Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Huyện Đồng Văn - Tỉnh Hà Giang. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG TUẤN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA LOÀI THIẾT SAM GIẢ
LÁ NGẮN (PSEUDOTSUGA BREVIFOLIA W.C CHENG & L.K.FU,
1975) TẠI HUYỆN ĐỒNG VĂN - TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2010 -2014

Gỉảng viên hướng dẫn: 1. TS. Dương Văn Thảo
2. Th.S Lê Văn Phúc
Khoa Lâm nghiệp - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên

LỚI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập
của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý
thuyết vào thực tiễn, qua đó khi sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện về kiến thức
cũng như các phương pháp làm việc để có thê đáp ứng nhu cầu thực tiễn của
công việc sau này.
Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Huyện Đồng Văn
- Tỉnh Hà Giang”.
Trong suốt thời gian thực tập, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô giáo và các cô, các chú nơi tôi thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, Ban chủ nhiêm khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là hai thầy giáo T.S
Dương Văn Thảo và Th.S Lê Văn Phúc cùng toàn thể các thầy, các cô đã
trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập cũng như trong
quá trình báo cáo đề tài tốt nghiệp.
Do thời gian và trình độ có hạn mặc dù đã cố gắng, song khóa luận tốt
nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến chỉ đạo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để
khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh Viên

Hoàng Tuấn Anh
MỤC LỤC

3.4.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 24
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1. Đặc điểm hình thái loài cây Thiết sam giả lá ngắn 28
4.1.1. Đặc điểm hình thái thân, cành 28
4.1.2. Đặc điểm hình thái lá, hoa, quả 29
4.2. Đặc điểm địa hình, đất đai và khí hậu nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn
phân bố 32
4.2.1. Đặc điểm địa hình, đất đai 32
4.2.2, Đặc điểm về khí hậu 32
4.3. Đặc điểm thảm thực vật nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố. 33
4.3.1. Đặc điểm cấu trúc về tổ thành, mật độ tầng cây gỗ nơi loài Thiết sam
giả lá ngắn phân bố 33
4.3.2. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh 35
4.3.3. Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi và độ tàn che, độ che phủ 36
4.4. Đặc điểm cấu trúc tầng thứ nơi loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 36
4.5. Phân bố số cây theo cấp chiều cao 37
4.5.1. Phân bố số cây theo cấp chiều cao nơi loài Thiết sam giả lá ngắn phân
bố 38
4.5.2. Phân bố số cây loài Thiết sam giả lá ngắn trong quần xã theo cấp chiều
cao tại hai vị trí 40
4.6. Phân bố số cây theo cấp đường kính tại hai vị trí 42
4.7. Đề xuất một số giải pháp 44

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1. Kết luận 47
5.2. Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Tdu : Tông dù
N : Nhọc
Td : Thông đỏ
Ttln : Thông tre lá ngắn
Cc : Cẩm chi
Tc : Thôi chanh
K : Kẹn
Lk : Loài khác
D
1.3
: Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m
H
vn
: Chiều cao vút ngọn
N%: Tỷ lệ phần trăm cây
IVIi% : Chỉ số tổ thành sinh thái tầng cây gỗ
Ni : Số lượng cá thể loài thứ i
N/ha : Số cây trên ha
T.S : Tiến sĩ
Th.S : Thạc sĩ

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi loài Thiết sam giả lá ngắn
phân bố tại vị trí đỉnh núi đá.
33
Bảng 4.2. Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi loài Thiết sam giả lá ngắn
phân bố tại vị trí sườn núi đá
34
Bảng 4.3. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh ở hai vị

Hình 4.3. Đồ thị phân bố số cây theo cấp chiều cao tại vị trí sườn núi đá vôi 38
Hình 4.4. Đồ thị phân bố số cây theo cấp chiều cao tại vị trí đỉnh núi đá vôi 39
Hình 4.5. Đồ thị phân bố số cây TSGLN trong quần thể theo cấp chiều cao tại vị
trí sườn núi đá vôi 40
Hình 4.6. Đồ thị phân bố số cây TSGLN trong quần thể theo cấp chiều cao tại vị
trí đỉnh núi đá vôi 41
Hình 4.7. Đồ thị phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí sườn núi đá vôi . 42
Hình 4.8. Đồ thị phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí đỉnh núi đá vôi 44
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo
trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng là hơi thở
của sự sống, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nó giữ một vai trò rất
quan trọng trong quá trình phát triển và sinh tồn của loài người. Rừng điều
hòa khí hậu (tạo ra oxy, điều hòa nước, ngăn chặn gió bão, chống xói mòn
đất,…). Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sống. Rừng còn giữ vai
trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế như: cung cấp nguồn gỗ,
tre, nứa, đặc sản rừng, các loại động, thực vật có giá trị trong nước và xuất
khẩu,… Ngoài ra nó còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên
và an ninh quốc phòng.
Đa dạng sinh học (ĐDSH) của Việt Nam hiện đang trên đà suy giảm và
suy thoái rất nhanh do nạn phá rừng, phát triển thủy điện, ô nhiễm môi
trường, biến đổi khí hậu. Nếu như năm 1996 mới chỉ có 25 loài động vật của
Việt Nam ở mức nguy cấp thì đến nay, con số này đã lên tới 47. Nhiều loài
được đánh giá bị đe dọa không cao trên quy mô toàn cầu nhưng lại bị đe dọa

quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai thác
và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt Nam
2007 và danh lục đỏ IUCN.
Những nghiên cứu về Thiết sam giả lá ngắn trên núi đá vôi ở nước ta
còn nhiều hạn chế, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc
3
điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên
còn rất ít.
Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu
về đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu. Vì vậy việc nghiên cứu sâu về
hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh tự nhiên là điều
cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho bảo tồn một loài
quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang đứng trước nguy cơ bị
xâm hại và tuyệt chủng.
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga
brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà
Giang”.
Nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp phần thiết thực vào việc cung
cấp những thông tin cơ bản về đặc điểm phân bố, sinh thái, sinh học của loài,
từ đó đưa ra các biện pháp gây trồng làm tăng số lượng cá thể loài không
những ở khu vực huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang mà còn áp dụng cho những
nơi có điều kiện tự nhiên tương tự.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ loài Thiết sam giẳ lá ngắn và bảo vệ
nguồn gen các loài thực vật quý hiếm còn tồn tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà
Giang.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
• Xác định được hiện trạng phân bố tự nhiên của loài Thiết sam giả lá

Khu phân bố của một loài cây được hình thành nhờ khả năng sinh
trưởng phát triển và khả năng thích ứng lâu dài của loài với hoàn cảnh sống.
Nhiệt độ, lượng mưa là 2 nhân tố chủ yếu quyết định sự phân bố của chúng.
Lịch sử phát triển tự nhiên được hình thành qua quá trình tiến hóa và
chọn lọc tự nhiên, không có sự tác động của con người.
Khu phân bố đặc hữu là khu phân bố hẹp của một taxon nào đó, chỉ tồn
tại ở một nơi nhất định.
Khu phân bố tàn di là khu phân bố của một taxon thực vật cổ xưa còn
sót lại đã và đang suy giảm không thích ứng kịp với điều kiện sống mới.
+ Các dạng khu phân bố
Trong tự nhiên, dựa vào hình thái và cấu trúc của khu phân bố của
người ta chia ra các dạng khu phân bố sau:
- Khu phân bố liên tục: Các cá thể hay thành viên của taxon phân bố
liền thành một dải.
- Khu phân bố phân tán: Các cá thể hay thành viên của taxon phân bố
thành nhiều khu vực nhỏ và cách xa nhau.
6
- Khu phân bố thẳng đứng: Ở vùng núi cao thực vật phân bố từ thấp lên
một độ cao nhất định so với độ cao mặt biển hình thành khu phân bố thẳng đứng.
- Khu phân bố ngang: Thực vật từ trung tâm phát ra xung quanh hình
thành khu phân bố ngang.
• Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
+ Cấu trúc rừng: Là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh
vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác
nhau có thể cùng sinh sống hoà thuận trong một khoảng không gian nhất định
trong một giai đoạn phát triển của rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là
sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các
thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường sinh thái. Cấu trúc
rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái

làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây
đơn giản. Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3
tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ
lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài
thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây.
Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các
đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng
suất thảm thực vật. Ngay từ đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grinsebach đã sử
dụng dạng sinh trưởng của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của
chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật. Phương pháp của Humboldt và
Grinsebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1094;
Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển. Raunkiaer (1934) đã phân chia các loài
8
cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ
sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong quần xã có các dạng sống khác
nhau). Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho rằng phân loại hình thái, các
phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các dạng sinh trưởng của
Humboldt và Grinsebach. Trong các loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống
của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái bên ngoài của thảm thực
vật được sử dụng nhiều nhất.
Kraft (1884) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân
chia cây rừng thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất
lượng cây rừng. Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây
rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp
với rừng thuần loài đều tuổi. Việc phân cấp cây rừng cho rừng tự nhiên hỗn
loài nhiệt đới là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào
đưa ra phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên được chấp
nhận rộng rãi.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra
những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao

ông xác định đã được kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đó là phân bố
số cây theo đường kính của rừng tự nhiên có một đỉnh lệch trái. Số cây tập
trung nhiều ở cấp đương kính nhỏ do có nhiều loài cây khác nhau và nhiều thế
hệ cùng tồn tại trong kiểu rừng. Nếu xét về một loài cây, do đặc tính sinh thái
nên lớp cây kế cận (cây nhỏ) bao giờ cũng nhiều hơn các lớp cây lớn do quy
luật cạnh tranh không gian dinh dưỡng và đào thải tự nhiên; những nơi thuận
lợi trong rừng cây mới vươn lên để tồn tại và phát triển.
Còn phân bố số cây theo cấp chiều cao, rừng tự nhiên thường có quy
luật nhiều đỉnh do có nhiều thế hệ cùng tồn tại và đặc tính di truyền của một
số loài cây rừng chỉ lớn đến một kích cỡ nhất định nào đó sẽ không lớn nữa.
10
Đồng thời, việc phân bố nhiều đỉnh cũng là kết quả của việc khai thác chọn
không đúng quy tắc để lại.
• Nghiên cứu về khả năng tái sinh
Tái sinh rừng là một quá trính sinh học mang tính đặc thù và diễn ra
liên tục của hệ sinh thái rừng. Sự xuất hiện của cây con của các loài cây đang
phát triển dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng sau khai thác chọn, sau phát
nương làm rẫy. Vai trò quan trọng của lớp tái sinh này là nguồn thay thế lớp
cây đã già cỗi, là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng.
Theo quan điểm của các nhà lâm học thì hiệu quả tái sinh rừng là xác
định được mật độ tái sinh, chất lượng cây tái sinh (cây triển vọng), tổ thành
loài và phân bố của cây tái sinh…Sự tương đồng hay khác biệt trong tổ thành
của loài cây tái sinh với tổ thành loài cây gỗ đã được các nhà khoa học quan
tâm (Richards (1933, 1939). Do tính phức tạp của tổ thành loài cây, nên khi
khảo sát người ta chỉ đo đếm, nghiên cứu các loài có giá trị thực tiễn và có ý
nghĩa nhất định (QPN 6-84). Trong cuốn “rừng mưa nhiệt đới”, P.W.
Richards nêu lên ý kiến của nhiều tác giả cho rằng theo diễn thế tự nhiên thì
sau khi cây tầng trên đỗ diễn thế xấu đi và sau đó có thể diễn thế lại đi lên vì
cây gỗ tốt bao giờ cũng mọc sau cây tiên phong ưa sáng (Nguyễn Văn
Trương, 1983). Điều này chúng ta đã từng thấy khi khai thác tạo ra những lỗ

theo lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát
triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự
nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra
trong quá trình phân chia.
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000)
[33] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc
12
điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật
dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt
Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ
(gọi là 14 quần hệ). Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung
thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ
bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973).
Khi nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo
đường kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn. Đây là quy luật cơ bản
nhất trong các quy luật kết cấu lâm phần. Biết được quy luật phân bố, có thể
xác định được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ
sở xác định trữ lượng lâm phần. Nguyễn Văn Trương (1983) [34] khi nghiên
cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng,
phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới. Từ những kết quả nghiên cứu
của các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương (1987) [19] đã nhận định, việc xác
định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết,
nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng
đã phát triển ổn định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới
hạn của các tầng cây.
Nguyễn Anh Dũng (2000) [8] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm
cấu trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng là IIA và IIIA1 ở lâm trường
Sông Đà - Hoà Bình. Bùi Thế Đồi (2001) [9] đã tiến hành nghiên cứu một số
đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở
miền Bắc Việt Nam.

petelotii), Trọng lâu kim tiền (Paris delavayi)….
Đặng Kim Vui (2002) [36], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục
hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng
ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ
14
1 - 2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ
và họ Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu
dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà phê
(Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài. Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae),
họ Cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa
(Verbenaceae). Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số
cá thể trong ô tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ
che phủ thấp nhất 75 - 80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi.
Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho
rằng việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên
cứu cũng như trong sản xuất. Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các
phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các
đặc điểm của đối tượng cần quan tâm.
2.2. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vục nghiên cứu
2.2.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
- Huyện Đồng Văn: Có vị trí địa lý trong tọa độ từ 23
0
06’06’’ đến
23
0
21’17’’ vĩ độ Bắc, 105
0
07’35’’ đến 105

bình 1000 – 1200 m so với mực nước biển, có đỉnh cao nhất 1.614 m là đỉnh
Tà Tủng Chứ. Một số đỉnh cao trên 1500 m như Thài Phìn Tủng (1545 m),
Hapuda B (1535 m), Phín Tủng B (1569 m)….
c. Điều kiện địa chất – thổ nhưỡng
• Về địa chất:
Cao nguyên đá Đồng Văn (hay sơn nguyên đá Đồng Văn) là một cao nguyên
trải rộng trên bốn huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc của tỉnh
Hà Giang.
• Về thổ nhưỡng:
Xã Thài Phìn Tủng mang đặc trưng của đất trên núi đá vôi. Núi dốc hầu
như dựng đứng nên đất thường chỉ tích tụ trong các hốc đá hoặc do sản phẩm
phong hóa từ trên trôi xuống. Mặt đất lởm chởm, gồ ghề vì các tảng đá vôi
nổi lên. Đất thường nằm xen với đá và chiếm diện tích rất hẹp. Một số thung
lũng nhỏ có đất bậc thang hẹp.
16
d. hậu khác nhau. Một năm chia ra thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa (từ
tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), thường
có sương mù, sương muối, thời tiết khô hanh. Lượng mưa trung bình khá cao,
khoảng 1.600 - 2.000 mm/năm.
- Xã Thài Phìn Tủng: Nhiệt độ trung bình năm 18
0
C, một năm có tới 7
tháng nhiệt độ trung bình dưới 20
0
C. Mùa đông tương đối lạnh và khô, có
ngày nhiệt độ thấp dưới 0
0
C. Mùa hè khí hậu mát mẻ. Lượng mưa trung bình
năm 1000 – 1500 mm, trong đó mùa khô khoảng 150 – 200 mm (có 30 – 50
ngày mưa) và mùa mưa khoảng 1000 – 1300 mm ( tối đa có 100 ngày mưa).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status