Nghiên cứu đặc điểm phân bố teo sinh cảnh và mối quan hệ sinh thái của quần thể bò tót ở vườn quốc gia Cát Tiên nhằm phục vụ công tác bảo tồn - Pdf 28



1

Bộ GIáO DụC V ĐO TạO Bộ NÔNG NGHIệP V PTNT
TRƯờNG ĐạI HọC LÂM NGHIệP

PHạM HữU KHáNH
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM PHÂN Bố THEO SINH CảNH V
MốI QUAN Hệ SINH THáI CủA QUầN THể Bò TóT (BOS
GAURUS H. SMITH, 1827) ở VƯờN QUốC GIA
CáT TIÊN PHụC Vụ CHO QUảN Lý V BảO TồN LUậN áN TIếN Sĩ NÔNG NGHIệP

3
Mở ĐầU
1 - Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Việt Nam đợc quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa
dạng sinh học cao nhất trên thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san
hô tạo nên môi trờng sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã
trên thế giới [12]. Các giá trị của ĐDSH là những nhân tố tích cực góp phần vào việc
cải thiện cuộc sống của con ngời ngày càng văn minh, hiện đại, tốt đẹp hơn [44].
Các vùng có tính ĐDSH cao chủ yếu tập trung tại các VQG và các khu BTTN [15].
ở Việt Nam đã xây dựng đợc 30 VQG, 57 Khu bảo tồn thiên nhiên và 37 khu bảo
vệ cảnh quan [12], trong đó có VQG Cát Tiên.
Bên cạnh những hoạt động nỗ lực nhằm bảo vệ tính ĐDSH, con ngời cũng
đang khai thác quá mức hoặc làm biến đổi tài nguyên ĐDSH, làm cho các giá trị
ĐDSH đang dần bị suy thoái, xuống cấp [12]. Hiện nay bảo tồn ĐDSH là một trong
những vấn đề u tiên của Chính Phủ Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) dành u tiên cho giải pháp bảo tồn
in-situ và chú trọng vào các hệ sinh thái nổi bật nhất ở các địa phơng với 3 mục tiêu
lớn đợc đặt ra: i) Bảo vệ các hệ sinh thái tiêu biểu hoặc các hệ sinh thái bị đe doạ
bởi các sức ép của con ngời; ii) Bảo vệ các thành phần ĐDSH đang bị đe doạ; iii)
Xác định và quảng bá các công cụ, phơng pháp sử dụng và phát huy các giá trị
ĐDSH [9],[12].
Mỗi hệ sinh thái đều đợc đặc trng bởi nhiều quần xã sinh vật [12],[23],[39],
[45]. Các quần xã sinh vật đợc đặc trng bởi các quần thể của mỗi loài [12],[23],
[39],[45]. Mỗi loài đều thích ứng với các sinh cảnh đặc trng khác nhau
[23],[39],[45]. Mặt khác, các loài sinh sống trong các sinh cảnh phù hợp thì có khả
năng sinh trởng và phát triển tốt và ngợc lại [23],[39],[40]. Do vậy khi nghiên cứu
bảo tồn của một loài ở bất cứ một địa điểm nào, điều quan trọng và cần thiết là phải
nghiên cứu sinh cảnh của nó [38],[40].

a - Nghiên cứu hiện trạng và phân bố của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên: i)
Ước tính số lợng cá thể, mật độ và kích thớc đàn; ii) Xác định cấu trúc tuổi, giới
tính của quần thể; iii) Đặc điểm phân bố của quần thể bò tót trong các sinh cảnh.
b - Nghiên cứu cấu trúc, đặc điểm các dạng sinh cảnh: i) Xác định các dạng
sinh cảnh chính; ii) Mô tả đặc điểm cấu trúc của sinh cảnh (địa hình, thổ nhỡng,
khí hậu, thuỷ văn, các kiểu rừng, thảm thực vật, thức ăn, nguồn nớc, nguồn muối
khoáng); iii) Xác định các sinh cảnh tối u. 5
c - Nghiên cứu mối quan hệ sinh thái giữa loài bò tót với các loài thú móng
guốc khác.
d - Nghiên cứu một số tập tính hoạt động của loài bò tót trong các sinh cảnh: i)
Sự di chuyển theo ngày, mùa; hoạt động kiếm ăn, trú ẩn, sinh sản; ii) Sự cạnh tranh
không gian sống với các loài thú móng guốc khác.
đ - Dự báo diễn biến kích thớc quần thể loài bò tót trong thời gian tới.
e - Đánh giá các mối đe dọa và thách thức đối với bò tót và sinh cảnh của
chúng: i) Tác động của các chủ trơng, chính sách của Nhà nớc đến sự tồn tại và
phát triển của quần thể bò tót; ii) Các thuận lợi, khó khăn, thách thức đối với công
tác bảo tồn quần thể và sinh cảnh của bò tót ở VQG Cát Tiên.
g - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bảo tồn quần thể bò
tót ở VQG Cát Tiên.
4 - Đối tợng nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu là loài bò tót ở VQG Cát Tiên. đặc điểm phân bố theo
các sinh cảnh của bò tót và các mối quan hệ sinh thái của chúng ở VQG Cát Tiên.
5 - Phạm vi nghiên cứu:
luận án có nội dung nghiên cứu sâu, địa bàn nghiên cứu rộng. Do thời gian có
hạn, tác giả
tập trung nghiên cứu, điều tra và giám sát quần thể bò tót ở một số khu
vực bò tót thờng xuất hiện và nghiên cứu một số sinh cảnh đặc trng của chúng ở

không đợc quản lý đúng mức, loài này sẽ bị tuyệt chủng trong tơng lai gần [84].
ở Việt Nam, họ Trâu bò có 2 họ phụ là Bovinae và Caprinae, trong đó có 6
loài là bò tót (Bos gaurus), bò rừng (Bos javanicus), bò xám (Bos sauveli), trâu rừng
(Bubalus bubalis), sơn dơng (Nemorhaedus sumatraensis) và sao la (Pseudoryx
nghetinhensis) [4]. Các loài thú trong họ Bovidae ở Việt Nam đều nằm trong Sách đỏ
IUCN và Sách đỏ Việt Nam [1],[82].
1.2 Loài bò tót
1.2.1 Vị trí phân loại
- Tên khoa học: Bos gaurus C.H. Smith, 1827 [1],[33],[37],[42],[84].
- Tên đồng nghĩa: Bos frontalis Lambert, 1804 [4],[20],[102].
- Tên Việt Nam: Bò tót, min (Việt), Ngua pá (Thái), Tà sù (Hmông), Zông
(Cà Tu), Lâu Tằm (Ê đê), Sơn ngâu (Vân Kiều), Kờ bay (Xê đăng), Miềm (Chăm)
[1],[4]. 7
- Tên tiếng Anh: Gaur [1],[4],[20],[33],[37],[65],[87],[102].
Phân họ (Subfamilia): Bovinae; Họ (Familia): Bovidae; Bộ (Ordo):
Artiodactyla; Lớp (Class): Mammalia; Ngành (Phylum): Chordata; Giới (Kingdom):
Animalia [84].
Bò tót có 3 phân loài [84]:
- Bos gaurus gaurus (Indian Bison): Phân bố ở ấn Độ, phía Nam Nê-pal.
Chúng là phân loài phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% các quần thể bò tót trên thế
giới.
- Bos gaurus hubbacki (Malayan Gaur hoặc Seladang): Phân bố ở Nam Thái
Lan và bán đảo Ma-lai-xi-a. Chúng là phân loài nhỏ nhất của bò tót.
- Bos gaurus laosiensis (South East Asian Gaur): Phân bố từ Myanmar, Lào,
Việt Nam, Căm-pu-chi-a và phía Nam Trung Quốc. Chúng là phân loài đang bị đe
dọa cao nhất. Phân bố ở khu BTTN Xishuangbanna, phía Nam tỉnh Vân Nam, Trung
Quốc, VQG Cát Tiên (Việt Nam) và VQG Virachey (Căm-pu-chi-a).

=mpmciBảng 1.1 thể hiện các số đo cơ bản của bò tót trởng thành:
Bảng 1.1 - Các số đo cơ bản của bò tót
STT Các chỉ s

Kích c


1. Khối lợn
g
700 - 1000 k
g
2. Chiều cao vai 1700 - 2200 mm
3. Chiều dài thân 4040 - 4270 mm
4. Chiều dài đuôi 990 - 1030 mm
5. Chiều dài tai 318 - 330 mm
6. Chiều dài nhất hộ
p
sọ 520 mm
7. Rộn
g
xơn
g

g
ò má 234 mm
8. Hàn
g

có nhiều công trình nghiên cứu về các loài trâu bò hoang dã nói chung và là loài bò
tót nói riêng với nhiều kết quả phong phú. Các báo cáo nghiên cứu đã công bố, tập
trung nhiều ở các quốc gia có bò tót phân bố nh C
ăm-pu-chia, Lào, Thái Lan, ấn
Độ, Nê-pal, Bu-tan, Băng-la-đét, Miến Điện, Trung Quốc và Ma-lay-xi-a [84]. một
số công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái học bò tót tiêu biểu nh:
Ghi chú: i: Răng cửa
c: Răng nanh
pm: Răng trớc hàm
m: Răng hàm 9
- nghiên cứu của Wharton (1957) về bò xám (Bos sauveli) và các loài bò
hoang dã (Bovinae) ở vùng Đông và Đông Bắc C
ăm-pu-chi-a. Tác giả đã đa ra một
số thông tin về quần thể, sự phân bố và các đặc điểm sinh thái của loài bò xám và
các loài bò hoang dã. Tác giả nhận định bò tót, bò xám và các loài bò hoang dã khác
không có sự xung đột trong cùng khu vực. Sinh cảnh a thích của bò tót là rừng tha
và trảng cỏ. Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu chủ yếu là các thông tin và nhận định
về các đặc điểm sinh thái của bò xám [101].
- nghiên cứu của Conry (1981) ở Lepar Valley, miền trung Pa Hang, bán đảo
Ma-lay-xi-a từ năm 1977 đến 1979. Tác giả sử dụng các thiết bị vô tuyến thu phát
sóng ngắn (FM) và máy bay cánh bằng cơ nhỏ (Cessna) để theo dõi từ xa của 3 cá
thể bò tót. Đây là một trong những nghiên cứu sớm nhất về bò tót trong khu vực, có
phơng pháp nghiên cứu hiện đại. báo cáo cung cấp đợc một số thông tin bớc đầu
về số lợng cá thể có 62 cá thể với 7 đàn. Số lợng cá thể biến động từ 1 - 15, trung
bình là 5. Khoảng cách di chuyển trung bình của 3 cá thể bò tót là 20,8 km. bò tót
đẻ quanh năm. Bò tót sống trong các dạng sinh cảnh rừng thứ sinh, rừng hỗn giao và
trảng cỏ. Thức ăn của bò tót đã thống kê đợc 87 loài. Tuy nhiên nghiên cứu cũng

cài đặt 3 thiết bị vô tuyến theo dõi từ xa cho 3 cá thể (2 con đực, 1 con cái) để theo
dõi về sự di chuyển, kích thớc vùng sống, kích thớc quần thể và cấu trúc đàn quần
thể bò tót ở Pench Tiger Reserve, thuộc miền trung cao nguyên ấn Độ [93].
- nghiên cứu của Men Soriyun (2001) về hiện trạng phân bố và sinh thái quần
thể bò tót, là những nghiên cứu ban đầu ở C
ăm-pu-chia, nơi có quần thể bò tót rất
gần gũi với Việt Nam [89].
- nghiên cứu của Robert Steinmetz (2004) về độ phong phú, sử dụng sinh cảnh
và đánh giá bảo tồn của hai loài bò tót (Bos gaurus) và bò rừng (Bos javanicus) ở
khu bảo vệ Xe Pian (Lào) của các cuộc khảo sát thực hiện từ năm 1996 đến 1998
[95].
- nghiên cứu của Mohan Pai (2008) về phân bố và một số đặc điểm sinh thái,
tập tính và bảo tồn quần thể bò tót ở vùng Western Ghats, cao nguyên miền trung ấn
Độ. Đây là vùng có số lợng cá thể bò tót lớn nhất ở ấn Độ [91]. 11
- nghiên cứu về phân loại học của Lekagul và McNeelley (1977) đã đa ra
nhiều thông tin cơ bản về sinh học, sinh thái học cho nhiều loài thú ở Thái Lan,
trong đó có loài bò tót. Các thông tin về bò tót tuy có đề cập, nhng chủ yếu là mô tả
về các đặc điểm hình thái, trọng lợng, sinh sản, phân bố của bò tót ở Thái Lan [87].
- nghiên cứu điều tra các mức độ buôn bán các sản phẩm của các loài ĐVHD
trái phép ở C
ăm-pu-chia của Martin và Phipps (1996), trong đó có loài bò tót và tác
giả đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài bò tót [88].
Các báo cáo trên mô tả rất phong phú về các kết quả điều tra, nghiên cứu về số
lợng và vùng phân bố, xác định các mối đe dọa, đề xuất việc quản lý và bảo tồn
quần thể bò tót. sinh cảnh của bò tót tuy đã đợc một số tác giả đã đề cập, nhng
cha có đợc những dẫn liệu về các yếu tố tạo nên sinh cảnh, đặc điểm các sinh
cảnh của loài bò tót để làm cơ sở cho công tác bảo tồn.

tỉnh phía Nam. Lực lợng tham gia nghiên cứu cũng đợc phát triển mạnh cả về số
lợng và chất lợng nghiên cứu, đặc biệt với sự giúp đỡ của các nhà khoa học Liên
Xô và từ nhiều nớc khác trên thế giới. Nhiều công trình nghiên cứu cấp Nhà nớc
đợc tổ chức liên ngành, với nhiều cơ quan tham gia và đã đem lại nhiều kết quả
quan trọng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng các khu bảo tồn và vờn quốc gia ở Việt
Nam, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm. Với chính sách đổi mới và mở cửa, sự hợp tác
mở rộng sang các nớc không phải xã hội chủ nghĩa; một số tổ chức khoa học chính
phủ và phi chính phủ đã mở văn phòng đại diện và đã có những đóng góp tích cực
vào công tác điều tra ĐVHD ở nớc ta.
Kết quả nghiên cứu về thú trong giai đoạn này rất to lớn với hàng ngàn công
trình đợc công bố trong nớc và trên thế giới. Các công trình chính trong thời gian
này của Đào Văn Tiến (1985); Đặng Huy Huỳnh và cs (1981) đã đa ra một số
thông tin về phân bố của bò tót ở một số địa phơng miền Bắc nh Lai Châu, Thanh
Hóa và Nghệ An [30],[48]. Sách Sinh học và sinh thái của các loài thú móng guốc ở
Việt Nam của Đặng Huy Huỳnh (1986) đợc xem là tài liệu sớm nhất và t
ơng đối
đầy đủ về sinh học và sinh thái của 19 loài thú móng guốc của Việt Nam thuộc 7 họ,
2 bộ, trong đó có loài bò tót [32].
Một số công trình nghiên cứu đề cập đến thông tin về bò tót ở Tây Nguyên của
Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính, Đặng Ngọc Cần (1981), Trần Hồng Việt (1986); Lê
Xuân Cảnh và nnk (1997) là những t liệu quý góp phần mô tả về các đặc điểm phân 13
bố, sinh học, sinh thái của loài bò tót [3],[31],[51]. Các danh lục thú hoang dã Việt
Nam của các tác giả Đặng Huy Huỳnh và nnk (1994), Lê Vũ Khôi (2000) và gần
đây của tác giả Đặng Ngọc Cần và nnk (2008) cũng góp phần mô tả vùng phân bố và
hiện trạng bảo tồn bò tót trong toàn quốc [4],[33],[37]. Ngoài ra các công trình của
Nguyễn Hải Hà và Jamse Hardcastle (2005), đặc biệt của Nguyễn Mạnh Hà (2008)
là những tài liệu cung cấp nhiều thông tin cập nhật về phân bố, hiện trạng bảo tồn

đới Việt - Nga, IRF, USFWS, MIKE,
Một số ấn phẩm quan trọng đã đợc xuất bản, nh Sổ tay ngoại nghiệp nhận
diện các loài thú của vờn quốc gia Cát Tiên của Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng
và Gert Polet (2001) mô tả đặc điểm nhận dạng, phân bố, đặc điểm sinh học, sinh
thái một số loài ĐVHD ở VQG Cát Tiên, trong có loài bò tót [42]. Các báo cáo của
Ben Hayes (2004), David Murphy (2004) ớc đoán số lợng cá thể bò tót xuất hiện ở
một số khu vực trong các lần các tác giả khảo sát ở VQG Cát Tiên [63],[70],
[71],[72],[96]. Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2001) xác định họ Bovidae ở
VQG Cát Tiên có 4 loài, bò tót (Bos gaurus), bò rừng (Bos javanicus), bò xám (Bos
sauveli), trâu rừng (Bubalus bubalis), sơn dơng (Nemorhaedus sumatraensis) [54].
VQG Cát Tiên đã nhiều lần quay phim, chụp ảnh đợc ảnh bò tót ở VQG Cát
Tiên. Một kiểu ảnh chụp đợc một đàn khoảng 25 cá thể bò tót đang ăn gần trạm
Bàu Sấu (2001). một đoạn phim khoảng 15 phút với 12 cá thể bò tót đang băng
ngang đờng rừng ở khu vực Đắc Lua (2003). Nhiều ảnh bò tót khác cũng đã đợc
ghi nhận bằng máy bẫy ảnh (trapping camera). Năm 2001 trạm kiểm lâm Bàu Sấu
thu đợc 1 hộp sọ đợc các chuyên gia xác định là hộp sọ của loài bò rừng khoảng 1
năm tuổi, có hình ảnh chụp trong báo cáo [71]. Hiện nay bộ xơng đã bị thất lạc.
Vấn đề này đã và đang gây nhiều nghi vấn cho các nhà khoa học, loài bò rừng có
còn tồn tại hay không ở VQG Cát Tiên.
Nhìn chung, các báo cáo chủ yếu phục vụ việc xây dựng danh lục, mô tả số
đàn và số lợng cá thể ở một số vùng c trú, đe dọa đối với loài bò tót, nhng ch
a
có nghiên cứu chi tiết về sinh cảnh của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên.
Dự án bảo tồn bò hoang dã ở Việt Nam (2006 - 2010) đợc Chính Phủ Pháp
thông qua Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Quỹ Môi trờng toàn cầu của Pháp
(FFEM) đã tài trợ cho Việt Nam nhằm bảo tồn nguồn gen các loài bò hoang dã với
mục tiêu duy trì nguồn gen để cải tạo đàn bò nuôi [59]. Trong khuôn khổ của Dự án 15

Quang); Quảng Bình: Thợng Hóa (Minh Hóa), U Bò (Quảng Ninh); Quảng Trị:
Vĩnh Ô (Vĩnh Linh), Triệu Nguyên (Đắk Rông).
Tây Nguyên: Kon Tum: Ch Mom Rây (Sa Thầy), Gia Lai: Ch Prông; Đắk
Lắc: Yok Đôn (Buôn Đôn, C Jút), Ea Súp, Ea Sô (Ea Kar), Ch Yang Sin (Krông
Bông, Lắk); Đắk Nông: Tà Đùng (Đắk Lấp), Nam Nung (Đắc Min); Lâm Đồng: Bi
Đúp - Núi Bà (Lạc Dơng), Bảo Lộc.
Đông Nam Bộ: Bình Phớc: Tân Lập, Nghĩa Trung (Đồng Phú), Bù Gia Mập
(Phớc Long), Lộc Ninh; Đồng Nai: Cát Tiên (Tân Phú, Vĩnh Cửu), La Ngà; Ninh
Thuận: Phớc Bình (Bác ái), Ninh Sơn.
Khu vực phân bố của bò tót tập trung nhất là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Trong các khu vực phân bố, có 19/27 khu vực phân bố quần thể bò tót tồn tại chủ
yếu ở các khu rừng đặc dụng (70,4%), có 3/27 khu vực là diện tích các lâm trờng
(11,1%). Chỉ có 5/27 khu vực phân bố của bò tót cha đợc bảo vệ (18,5%) [25].
1.4.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm địa hình nơi c trú của bò tót
Conry (1981) cho biết bò tót phân bố ở độ cao 46 m đến 1.079 m ASL [68].
Wood (1937), Wharton (1968) cho rằng bò tót phân bố ở độ cao tối thiểu là 2.800 m
ASL [84]. Các tác giả Choudhury (2002) và Robert Steinmetz (2004) cho rằng bò
tót a thích vùng địa hình đồi núi có giới hạn, ít hoạt động ở các khu vực có địa hình
không thuận lợi nh các khu vực nhiều đá. Vùng đất thấp là vùng sinh thái tối u
nhất [67],[95]. Ebil Bin Yusof (1981) cho biết bò tót th
ờng tránh sử dụng các đồi,
mặc dù chúng thỉnh thoảng xuyên qua các dãy đồi thấp khi đi từ một thung lũng đến 17
nơi khác [74]. Bò tót có thể chịu đựng đợc địa hình hiểm trở hơn là các loài trâu bò
hoang dã khác và trâu, bò nhà với điều kiện là có đủ nguồn nớc [82].
ở Việt Nam, Đặng Huy Huỳnh (1986) cho biết bò tót thích nghi với các vùng
núi có độ dốc 50
o

18
hỗn giao gỗ tre nứa xen kẽ với các thung lũng có nhiều loại cỏ [24],[25]. Bò tót
không hoạt động ở các vùng nơng rẫy và núi đá vôi [32]. ở Tây Nguyên, bò tót c
trú ở các khu rừng tha, vùng đồi, các khu vực gần suối, bụi cỏ rậm và các trảng cỏ
[3]. áp lực con ngời là nguyên nhân làm cho bò tót không còn nơi nào khác để
sống trong các vùng đồi [82]. ở VQG Cát Tiên, bò tót không c trú trong rừng già
có cây gỗ lớn [25]. Rừng bán thờng xanh, rừng tre nứa, hỗn giao tre nứa và trảng cỏ
cây bụi là sinh cảnh bò tót hoạt động nhiều nhất [25].
1.4.4 Kết quả nghiên cứu về thức ăn của bò tót
Số lợng và thành phần các loài thực vật là thức ăn của bò tót ở các khu vực
khác nhau không giống nhau (xem bảng 1.2).
Bảng 1.2 - Số loài cây thức ăn của bò tót ở một số quốc gia
STT Khu vực Số loài cây
thức ăn
Nguồn
1.
Miền trung ấn Độ
180 - 190 htt
p
://www.iucnredlist.or
g
2. Khu bảo vệ
p
hía Nam Goa,
ấn Độ
32 Suman Gad, S.K. Sh
y
ama
(2009)
3. Parsa, Miền trun

Tập tính ăn, cách sử dụng thức ăn của bò tót cũng thay đổi theo mùa và các
vùng c trú khác nhau. Nguồn thức ăn của bò tót là cỏ và chồi non. Bò tót thích ăn
cỏ non xanh nhất, nhng chúng cũng ăn lá cây, quả, nhánh non và vỏ cây của nhiều
loài cây gỗ, cũng nh các loài cỏ khô thô, và tre [82].
Bò tót có thể hoạt động tốt trong điều kiện chất lợng thức ăn tơng đối thấp
[82],[84]. Trong suốt mùa lạnh (tháng 11 đến tháng 2), bò tót ăn nhiều loại cỏ, các lá
cây và hạt tre, nhng vào mùa nóng (tháng 3 đến tháng 6) cỏ thô khô và bán khô là
thành phần chính cho thức ăn của chúng. Trung bình chiếm 85% khối lợng (thể tích 19
66 - 100%, bốn mẫu dạ cỏ), với chồi non chỉ chiếm 10% [82]. Bò tót cũng ăn các
loại ngũ cốc nh bắp, mì và cây cao su non [82].
ở Ma-lai-xi-a, bò tót ăn hỗn hợp nhiều loài cỏ và cây bụi. Cỏ chiếm 4% thành
phần thức ăn, thân cây 23% và chồi non thân gỗ 36%. Trong suốt thời gian hạn hán,
bò tót ăn lá cây, dây leo và cây rừng [82]. Hàm lợng prô-tê-in thô của các loài cỏ
biến đổi từ 7,0 đến 7,6% và phốt pho chứa từ 0,11 đến 0,17%, bê con cần khoảng
300 kg trong năm đầu [68].
ở Việt Nam, bò tót chủ yếu ăn các loại cỏ nh cỏ giác, cỏ tranh non, các
mầm non của lau sậy, các loại dơng xỉ, chuối, măng, tre nứa, vầu, lá cây, dây leo và
một số quả cây. Bò tót cũng thờng đến những bãi cỏ tranh vừa mới đốt một vài
ngày để tìm ăn các loại tro tàn của cỏ tranh [32]. ở vùng Xuân Trạch (Quảng Bình),
Đắc Krông (Quảng Trị), khu BTTN Pù Mát (Nghệ An) và VQG Cát Tiên đã xác
định 62 loài, chủ yếu là các loài cỏ, lau, ô rô, măng tre, măng giang, chuối rừng,
Bò tót cũng ăn ngọn và chồi non của một số loài thực vật. Ngoài ra bò tót ăn tro tàn,
muối khoáng và một số loài cây trồng khác [24]. ở VQG Cát Tiên (Đồng Nai, Lâm
Đồng), khu BTTN Ea sô và VQG Yok đôn (Đắc Lắc), khu vực Tân Lập, huyện
Đồng Phú (Bình Phớc) và khu BTTN Đắc Krông (Quảng Trị) có 125 loài [25].
Trong đó các loài cây thức ăn trong mùa ma là 115 loài, cao hơn mùa khô 54 loài.
Các loài cây thức ăn trong sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi có 91 loài; rừng bán thờng

+
, K
+
và Na
+
. Tuy nhiên, tác giả chỉ phân tích 10 mẫu
đất cho 5 nguyên tố là clo, phốt pho, ka-li, can-xi, và ma-nhê [74].
Bò tót đòi hỏi can-xi nhiều hơn là phốt pho, bởi vì số lợng lớn can-xi trong cơ
thể thì cần thiết hơn là số lợng phốt pho [74]. Trong tự nhiên, những loài cây họ
Đậu (Fabaceae) và các đồng cỏ là nguồn can-xi trong thức ăn tự nhiên tốt nhất cho
bò tót [74]. Nhu cầu bổ sung Mg
2+
là đòi hỏi thiết yếu của bò tót đối với bản năng
luôn vận động. Số lợng ma-nhê cần thiết giống nh phốt pho. Bò tót luôn luôn thiếu
nguyên tố này và ít khi chứa đầy đủ trong cỏ. Tuy nhiên bò tót dễ dàng đợc tìm
thấy trong các bãi liếm [74]. Bò tót thay thế và thu đợc nguồn phốt pho từ nguồn
muối khoáng và các loài cỏ. Thông thờng phốt pho có sẵn và phong phú trong các
bãi liếm. Thiếu phốt pho sẽ làm chậm lại sự phát triển của động vật [74].
ở VQG Cát Tiên, một số tác giả đề cập đến bò tót thờng đến các bàu uống
nớc vào mùa khô và thờng đến điểm muối khoáng ở Sa Mách để ăn muối khoáng,
có dấu vết liếm muối rõ ràng trên mặt đất [25],[63],[71],[72],[96]. Tuy nhiên các
báo cáo chỉ dừng ở mức độ mô tả, cha có đánh giá và cha có các dẫn liệu cụ thể về
phân tích hàm lợng các nguyên tố trong các nguồn nớc, cũng nh phân tích hàm
lợng muối khoáng của loài bò tót.
1.4.6 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm quần thể bò tót
Số lợng cá thể 21
Quần thể bò tót trên toàn cầu ớc khoảng 13.000 - 30.000 cá thể, đang trên đà

liệu trên phần mềm chuyên dụng, kết luận chỉ có 29 cá thể bò tót ở khu Nam Cát 22
Tiên [76]. Phơng pháp này không chính xác trong điều kiện diện tích VQG Cát
Tiên rộng, rừng rậm khó có thể thu thập đầy đủ số lợng phân rơi trong 24 tiếng
trong phạm vi toàn diện tích VQG Cát Tiên.
Mật độ (cá thể/km
2
)
Mật độ cá thể bò tót và bò banteng (Bos javanicus) ở Huai Kha Khaeng năm
1994 là 0,54 - 0,37. Năm 1996 quần thể tăng 0,97 [92]. Mật độ trung bình ở một số
VQG và khu bảo tồn ở ấn Độ (xem bảng 1.4).
Bảng 1.4 - Mật độ trung bình của bò tót ở một số VQG
và khu bảo tồn ở ấn Độ
STT Khu bảo tồn/VQG Kiểu rừng Mật độ (cá thể/ km
2
)
1. Bhadra Khô bán thờn
g
xanh 1,48 - 0,63
2. Pench (Madh
y
a Pradesh) Khô bán thờn
g
xanh 0,7
3. Pench (Maharashtra) Khô bán thờn
g
xanh 0,8
4. Na

2
. Bò đực là 70,18
km
2
, bò cái là 52,13 km
2
, bò nhỡ là 29,89 km
2
[68]. ở VQG Taman Negara, phía tây
Ma-lai-xi-a, kích thớc vùng phân bố của bò tót khoảng 13 km
2
[82]. ở Thái Lan,
kích thớc vùng sống vào mùa ma thì rộng hơn mùa khô, đàn lớn hơn có vùng sống 23
hàng năm lớn hơn đối với đàn nhỏ hơn. Mùa ma là 39,1 km
2
( 2,9 km
2
) lớn hơn
trung bình của mùa khô 27,3 km
2
( 810 km
2
), vùng sống trung bình cho cả năm là
65,5 km
2
( 27,8 km
2

Trong suốt thời gian cao điểm sinh sản, con bò đực khi trởng thành tách bầy đi
lang thang tìm bạn tình mới hoặc gia nhập vào các đàn khác [84]. Con đực gọi con
cái để giao phối với giọng vang, rõ có thể vang xa 1,6 km [82].
Các đàn nhỏ đợc thành lập từ khi một con bò đực trởng thành khỏe mạnh kết
giao với con bò cái trong thời kỳ động dục [84]. Những con đực trởng thành ở lại
đàn nếu không gặp đợc bò cái để lập đàn mới có thể bị đơn độc [84]. Đối với nhóm
toàn đực, do một con đực chỉ huy [84]. Đàn của con bò đực thờng không ổn định,
mặc dù đôi khi hai cá thể hoặc nhiều hơn thờng kết đàn với nhau [84].
ở Việt Nam, các đàn bò tót ở khu vực Tây Bắc và Bắc Trung Bộ tồn tại ở dạng
đơn đàn. Khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có nhiều quần thể nhỏ đa đàn. Kiểu
hình thành các quần thể nhỏ đa đàn ở các khu biệt lập đang hình thành phổ biến ở
Việt Nam [25].
- Cấu trúc tuổi
Cấu trúc tuổi của bò tót thờng có số lợng bò trởng thành chiếm đa số. Cấu
trúc tuổi của bò tót ở một số VQG và khu bảo tồn trên thế giới (xem bảng 1.5)
Bảng 1.5 - Cấu trúc tuổi của bò tót ở một số VQG
và khu bảo tồn trên thế giới
STT VQG/Khu bảo tồn Tỷ lệ Nguồn
1. Huai Kha Khaen
g
,
Thái Lan
trởn
g
thành:con sắ
p
trởn
g

thành:non (bò tót + bò ban

n Độ
bò non:bò trởn
g
thành
24:100
http:/
/
www.iucnredlist.org

Nguyễn Mạnh Hà (2008) nghiên cứu ở 22 đàn bò tót ở các VQG Ea Sô, Yok
đôn và Cát Tiên, tỷ lệ theo nhóm tuổi là 3 trởng thành:1,45 nhỡ:1,05 bê (66:32:23).
Số lợng bò trởng thành nhiều hơn bò nhỡ và bê con [25].
- Giới tính
ở Thái Lan, tỷ lệ bò cái luôn nhiều hơn bò đực cả mùa ma (3:5) và mùa
khô (4:7) [94]. ở Ma-lai-xi-a, 26:41 [74]. 25
Nghiên cứu ở 22 đàn bò tót ở các VQG Ea Sô, Yok đôn và Cát Tiên cho thấy
tỷ lệ về giới tính của bò tót là 26:40 (1,18:1,82). Tỷ lệ bò đực ít hơn cái [25].
1.4.7 Kết quả nghiên cứu về tuổi thọ và sinh sản
Tuổi thọ
Tuổi thọ của bò tót trong môi trờng tự nhiên cha đợc nghiên cứu. Trong
môi trờng nuôi nhốt là 26 năm [84]. Tuổi thọ trung bình của bò tót nuôi nhốt ở
Thảo Cầm viên đối với con cái là 16 năm, con đực là 19 năm [25].
Sinh sản
Nếu thức ăn thuận lợi, hầu hết con cái trởng thành động dục và sinh sản vào
bất kỳ thời điểm nào trong năm [84]. Thời điểm sinh sản của bò tót phụ thuộc vào
điều kiện môi trờng, khi có sẵn nguồn cỏ non phát triển khắp nơi trong thiên nhiên
[84]. Đời một con cái có thể sinh sản ít nhất 2 - 3 lần (Reed, 1958). Trong rừng kín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status