nhiệt đới vùng thấp.
Trong khi nghiên cứu về Du sam đá vôi (Nguyễn Tiến Hiệp et al, 1998)
[13]. Đã tình cờ thu được rất nhiều mẫu vật kèm theo nón cái già còn đính
trên cành, luôn luôn ở tư thế mọc trúc xuống cho nên đã kết luận loài này
không thuộc về chi Keteleeria Carrière- Du sam. Hơn thế nữa do các vẩy cái
có lá vẩy (trước đây thường dùng từ lá bắc, một thuật ngữ phiên âm chệch từ
tiếng nước ngoài, tiếng latinh là bractea, tiếng Anh là bract hay tiếng pháp là
bractée) quặt ngược ra ngoài và trông thấy rõ trong nón cái cho nên chúng thuộc
về một chi mới đối với hệ thực vật Việt Nam, chi Pseudotsuga Carrière – Thiết
sam giả. Chi này gồm 4-5 loài, 1-2 loài phân bố ở vùng ôn đới tây Bắc Mỹ và
Mêhicô, 3 loài còn lại ở ôn đới và cận nhiệt đới Đông Á: Nhật Bản, Đài Loan và
ở đất liền Trung Quốc (chủ yếu về nam sông Dương Tử, tây và nam Trung
Quốc). Tất cả những mẫu vật thu được đều được định loại là Pseudotsuga
brevifolia W.C. Cheng & L. K. Fu – Thiết sam giả lá ngắn. Nó rất gần
Pseudotsuga sinensis Đoe – Thiết sam giả tầu, và thậm chí có tác giả ( ví dụ
Farjon và Silba cho chỉ là một thứ của loài này) nhưng khác chủ yếu là ở chỗ có
lá ngắn hơn, rất ít khi dài đến 2 cm, trong khi ở loài kia thường dài 2 – 3 cm.
12
Loài này thuộc yếu tố Đông Á, trước đây chỉ gặp ở Tứ Xuyên, Quý
Châu, Triết Giang, Vân Nam và Quảng Tây (điểm thu mẫu gần Việt Nam
nhất đồng thời cũng ở cực nam là Long Châu, ở độ cao 1250 m). Cây mọc ở
chính đường đỉnh thường không cao quá 10 – 12 m và thân có ít nhiều vặn
vẹo, còn khi mọc ở phần sườn gần đỉnh thì có thân thẳng và cao hơn, đến 18-
22 m, cành nằm ngang làm cho tán cây có hình ô, rộng đến 10 – 15 m. Những
cây có nón cái trưởng thành hình trứng hơi dài gặp rất phổ biến trong những
cây có nón cái hình trụ ngắn ít hơn nhiều. Quần xã thuần loài hay ưu thế
Pseudotsuga brevifolia – Thiết sam giả lá ngắn mọc xen rải rác với hai loài
cây cùng họ là Pinus kwangtugensis var. chinensis – Thiết sam đông bắc và
Nguyễn Văn Trương (1983), đã đề cập mối quan hệ giữa cấu trúc Quần
xã thực vật rừng với tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài. Điều này sẽ được
đề tài vận dụng trong nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái
sinh tự nhiên, đặc biệt là độ tàn che của tán rừng [5].
Ảnh hưởng của các biện pháp lâm sinh tới tái sinh tự nhiên của quần
xã thực vật còn được một số tác giả nghiên cứu như Phùng Ngọc Lan
(1984), Hoàng Kim Ngũ (1984), Nguyễn Duy Chuyên (1985), Nguyễn
Ngọc Lung (1985) [8].
Thực tế cho thấy, với điều kiện nước ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn còn
phải trông cậy vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ triển khai
trên quy mô hạn chế. Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên
cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất giải
pháp lâm sinh.
* Nghiên cứu chế độ ánh sáng, nhiệt, ẩm dưới tán rừng
Nguyễn Hữu Thước (1965) đã nghiên cứu hai loại Lim và Xà cừ ở Cầu
Hai ( Phú Thọ) dưới các độ tàn che (ĐTC): 0%, 25%, 50%, 75%, 100% và
thu được kết quả lượng diệp lục trong lá (mg/100mg lá khô) của cây Lim
tương ứng là 4,42; 4,56; 5,60; 6,23; 8,51. Điều đó chứng tỏ cây tái sinh trong
điều kiện ánh sáng yếu thì lượng diệp lục trong lá cao hơn của cây ở chỗ có
ánh sáng mạnh [5].
Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng thứ sinh Hương Sơn – Hà Tĩnh đã
được Phạm Đình Tam (1987) làm sáng tỏ. Theo tác giả, số lượng cây tái sinh
xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau. Lỗ trống càng lớn, cây tái
sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán. Từ đó tác giả đã đề xuất
phương thức thai khác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực
14
này. Đây là một trong những đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới,
nhưng đối với vùng núi đá vôi với nền đất đá xương xẩu, liệu tại những chỗ
trống trong rừng, hiện tượng tái sinh có gì khác biệt.
* Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố sinh thái đến hàm lượng Diệp lục
Cao Bằng, Bắc Kạn và Lạng Sơn. Đây là vùng phân bố cực nam của chi Thiết
sam giả (Pseudotsuga) ở châu Á. Trong khi đó, Thiết sam núi đá chỉ được
phát hiện ở một số địa điểm trên vùng núi đá vôi thuộc hai tỉnh Hà Giang và
Cao Bằng như khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn (Hà Giang) và Nguyên
Bình, Yên Lạc (Cao Bằng). Kết quả khảo sát cho thấy tại xã Thái Phìn Tủng
có 8 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 7 loài thuộc nhóm Thông. Tổ chức
bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) đánh giá Việt
Nam là một trong 10 điểm “nóng“ nhất trên thế giới về bảo tồn các loại thông
này. Dự án “Bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh
học ở xã Thái Phìn Tủng, Đồng Văn, Hà Giang”, do Quỹ Môi Trường toàn
cầu và Chương trình tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam thực hiện, đang tiến
hành bảo tồn 4 loài thuộc nhóm Thông ( Thông đỏ, Thông tre lá ngắn, Hoàng
đàn rủ và Dẻ tùng sọc nâu rộng) [10].
Thiết sam giả lá ngắn là một trong 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt
Nam có phân bố hẹp ngoài tự nhiên còn sót lại ở một số khu vực đá vôi tại
tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn và Cao Bằng. Đây là loài gỗ nhỡ, gỗ đẹp và bền,
thường mọc trên các đỉnh núi đá vôi có độ cao từ 500 – 1500 m so với mặt
nước biển. Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá
trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan. Hiện nay vùng phân bố bị thu hẹp
nhanh chóng và một số cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng
do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương
mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần
thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém. Vì vậy loài này đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng. Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới
phát triển nhân rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi [12].
* Một số đặc điểm của Thiết sam giả lá ngắn
Theo Bùi Xuân Phượng Thiết sam giả lá ngắn tên khoa học
PseudotsugabrevifoliaW.C.Cheng & L.K.Fu,ChiPseudotsuga – hoàng sam,
Họ Thông Pinaceae,bộ Thông Pinales [9].
Cây gỗ, cao 15m, đường kính tới 80 cm. Cây mọc đứng, cây ngắn tán
sang 2 bên, lá phân ở cành tam cấp, lá tập trung ở đầu cành.
- Đặc điểm nón Khô: Cách mở theo từng tầng, vảy ốc, ở giữa có vảy
mỗi vành đính 1 hạt, cuống nón ngắn, nón rộng 2 – 3 cm.
17
- Thân cây: Cây gỗ lớn, thân thường cong queo, phân cành theo từng
đốt, đều sang 2 bên ( đốt dích dắc ), đỉnh sinh trưởng bé, màu nâu đỏ.
- Vỏ cây: Xám đen, đến lớp vỏ nâu đỏ, bên ngoài có vết nứt dọc.
- Rễ cây: Rễ cọc dài, rễ con ít.
* Phân bố:
Ở Việt Nam Thiết sam giả lá ngắn mọc trên đỉnh và đường đỉnh núi đá
vôi ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng
Sơn (Bắc Sơn).
Thế giới: Phân bố ở phía nam Trung Quốc.
* Giá trị kinh tế:
Gỗ có giác lõi phân biệt. Lõi có màu nâu đỏ, giác màu nâu nhạt. Thớ
thẳng, dễ gia công, được dùng trong xây dựng, làm cầu, đồ gia dụng, cột điện.
Thân thẳng, dáng đẹp, có thể trồng làm cảnh. Cây lớn có thể sử dụng để làm
nhà hay làm đồ gỗ.
* Giá trị sinh thái của Thiết sam giả lá ngắn
Góp phần tạo độ đa dạng sinh học và ổn định môi trường sinh thái chung.
2.3. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1. Vị trí địa lý
a. Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
Nguyên Bình là một huyện vùng cao nhưng cũng là một huyện trung tâm
của tỉnh Cao Bằng. Nguyên Bình có địa hình phức tạp, dân cư phân tán, giao
thông khó khăn. Nguyên Bình có 18 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên
là 83.915,71 ha.
Huyện Nguyên Bình nằm ở vị trí toạ độ 105
0
Hạng mục Ký hiệu
Diện tích
(ha)
1. Đất phù sa sông suối Py 297,24
2. Đất sám bạc màu trên là sa cổ B 30
3. Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ D 704
4. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa Fl 1.242
5. Đất nâu đỏ trên đá mắc Bazơ và trung tính Fk 1.630
6. Đất đỏ nâu trên đá vôi Fv 240
7. Đất nâu vàng trên đá vôi Fn 360
8. Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất Fs 39.950
9. Đất đỏ vàng trên mắc ma axít Fa 800
10. Đất vàng nhạt trên bãi cát Fq 1.050
11. Đất mùn nâu đỏ trên đá vôi Hv 1.233,4
12. Đất mùn nâu đỏ trên đá mắc ma Bazơ trung tính Hk 2.410
13. Đất mùn đỏ vàng trên đất sét biến chất Hs 12.470
19
Hạng mục Ký hiệu
Diện tích
(ha)
14. Đất mùn đỏ trên đá mắc ma axít Ha 4.680
15. Đất mùn vàng nhạt trên đá cát Hq 922
16. Đất mùn vàng trên núi cao A 246
17. Đất núi đá 15.200
18. Sông suối 255,36
(Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của huyện Nguyên Bình và thống kê của tỉnh Cao Bằng)
* Tài nguyên nước
Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt và nước ngầm. Nước mặt
phân bố chủ yếu ở hệ thống sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch và nguồn nước
ngầm tập trung ở các thung lũng.
0
C, cao nhất khoảng
35 - 36
0
C, thấp nhất từ 0
0
C đến 6
0
C.
+ Gió bão: Gió Đông Nam và Đông Bắc là 2 hướng gió chủ đạo của
huyện, tốc độ trung bình 1,4 m/giây, mạnh nhất lên đến 20 m/giây, bị ảnh
hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới. Sương muối năm nào cũng tập trung vào
tháng giêng, tháng 2 ít nhất 2 - 3 ngày, có nơi có năm kéo dài 5 - 7 ngày,
sương mù thường xuyên xuất hiện ở những vùng núi khe sâu, kéo dài thời
gian từ 2 - 4 giờ/ngày.
* Điều kiện thủy văn
Chế độ thủy văn các con sông phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và khả
năng điều tiết của lưu vực. Do đó, cùng với diễn biến lượng mưa hàng tháng
trong năm thì chế độ thủy văn trên các con sông cũng thay đổi theo hai mùa
rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn. Đa số các con sông, suối trên địa bàn huyện
Nguyên Bình đều bắt nguồn từ những dãy núi cao trên 1.000 m ở các xã
Thành Công, Hưng Đạo, Quang Thành, Tam Kim, Hoa Thám chảy về Hoà
An. Sông lớn nhất của huyện là sông Hiến. Ngoài ra, huyện còn có 2 con sông
nhỏ chảy qua là sông Năng và sông Nguyên Bình (sông Năng chảy dọc địa
giới giữa Nguyên Bình với Ba Bể rồi chảy về Bắc Kạn; sông Nguyên Bình
bắt nguồn từ những dãy núi cao Tĩnh Túc chảy qua xã Thể Dục, thị trấn
Nguyên Bình, xã Bắc Hợp rồi chảy ra Hoà An).
2.3.2. Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.3.2.1. Dân số, lao động, việc làm và đời sống dân cư
* Dân số
- Ngành trồng trọt
Cây trồng nông nghiệp huyện Nguyên Bình chủ yếu là cây lúa, cây ngô
và các loại cây khác như: khoai, sắn, rau đậu các loại. Ngoài ra, một số dược
liệu có giá trị cũng từng bước được đầu tư trồng và chăm sóc như sa nhân,
sâm đất, …
Diện tích trồng một số cây trồng chủ yếu năm 2010:
+ Diện tích Trúc sào là: 1435 ha.
+ Diện tích Dong riềng: 100 ha.
+ Diện tích Đỗ tương:309 ha.
+ Diện tích cây Lạc: 152 ha.
22
+ Diện tích Chè chất lượng cao khoảng 7 ha.
+ Diện tích cây Dược liệu: 3,4 ha.
+ Trồng cây Thảo quả: 53 ha.
Ngoài ra, các vùng có tiểu khí hậu đặc trưng có thể sản xuất các sản
phẩm hàng hóa khác như trồng thuốc lá nguyên liệu tại các xã Tam Kim,
Minh Tâm, Bắc Hợp, Minh Thanh và trồng rau trái vụ tại các xã như Thái
Học, Thành Công, Yên Lạc.
- Ngành chăn nuôi
Phát triển chăn nuôi theo điều kiện từng vùng, đưa chăn nuôi trở thành
ngành chính và chiếm tỷ trọng lớn trong kinh tế nông nghiệp, chú trọng chăn
nuôi đại gia súc. Theo thống kê, năm 2010 tổng đàn trâu là 10.571 con, bò là
13 176 con, tổng đàn ngựa 263 con.
Chăn nuôi lợn cũng được quan tâm phát triển mạnh, năm 2005 tổng đàn
lợn 25.800 con đến năm 2010 là 29.554 con. Đàn gia cầm năm 108.200 con
và đến năm 2010 là 111.000 con. Các giống vật nuôi chủ yếu là giống cũ địa
phương. Các loại giống này tuy năng suất không cao nhưng lại thích nghi với
khí hậu, cách chăn nuôi của đồng bào. Chăn nuôi ở nhiều vùng vẫn còn duy
trì theo phương thức thả rông, ít được đầu tư, do vậy năng suất còn thấp.
- Thuỷ sản