Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
*
NÔNG VĂN NINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
ĐỐI VỚI GIỐNG HỒNG KHÔNG HẠT TẠI PÁC BÓ
HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01 TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên
Thư viện Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG VĂN NINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
ĐỐI VỚI GIỐNG HỒNG KHÔNG HẠT PÁC BÓ
TẠI HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG
Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát
triển và một số biên pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Pác Bó tại
huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng” là do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Nguyễn Đức Thạnh và TS Nguyễn Thế Huấn. Mọi số
liệu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ bất cứ một
công trình khoa học nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Thái nguyên, tháng 10 năm 2010
HỌC VIÊN CAO HỌC
Nông Văn Ninh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nông Văn Ninh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iv
MỤC LỤC
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Yêu cầu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
2.1.1. Cơ sở khoa học của biện pháp cắt tỉa 3
2.1.2. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón qua lá 6
2.1.3. Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng 9
2.2. Nguồn gốc, phân bố và tình hình sản xuất hồng ăn quả 13
2.2.1. Nguồn gốc và phân loại 13
2.2.2. Tình hình phân bố và sản xuất hồng ăn quả 16
2.3. Những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học liên quan đến phạm vi
của đề tài 26
2.3.1. Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học cây hồng 26
2.3.2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh cây hồng 31
2.3.3. Nhu cầu dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho hồng 34
2.3.4. Nguồn gốc, đặc tính một số chất điều hoà sinh trưởng và phân bón
qua lá sử dụng trong nghiên cứu của đề tài 36
2.3.5. Một số đặc điểm của giống hồng Pác Bó 37
4.2.1. Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái ở cây hồng Pác Bó 54
4.2.2. Quá trình ra hoa, đậu quả của giống hồng Pác Bó 62
4.2.3. Đặc điểm hình thái quả và năng suất quả hồng Pác Bó 63
4.2.4. Tình hình sâu bệnh hại trên cây hồng Pác Bó tại Hà Quảng Cao Bằng 65
4.3. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật hạn chế hiện tượng rụng
quả trên giống hồng Pác Bó tại Hà Quảng Cao Bằng 66
4.3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất chất
lượng cây hồng Pác Bó tại Hà Quảng Cao Bằng 66
4.3.2. Kết quả nghiên cứu tác dụng của chế phẩm điều tiết sinh trưởng và
phân bón qua lá đến khả năng ra hoa đậu quả của cây hồng Pác Bó 71
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79
1. Kết luận 79
2. Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHẦN PHỤ LỤC 88
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT NS
SL
DT
PTNT
Bảng 4.8: Đặc điểm lá của giống hồng Pác Bó 56
Bảng 4.9: Đặc điểm và khả năng sinh trưởng lộc xuân năm 2009 57
Bảng 4.10: Đặc điểm và khả năng sinh trưởng lộc hè năm 2009 58
Bảng 4.11: Đặc điểm và khả năng sinh trưởng lộc thu năm 2009 60
Bảng 4.12: Động thái tăng trưởng chiều dài các đợt lộc năm 2009 61
Bảng 4.13: Quá trình ra hoa, đậu quả của hồng Pác Bó 62
Bảng 4.14: Một số chỉ tiêu liên quan đến năng suất, chất lượng và năng suất
quả hồng Pác Bó 65
Bảng 4.15:Tình hình sâu bệnh hại trên cây hồng tại Hà Quảng Cao Bằng 65
Bảng 4.16: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả,
năng suất hồng Pác Bó 67
Bảng 4.17: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến kích thước quả và năng suất
hồng Pác Bó 68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn viii
Bảng 4.18: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến chất lượng quả hồng Pác Bó 70
Bảng 4.19: Hiệu quả kinh tế của biện pháp cắt tỉa cho hồng 70
Bảng 4.20. Ảnh hưởng của GA
3
và phân bón dinh dưỡng qua lá đến tình hình
ra hoa và đậu quả của cây hồng Pác Bó 72
Bảng 4.21: Ảnh hưởng của GA
3
và phân bón dinh dưỡng qua lá đến kích
thước quả và năng suất quả hồng Pác Bó 73
Bảng 4.22: Ảnh hưởng của phun GA
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây hồng (Diospyros Kaki L), thuộc họ thị (Ebenaceae) là một trong
những loại cây ăn quả quan trọng nhất của các nước châu Á thuộc miền ôn
đới như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên… Người châu Âu đánh giá quả
hồng khá cao, chỉ sau đào, lê, táo tây, bơ, Ở châu Âu hồng được trồng nhiều ở
vùng Địa Trung Hải.
Hồng ở Việt Nam được coi là một trong những loại quả quý vì có mã
quả đẹp, vị ngọt, không chua nên rất hợp với khẩu vị của người Á đông. Cây
hồng được đánh giá rất cao vì một số lý do sau:
Hồng không chỉ nổi tiếng là loại quả chứa nhiều đường 12 - 16%,
trong đó chủ yếu là đường glucoza và fructo, vì thế hồng thuộc loại quả ăn
kiêng. Lượng axit 0,1% (ít khi tới 0,2%). Trong 100g thịt quả chín (phần ăn
được) chứa 16 mg vitamin C, 0,16 mg caroten; Ngoài ra còn có Vitamin PP;
B
1
của người dân địa phương là rất cần thiết. Từ những vấn đề đặt ra ở trên chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật
đối với giống hồng không hạt Pác Bó tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng".
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của cây hồng không hạt
Pác Bó tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm hạn chế hiện tượng rụng
quả, nâng cao năng suất nhằm góp phần hoàn thiện quy trình chăm sóc hồng.
3. YÊU CẦU VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh trưởng liên quan đến năng suất,
chất lượng của giống hồng không hạt Pác Bó tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Xác định hiệu quả của một số biện pháp kỹ thuật: cắt tỉa, phun chất
điều hoà sinh trưởng, phân bón qua lá, liên quan đến tỷ lệ đậu quả, năng suất
và chất lượng quả hồng không hạt Pác Bó, từ kết quả nghiên cứu tìm ra biện
pháp tốt nhất để ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
- Đề tài góp phần bổ sung vào quy trình trồng và chăm sóc cây hồng Pác bó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Cơ sở khoa học của biện pháp cắt tỉa
Bên cạnh công tác chọn giống thích hợp với vùng sinh thái và mục
đích sử dụng, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất
và chất lượng cây ăn quả nói chung và cây hồng Pác Bó nói riêng có ý nghĩa
quan trọng đối với người trồng trọt và các nhà khoa học.
Trần Thế Tục (1997) Cắt tỉa là biên pháp kỹ thuật quan trọng và cần thiết
được tiến hành thường xuyên, giúp cho cây phân bố thân, cành một cách
đồng đều, hợp lý để tận dụng không gian, rút ngắn độ cao, tăng chiều rộng
tán. Làm cho cây thông thoáng, quang hợp tốt, tránh được sâu bệnh và tránh
những cành ra không có hiệu quả mất nhiều dinh dưỡng không cần thiết. Tuy
nhiên hiện nay người làm vườn vẫn chưa nhận thức đầy đủ về biện pháp cắt
tỉa, mới chỉ tập trung vào khâu bón phân và phòng trừ sâu bệnh.
Tuỳ thuộc vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu
kỳ sống một năm cây hồng thường ra 2 - 3 đợt lộc là xuân, hè, thu. Phạm Văn
Côn (2002) [5], Vũ Công Hậu (1980) [9], Vũ Công Hậu (1999) [11], Trần
Như Ý và cộng sự [34], [35]. Các đợt lộc có liên quan chặt chẽ với nhau, quá
trình ra lộc của năm trước là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau. Nắm
bắt được quy luật trên để có các biện pháp kỹ thuật thích hợp điều khiển quá
trình ra lộc sẽ hạn chế ra hoa đực, hạn chế hiện tượng ra quả cách năm, bồi
dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận
dưới mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng quả
hồng [3], [4], [9], [11]. Chính vì những ưu điểm trên việc nghiên cứu quá
trình ra các đợt lộc trong năm trên cây hồng Pác Bó là rất cần thiết và là tiền
đề để xây dựng các biện pháp kỹ thuật.
Theo Phạm Văn Côn (2004) [6], Trần Thế Tục (1994) [28]. Người làm
vườn cần phải tác động tích cực để tạo dựng hệ thống cành, khung, nửa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5
khung và cành nhánh của cây cho phù hợp với cấu trúc của vườn và mục đích
kinh doanh. Trong kỹ thuật làm vườn hiện dại việc đốn, cắt tỉa là khâu kỹ
thuật then chốt, cần có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề.
Hiện nay, nhiều biện pháp đốn tỉa, tạo hình cho cây hồng rất được quan
Nhiều kết quả nghiên cứu về phân phức hợp hữu cơ vi sinh tăng năng
suất cây trồng cho thấy: thường sau khi hoa nở rộ hoặc hoa đã tàn lúc này cây
đang ở tình trạng thiếu dinh dưỡng trầm trọng [23], [30]. Ở thời điểm này bộ
rễ ở dưới đất phát triển yếu vì bị ức chế do hoa nở rộ, nếu bón phân vào đất rễ
cũng chưa có điều kiện hấp thu được ngay. Nguyễn Ngọc Nông (1997) [14].
Do vậy, phải kịp thời phun dinh dưỡng lên cây để bổ sung dinh dưỡng và làm
bớt rụng quả sinh lý. Trần Văn Uyển (1995) [30].
Lá là một bộ phận quan trọng của cây trồng, nhiệm vụ của lá là quang
hợp hấp thu dinh dưỡng cho cây. Tất cả quá trình này được diễn ra trên cơ
quan ở mặt lá đó là lỗ khí khổng. Tuy nhiên sự hấp thu các nguyên tố khoáng
dưới dạng ion từ dung dịch gặp phải khó khăn hơn vì tầng cultin ở lớp ngoài
cùng của lá, tầng cultin này có thể dày hay mỏng thuỳ theo từng loại cây
trồng và tuổi của cây.
Lỗ khí khổng có kích thước trung bình 100µm
2
(dài 7- 10µm, rộng 3-
12µm), số lượng khá lớn, có thể chiếm tới 1% diện tích lá. Lỗ khí khổng
phân bố ở cả mặt trên và mặt dưới của lá. Số lượng lỗ khí khổng của từng
loại cây rất khác nhau như: số lượng lỗ khí khổng/1mm
2
lá ở lá ngô là 120; ở
lá cà chua là 142; đặc biệt ở những cây thân gỗ số lượng lỗ khí khổng rất lớn
từ 300 - 400. Điều đáng chú ý là muốn cho phân bón qua lá mang lại hiệu quả
cao nhất thì nó phải được phun lên bề mặt lá có nhiều lỗ khí khổng. Phương
pháp dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong điều kiện đất nghèo dinh
dưỡng và sự hấp thụ dinh dưỡng của cây ở đất bị hạn chế. Do vậy, việc áp
dụng bón phân qua lá từ 2 - 3 lần ở những thời điểm thích hợp là hoàn toàn
có thể đáp ứng được nhu cầu của cây và cải thiện được năng suất cây trồng.
Horst (1993) [46].
và Mg
2+
, hàm lượng K lớn hơn
300 mg/kg đất và lớn hơn 160 mg Mg
2+
/kg đất. Sự hấp thu Mg bị ngăn cản
do hiện tượng đối kháng ion, cây có biểu hiện thiếu Mg nếu bón Mg cho cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8
vào đất sẽ làm cho cây mất cân bằng dinh dưỡng và chết do ngộ độc Mg,
trong khi đó bón Mg qua lá lại giúp cây hấp thu và sinh trưởng tốt. [55].
* Nhược điểm:
- Chỉ một lượng nhỏ chất khoáng có thể hút qua lá. Đối với các nguyên
tố đa lượng chỉ khoảng 10% là được đồng hoá qua lá. Vì thế phương pháp
này không được sử dụng phổ biến với các nguyên tố đa lượng, với các
nguyên tố này thì dinh dưỡng qua lá được xem như là một biện pháp hỗ trợ
cho các phương pháp dinh dưỡng vào đất trong điều kiện cần thiết và chỉ phổ
biến với các nguyên tố trung lượng và vi lượng.
- Phân bón qua lá rất dễ bị trôi khỏi lá, vì thế khi sử dụng phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện thời tiết.
- Dung dịch dinh dưỡng sau khi phun đòi hỏi phải tạo thành một lớp
phin mỏng trên bề mặt lá với thời gian tồn tại lâu, vì vậy khi phun phải chọn
lúc trời râm mát, phun vào chiều tối và thường kết hợp với các chất hoạt động
bề mặt. [55], [56].
2.1.2.4. Các nghiên cứu về việc sử dụng phân bón qua lá
Khi nghiên cứu về phân phức hợp hữu cơ vi sinh tăng năng suất cây
trồng. Lê Văn Trí (2000) [23], Trần Văn Uyển (1995) [30] nhận thấy: thông
của hạt, củ, điều khiển sự ra hoa của cây, điều chỉnh giới tính của hoa, tăng
hiệu quả và tạo quả không hạt, điều chỉnh sự chín của quả.
Quả được hình thành sau khi sảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh. hợp tử
phát triển thành phôi. Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích
thích sinh trưởng có bản chất auxin và giberelin. Các chất này khuyếch tán
vào bầu kích thích sự lớn lên của quả. Vì vậy, nếu không có quá trình thụ
phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng. [16], [17], [18], [23], [33].
Nếu chúng ta sử dụng auxin và giberelin ngoại sinh cho hoa trước khi
thụ phấn, thụ tinh chúng sẽ thay thế được nguồn gốc phyohormon nội sinh từ
hạt và quả sẽ được hình thành, nhưng không qua thụ tinh và sẽ không có hạt.
Việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng tăng sự đậu quả và tạo quả không hạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10
được sử dụng rất rộng rãi và có hiệu quả cao trong sản xuất với các đối tượng
như; nho, bầu, bí, cà chua, táo [17], [18], [19], [23].
Hiện nay năng suất quả hồng thu hoạch chưa cao, không ổn định và
chịu tác động của nhiều yếu tố như giống, trình độ và kỹ thuật canh tác cũng
như mức độ đầu tư sản xuất Năng suất thấp và không ổn định của cây
hồng chủ yếu là do rụng quả. Tỷ lệ đậu quả của hồng khá cao nhưng tỷ lệ
rụng quả của hồng cũng tương đối lớn. Mức độ rụng quả hồng tuỳ thuộc vào
giống, khí hậu và điều kiện chăm sóc. Nhìn chung cây hồng rụng quả khá
nhiều, tỷ lệ cao nhất tới 70% trong đó giống hồng vuông có tỷ lệ rụng quả
cao nhất (Lưu Vinh Quang 1995) [15]. Nguyên nhân rụng quả ở cây hồng
có thể chia thành 3 loại:
- Sự rụng quả sinh lý.
- Tác hại của sâu bệnh.
- Nguyên nhân cơ giới.
nông nghiệp, việc quan trọng nhất là phân loại và tìm hiểu tính năng tác dụng
của chúng với cây trồng và môi trường.
Căn cứ vào nguồn gốc người ta chia chất điều tiết sinh trưởng làm 2
nhóm là các phytohormon và chất điều tiết sinh trưởng tổng hợp.
Căn cứ vào hoạt tính sinh lý: chia làm 2 nhóm đối kháng nhau về mặt
sinh lý là:
+ Các chất kích thích sinh trưởng: Gồm các nhóm chất Auxin,
Giberellin và Xytokynin được sản sinh ra từ các cơ quan non như lá non, chồi
non, quả non ở nồng độ thấp chúng kích thích quá trình sinh trưởng của cây
và chi phối sự sinh trưởng hình thành các cơ quan dinh dưỡng.
+ Các chất ức chế sinh trưởng: Gồm Axit abxixic, Erthylen, các
phenol được hình thành và tích luỹ chủ yếu trong các cơ quan trưởng thành,
cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ. Chúng ức chế quá trình sinh trưởng, thúc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12
đẩy cây chuyển hoá nhanh vào gian đoạn hình thành cơ quan sinh sản, cơ
quan dự trữ, gây già hoá và chết.
2.1.3.4. Sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất cây ăn quả
Nguyên tắc sử dụng:
- Nồng độ: Hiệu quả của chất điều tiết sinh trưởng đối với cây phụ
thuộc vào nồng độ. Thông thường, nếu nồng độ quá thấp thì hiệu quả sinh lý
kém, nồng độ sử dụng ở mức thấp sẽ gây hiệu quả kích thích sinh trưởng,
nồng độ cao lại có tác động ức chế, nồng độ quá cao phá huỷ và dẫn đến huỷ
diệt mô cây. Vì vậy, tuỳ theo mục đích tác động mà chọn nồng độ sử dụng
khác nhau.
- Phối hợp: Chất điều tiết sinh trưởng không phải là chất dinh dưỡng,
chúng chỉ có tác dụng hoạt hoá quá trình trao đổi chất. Vì vậy để nâng cao