LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập
của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý
thuyết vào thực tiễn, qua đó khi sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện về kiến thức
cũng như các phương pháp làm việc để có thê đáp ứng nhu cầu thực tiễn của
công việc sau này.
Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Huyện Đồng Văn
- Tỉnh Hà Giang”.
Trong suốt thời gian thực tập, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô giáo và các cô, các chú nơi tôi thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, Ban chủ nhiêm khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là hai thầy giáo T.S
Dương Văn Thảo và Th.S Lê Văn Phúc cùng toàn thể các thầy, các cô đã
trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập cũng như trong
quá trình báo cáo đề tài tốt nghiệp.
Do thời gian và trình độ có hạn mặc dù đã cố gắng, song khóa luận tốt
nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến chỉ đạo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để
khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh Viên
MỤC LỤC
Trang
Phần 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1. Đặc điểm hình thái loài cây Thiết sam giả lá ngắn 28
4.1.1. Đặc điểm hình thái thân, cành 28
4.1.2. Đặc điểm hình thái lá, hoa, quả 29
4.2. Đặc điểm địa hình, đất đai và khí hậu nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 32
4.2.1. Đặc điểm địa hình, đất đai 32
4.2.2, Đặc điểm về khí hậu 32
4.3. Đặc điểm thảm thực vật nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 33
4.3.1. Đặc điểm cấu trúc về tổ thành, mật độ tầng cây gỗ nơi loài Thiết sam giả lá ngắn
phân bố 33
4.3.2. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh 35
4.3.3. Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi và độ tàn che, độ che phủ 35
4.4. Đặc điểm cấu trúc tầng thứ nơi loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 36
4.5. Phân bố số cây theo cấp chiều cao 37
4.5.1. Phân bố số cây theo cấp chiều cao nơi loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 37
4.5.2. Phân bố số cây loài Thiết sam giả lá ngắn trong quần xã theo cấp chiều cao tại hai vị
trí 40
4.6. Phân bố số cây theo cấp đường kính tại hai vị trí 42
4.7. Đề xuất một số giải pháp 44
Phần 5 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1. Kết luận 47
5.2. Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TSGLN : Thiết sam giả lá ngắn
DDSH : Đa dạng sinh học
NĐ : Nghị định
CP : Chính phủ
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
vôi 35
Bảng 4.4. Tầng cây bụi, thảm tươi và độ tàn che, độ che phủ 35
Bảng 4.5. Phân bố số cây (cá thể) theo cấp chiều cao 37
tại vị trí sườn núi đá vôi 37
Bảng 4.6. Phân bố số cây (cá thể) theo cấp chiều cao 39
tại vị trí đỉnh núi đá vôi 39
Bảng 4.7. Phân bố số cây TSGLN trong quần thể theo cấp chiều cao tại vị trí sườn núi đá
vôi 40
Bảng 4.8. Phân bố số cây TSGLN trong quần thể theo cấp chiều cao tại vị trí đỉnh núi đá
vôi 41
Bảng 4.9. Phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí sườn núi đá vôi 42
Bảng 4.10. Phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí đỉnh núi đá vôi 43
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Hình thái thân cây Thiết sam giả lá ngắn 29
Hình 4.2. Hình thái lá, hoa, quả cây Thiết sam giả lá ngắn 31
Hình 4.3. Đồ thị phân bố số cây theo cấp chiều cao tại vị trí sườn núi đá vôi 38
Hình 4.4. Đồ thị phân bố số cây theo cấp chiều cao 39
tại vị trí đỉnh núi đá vôi 39
40
Hình 4.5. Đồ thị phân bố số cây TSGLN trong quần thể theo cấp 40
chiều cao tại vị trí sườn núi đá vôi 40
Hình 4.6. Đồ thị phân bố số cây TSGLN trong quần thể theo cấp 41
chiều cao tại vị trí đỉnh núi đá vôi 41
Hình 4.7. Đồ thị phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí sườn núi đá vôi 42
43
44
Hình 4.8. Đồ thị phân bố số cây theo cấp đường kính 44
tại vị trí đỉnh núi đá vôi 44
1
chủng của các loài động, thực vật hoang dã.
Nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực tìm kiếm các giải
pháp nhằm kiểm soát tình hình buôn bán, tiêu thụ trái phép động, thực vật
hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Hiện nay, loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C
Cheng & L.K.Fu, 1975) là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt
Nam, có phân bố tự nhiên hiện còn sót lại ở vùng núi đá vôi huyện Đồng Văn,
tỉnh Hà Giang. Đây là loại gỗ nhỡ, gỗ đẹp và bền, thường mọc trên các đỉnh
núi đá vôi có độ cao từ 500 – 1500m so với mặt nước biển. Loài này mang
nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa
cảnh quan. Hiện nay, vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một
số cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên
nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng,
làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt,
khả năng tái sinh kém. Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân
rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi.
Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị loài bổ sung vào danh lục các loài
quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai thác
và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt Nam
2007 và danh lục đỏ IUCN.
Những nghiên cứu về Thiết sam giả lá ngắn trên núi đá vôi ở nước ta
còn nhiều hạn chế, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc
3
điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên
còn rất ít.
Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu
về đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu. Vì vậy việc nghiên cứu sâu về
hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh tự nhiên là điều
cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho bảo tồn một loài
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Trên cơ sở việc nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) sẽ giúp chúng ta hiểu
rõ hơn về đặc điểm cấu trúc, phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái học, đặc
điểm về vật hậu để phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển loài
thực vật nguy cấp, quý hiếm này. Từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát
triển loài Thiết sam giả lá ngắn.
5
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
• Những nghiên cứu về phân bố của cây rừng
+ Khái niệm khu phân bố
Khu phân bố của mỗi taxon thực vật là khu vực sống của taxon đó trên
mặt đất. Phạm vi cư trú của các cá thể trong một loài là khu phân bố của loài
thực vật đó.
Khu phân bố của một loài cây được hình thành nhờ khả năng sinh
trưởng phát triển và khả năng thích ứng lâu dài của loài với hoàn cảnh sống.
Nhiệt độ, lượng mưa là 2 nhân tố chủ yếu quyết định sự phân bố của chúng.
Lịch sử phát triển tự nhiên được hình thành qua quá trình tiến hóa và
chọn lọc tự nhiên, không có sự tác động của con người.
Khu phân bố đặc hữu là khu phân bố hẹp của một taxon nào đó, chỉ tồn
tại ở một nơi nhất định.
Khu phân bố tàn di là khu phân bố của một taxon thực vật cổ xưa còn
sót lại đã và đang suy giảm không thích ứng kịp với điều kiện sống mới.
+ Các dạng khu phân bố
Trong tự nhiên, dựa vào hình thái và cấu trúc của khu phân bố của
người ta chia ra các dạng khu phân bố sau:
- Khu phân bố liên tục: Các cá thể hay thành viên của taxon phân bố
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935). Khái niệm sinh thái
7
được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm
sinh thái học. Công trình nghiên cứu của R. Catinot (1965) [2], J. Plaudy
(1987) [21] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng,
nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái
niệm dạng sống, tầng phiến.
• Mô tả về hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành
phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều thẳng đứng. Phương pháp
vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do P.W. Richards (1952) [39] đề xướng và
sử dụng lần đầu tiên ở Guam đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để
nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của rừng. Tuy nhiên phương pháp này có nhược
điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo chiều thẳng đứng của các loài
cây gỗ trong diện tích có hạn. Cusen (1953) đã khắc phục bằng cách vẽ một
số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều. P. W.
Richards (1959, 1968, 1970) [38] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới
làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây
đơn giản. Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3
tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ
lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài
thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây.
Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các
đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng
suất thảm thực vật. Ngay từ đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grinsebach đã sử
dụng dạng sinh trưởng của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của
chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật. Phương pháp của Humboldt và
Grinsebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1094;
Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển. Raunkiaer (1934) đã phân chia các loài
8
nghiên cứu thân cây theo kích cỡ và đồng hóa với một số dạng phân bố lý
thuyết để sử dụng trong tính toán quy hoạch rừng, Rollet đã dành một chương
quan trọng để xác lập phương trình hồi quy số cây đường kính (Nguyễn Văn
Trương, 1983).
Các tác giả này đã xây dựng được các phương trình hồi quy cho các
kiểu rừng khác nhau (số cây theo đường kính). Từ các nhân tố điều tra có thể
suy ra được các biến khác thông qua tương quan hồi quy. Đây là cơ sở quan
trọng để ứng dụng trong điều chế rừng góp phần tìm ra một số kết luận bổ ích
cho công tác lâm sinh hướng vào mục tiêu xây dựng và nâng cao vốn rừng về
lượng và chất.
Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố rừng, chủ yếu theo
đường kính D
1.3
có liên hệ với giai đoạn phát dục và các biện pháp kinh
doanh. Theo tác giả, sự phân bố số cây theo đường kính có giá trị đặc trưng
nhất cho rừng, đặc biệt là rừng hỗn loại, nó phản ảnh các đặc điểm lâm sinh
của rừng (dẫn theo Trần Mạnh Cường, 2007). Phân bố cây rừng tư nhiên mà
ông xác định đã được kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đó là phân bố
số cây theo đường kính của rừng tự nhiên có một đỉnh lệch trái. Số cây tập
trung nhiều ở cấp đương kính nhỏ do có nhiều loài cây khác nhau và nhiều thế
hệ cùng tồn tại trong kiểu rừng. Nếu xét về một loài cây, do đặc tính sinh thái
nên lớp cây kế cận (cây nhỏ) bao giờ cũng nhiều hơn các lớp cây lớn do quy
luật cạnh tranh không gian dinh dưỡng và đào thải tự nhiên; những nơi thuận
lợi trong rừng cây mới vươn lên để tồn tại và phát triển.
Còn phân bố số cây theo cấp chiều cao, rừng tự nhiên thường có quy
luật nhiều đỉnh do có nhiều thế hệ cùng tồn tại và đặc tính di truyền của một
số loài cây rừng chỉ lớn đến một kích cỡ nhất định nào đó sẽ không lớn nữa.
10
Đồng thời, việc phân bố nhiều đỉnh cũng là kết quả của việc khai thác chọn
không đúng quy tắc để lại.
rừng và đỉnh núi.
Tóm lại, cây rừng thường tái sinh khi gặp điều kiện thuận lợi của các
yếu tố môi trường, hạt có khả năng nảy mần khi đủ điều kiện ánh sáng, hạt
tiếp đất… Nắm bắt, hiểu rõ được những quy luật tái sinh là để xây dựng các
biện pháp lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững.
2.1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
• Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc
điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việc
kinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng các
cấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình.
Trần Ngũ Phương (1970) [18] đã đề cập tới một hệ thống phân loại,
trong đó rất chú ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế rừng. Thái Văn Trừng
(1978) [34] khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước
ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới
tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết. Vũ Đình Phương (1987) [19] đã đưa ra
phương pháp phân chia rừng phục vụ cho công tác điều chế với phân chia
theo lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát
triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự
nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra
trong quá trình phân chia.
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000)
[33] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc
12
điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật
dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt
Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ
(gọi là 14 quần hệ). Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung
thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ
bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973).
nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam. Nguyễn Hải
Tuất (1982, 1986) [26, 27] đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng
cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson vào
nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng. Trần Văn Con (1991) [3] đã áp dụng hàm
Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Đắk Lắk. Lê Sáu
(1995) [36] đã sử dụng hàm Weibull để mô phỏng các quy luật phân bố
đường kính, chiều cao tại khu vực Kon Hà Nừng, Tây Nguyên.
Bùi Văn Chúc (1996) [5] đã nghiên cứu cấu trúc rừng phòng hộ đầu
nguồn Lâm trường sông Đà ở các trạng thái rừng IIA, IIIA1 và rừng trồng
làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [29], thống kê thành phần loài của Vườn
Quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có
ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ của 3 ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần
và ngành Hạt kín. Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau.
Trong các loài trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn
như: Hoàng thảo Tam đảo (Dendrobium daoensis), Trà hoa dài (Camellia
longicaudata), Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii), Hoa tiên (Asarum
petelotii), Trọng lâu kim tiền (Paris delavayi)….
Đặng Kim Vui (2002) [36], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục
hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng
ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ
14
1 - 2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ
và họ Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu
dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà phê
(Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài. Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae),
họ Cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa
(Verbenaceae). Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số
cá thể trong ô tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ
che phủ thấp nhất 75 - 80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi.
Tọa độ địa lý: Từ 23
0
15’ đến 23
0
17’ độ vĩ Bắc và từ 105
0
16’ đến
105
0
18’ độ kinh Đông.
b. Địa hình
- Huyện Đồng Văn: Diện tích tự nhiên là 44,666 ha, trong đó 11.837 ha
là đất sản xuất nông nghiệp. Diện tích núi đá chiếm 73,49%. Địa hình phức
tạp, có nhiều núi cao, vực sâu chia cắt. Nhiều ngọn núi cao như Lũng Táo
1.911 m. Độ cao trung bình 1.200 m so với mực nước biển. Địa hình thấp dần
từ Tây sang Đông.
- Xã Thài Phìn Tủng: Thài Phìn Tủng có địa hình núi đá vôi cao trung
bình 1000 – 1200 m so với mực nước biển, có đỉnh cao nhất 1.614 m là đỉnh
Tà Tủng Chứ. Một số đỉnh cao trên 1500 m như Thài Phìn Tủng (1545 m),
Hapuda B (1535 m), Phín Tủng B (1569 m)….
c. Điều kiện địa chất – thổ nhưỡng
• Về địa chất:
Cao nguyên đá Đồng Văn (hay sơn nguyên đá Đồng Văn) là một cao nguyên
trải rộng trên bốn huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc của tỉnh
Hà Giang.
• Về thổ nhưỡng:
Xã Thài Phìn Tủng mang đặc trưng của đất trên núi đá vôi. Núi dốc hầu
như dựng đứng nên đất thường chỉ tích tụ trong các hốc đá hoặc do sản phẩm
phong hóa từ trên trôi xuống. Mặt đất lởm chởm, gồ ghề vì các tảng đá vôi
nổi lên. Đất thường nằm xen với đá và chiếm diện tích rất hẹp. Một số thung
Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên
Quang nhập vào sông Lô. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho phần đông
của tỉnh. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ
hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối
lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.
17
2.2.2.Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.2.2.1. Dân số, lao động và dân tộc
• Dân số
- Huyện Đồng Văn: Theo niên giám thống kê năm 2010. Dân số toàn
huyện là 65.421 người, mật độ dân số 147 người/km2.
- Xã Thài Phìn Tủng: có 4085 người , chủ yếu là dân tộc mông chiếm
99%, mật độ khoảng 2 người/1ha.
• Lao động huyện Đồng Văn: Tính đến cuối năm 2008, tổng số lao
động toàn huyện là 31.350 người.
• Dân tộc và phong tục tập quán canh tác, sử dụng rừng: Đồng
Văn là địa bàn sinh sống của 16 dân tộc như: Lô Lô, Pu Péo, Cờ Lao, Dao,
Giáy, Tày, Kinh, Hoa…. trong đó dân tộc Mông chiếm tới 88%. Khí hậu
Đồng Văn mang tính ôn đới, thích hợp trồng các loại cây ăn quả như: Lê, đào,
mận, táo…. và các loại cây dược liệu quý như: Đỗ trọng, Huyền xâm, Xuyên
khung, Ý dĩ, Thảo quả…. Đồng Văn có giống chè ngon nổi tiếng phù hợp với
vùng đất Lũng Phìn. Rừng Đồng Văn có thảm thực vật phong phú, thích hợp
cho sự phát triểu nhiều loài như: cây Dẻ, Sồi, Thông đá, Pơ mu….
2.2.2.2. Các hoạt động kinh tế trong khu vực
• Sản xuất nông nghiệp
+ Trồng trọt:
- Huyện Đồng Văn: Cây trồng nông nghiệp chủ yếu là ngô, một số
vùng trồng lúa và các loài cây họ đậu.
- Xã Thài Phìn Tủng: Bình quân diện tích đất trồng trọt là 3,6 người/ha.
55% đất có cây bụi và thảm cỏ, 15% diện tích núi đá lộ và 19% diện tích đất
thôn và các bản trong huyện.
• Điện nước sinh hoạt: Hiện tại điện thì đã hầu khắc các nơi trong
huyện đã có điện, còn riêng nước sinh hoạt của người dân trong các xã, các
thôn, các bản thì còn thiếu rất nhiều, có nơi còn không có.