1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là yếu tố cơ bản của môi trường, giữ vai trò quan trọng không gì
thay thế được đối với việc phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ tính đa
dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, cung cấp nhiều loại gỗ và lâm sản ngoài gỗ
đáp ứng đa dạng cho nhu cầu sử dụng của con người. Rừng là dạng tài
nguyên có khả năng tái tạo do vậy rừng không những là cơ sở của sự phát
triển kinh tế mà còn giữ chức năng môi trường cực kỳ quan trọng. Song nó là
một hệ sinh thái phức tạp và nhạy cảm bao gồm nhiều thành phần sinh vật với
các quy luật sắp xếp khác nhau trong không gian và thời gian.
Trong quản lý rừng, tác động lâm sinh là biện pháp kỹ thuật then chốt
để cải thiện chất lượng rừng, làm cho rừng có cấu trúc phù hợp với mục đích
quản lý, nhằm đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cho từng loại hình kinh doanh
rừng. Thực tiễn đã cho thấy rằng, các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản lý
rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thỏa đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ
về bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng.
Tỉnh Bình Thuận hiện có 259.541 ha rừng tự nhiên, diện tích rừng phân
bố hầu hết trên các địa hình núi cao có độ cao tương đối so với mặt nước biển
từ 200- 1600 m, cấu trúc quần xã thực vật tại các đai độ cao cũng rất khác
nhau. Tuy nhiên, cho đến nay tại tỉnh Bình Thuận có rất ít những công trình
nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng tự nhiên tại các đai độ
cao khác nhau. Do vậy việc triển khai đề tài "Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc
quần xã thực vật theo đai độ cao tại huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận”
được xem là một trong những công việc cần thiết, quan trọng làm cơ sở khoa
học cho việc đề xuất các giải pháp lâm sinh và chủ động trong việc xác lập
2
các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần
quản lý và phát triển rừng bền vững.
2. Mục đích của đề tài
Bổ sung những thông tin về đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng tại
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả
trên thế giới và Việt Nam đề cập từ những năm đầu thế kỷ XX. Những nghiên
cứu này đều có xu hướng xây dựng các cơ sở có tính khoa học và lý luận phục
vụ công tác kinh doanh rừng hiệu quả.
Tuy nhiên, do đối tượng rừng tự nhiên lại rất đa dạng, phong phú và
phức tạp về cấu trúc, tổ thành loài cây, tầng tán, khả năng sinh trưởng… trên
mỗi vùng địa lý khác nhau với những đặc điểm riêng biệt. Vì vậy các kết quả
nghiên cứu về cấu trúc rừng và tái sinh rừng trên thế giới và ở Việt Nam được
công bố đều mang ý nghĩa ứng dụng nhất định cho từng vùng, từng khu vực
và là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo. Dưới đây xin trình bày
một số kết quả nghiên cứu điển hình mang tính định hướng cho tác giả thực
hiện nội dung đề tài.
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng
Trong những thập kỷ gần đây việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được
chuyển dần từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê
toán học và tin học, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối
quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu.
- Về cơ sở sinh thái cấu trúc rừng
Trong nghiên cứu cấu trúc rừng, các nhà khoa học chia ra ba dạng cấu
trúc: cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc thời gian. Cấu trúc hiện
tại của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, đấu tranh
sinh tồn giữa thực vật với thực vật, giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Như
5
vậy trên quan điểm sinh thái học cấu trúc rừng chính là hình thức ngoại mạo
phản ánh những nội dung bên trong của một hệ sinh thái rừng.
Tổ thành thực vật là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phong phú
của hệ thực vật rừng tại các vùng địa sinh học khác nhau. Richards P.W
(1933 – 1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyam đến nay vẫn là
phương pháp hiệu quả để xác định cấu trúc tầng thứ của rừng. Tuy nhiên,
phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo
hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn.
Ngày nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các
đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng
suất thảm thực vật. Tiêu biểu cho nửa đầu thế kỷ XIX, là Humbold và
Grisebach đã sử dụng dạng sinh trưởng của các loài cây ưu thế và kiểu môi
trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật. Phương pháp này
được các nhà sinh thái học Warming (1904) và Raunkiaer (1934) tiếp tục phát
triển. Trong đó Raunkiaer đã đưa ra khái niệm về các phổ sinh học, khái niệm
này được hiểu là tỷ lệ phần trăm các loài cây trong một quần xã có các dạng
sống khác nhau. (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978) [39].
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là hết sức
phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra phương pháp phân cấp
được chấp nhận rộng rãi. Ngoài ra, về cấu trúc tuổi đối với rừng tự nhiên
nhiệt đới vẫn chưa có các khẳng định chính thức. (dẫn theo Nguyễn Văn
Thêm, 1992) [34].
- Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Như đã đề cập ở trên việc nghiên cứu cấu trúc rừng từ mô tả định tính
dần chuyển sang các phương pháp định lượng, trong đó việc mô hình hóa cấu
7
trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng được nhiều tác
giả nghiên cứu có kết quả. Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của
rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất. Có thể kể đến một số
tác giả tiêu biểu như: Rollet B (1971), Brunn (1970), Loetsch et al (1967) và
nhiều tác giả khác quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của
rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các quy
luật cấu trúc. (dẫn theo Trần Văn Con, 2001) [8].
Trên cơ sở nghiên cứu về mật độ cây rừng trong rừng tự nhiên, nhiều
số, cũng có thể phù hợp cho nhiều hàm số ở các mức xác suất khác nhau.
Meyer đã mô tả phân bố N/D
1.3
bằng phương trình toán học có dạng
đường cong giảm và được gọi là phương trình phân bố Meyer hay hàm phân
bố Meyer: y=ke
-αx
, trong đó y là tần số, x là đường kính, k và α là tham số, e
là hệ số neper. Nhiều tác giả đã dùng luật Linaourt đã biểu thị bằng một
phương trình có dạng tương tự như hàm phân bố Meyer để nghiên cứu rừng
chặt chọn như Corona Elio, Bery, Popescu. Zeletin dùng phương trình
Hyperbol để biểu thị sự phân bố N/D
1,3
của rừng chặt chọn.
Schiffel biểu thị đường cong phân bố phần trăm ( %) cộng dồn bằng đa
thức bậc 3. Naslund đã xác lập luật phân bố Charlier đối với sự phân bố số
cây theo đường kính của lâm phần thuần loại đều tuổi đã khép tán.
Rollet.B (1971) đã mô tả phân bố số cây theo đường kính (N/D
1,3
) bằng
các dạng phân bố xác suất. Weibull đã sử dụng dạng hàm Hyperbol để mô
hình hóa cấu trúc đường kính loài Thông. Balley (1973) đã dùng hàm Weibull
để mô hình hóa đường kính với số cây N/D
1,3
. Nhiều tác giả khác cũng sử
dụng hàm Weibull để mô hình hoá quy luật phân bố đường kính loài Thông
theo mô hình của Schumacher và Coil (Belly, 1973). Bên cạnh đó các dạng
hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson, Poisson, cũng được sử dụng để
mô hình hoá cấu trúc rừng. (dẫn theo Trần Văn Con, 2001) [8].
Một trong những quy luật cơ bản và quan trọng trong nghiên cứu cấu
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh
thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những
loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, dưới tán rừng, chỗ trống trong
rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy. Vai trò lịch sử của lớp
cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo
nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng
10
cây gỗ. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác
định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây tái sinh, đặc điểm
phân bố.
Tái sinh rừng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, duy trì
và phát triển của thảm thực vật rừng. Do vậy nghiên cứu về tái sinh rừng đã
được nhiều tác giả trên thế giới thực hiện. Davis và Richards (1933-1934)
nghiên cứu rừng mưa ở khu vực sông Moraballi, Guyana, đã thống kê số cây
thứ tự từ thấp đến cao, trước hết là số cây non dưới 2 m, tiếp đến là số cây
non có đường kính dưới 10 cm và chiều cao trên 4,6 m, sau đó mới đến số cây
gỗ có đường kính trên 10 cm với cở đường kính 10 cm. Cây tái sinh được
thống kê từ dưới 2 m đến chiều cao 4,6 m, với đường kính dưới 10 cm. Tác
giả Aubre’ville (1993) đã thống kê lớp cây non gồm những cây thuộc cấp
đường kính nhỏ hơn 10 cm (Richards P.W, 1970).
George N. Baur. (1979) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh
hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của
cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh
hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh.
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào
làm sáng tỏ việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Đó là cơ sở để
xây dựng các phương thức xử lý lâm sinh hợp lý.
* Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật
Lĩnh vực nghiên cứu này có một số tác giả tiêu biểu sau:
Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ
nhiệt đới đa dạng và rất phức tạp, sự phát sinh và phát triển của nó gắn liền
với điều kiện tự nhiên ở từng vùng địa lý. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu làm
cơ sở cho việc phân tích và đề xuất các giải pháp tác động phù hợp; đặc biệt
đối với rừng hỗn loài thường xanh và nửa rụng lá sau khai thác.
12
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về sinh thái và cấu trúc rừng
Nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam từ những năm đầu
của thế kỷ XX đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm thực hiện
nhằm qua đó tìm kiếm được các biện quản lý và sử dụng rừng phù hợp. Các
tác giả của những công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này phải kể đến tên tuổi
của các nhà khoa học lâm nghiệp Việt Nam như Thái Văn Trừng, Lê Viết
Lộc, Trần Ngũ Phương, Đồng Sĩ Hiền, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Ngọc
Lung… và nhiều tác giả khác cũng như các đóng góp của một số đề tài nghiên
cứu sinh về lĩnh vực này.
Rừng tự nhiên ở nước ta thuộc kiểu rừng nhiệt đới, rất phong phú và đa
dạng về thành phần loài, phức tạp về cấu trúc. Do đó việc nghiên cứu cấu trúc
là cơ sở cho việc định hướng phát triển rừng và đề ra biện pháp lâm sinh hợp
lý.
Lê Viết Lộc (1964) cùng với các cộng tác viên đã nghiên cứu sơ bộ cấu
trúc rừng để điều tra các loài cây ưu thế. Ông đã dùng một số chỉ tiêu khác
ngoài số lượng cá thể cây như chiều cao, tiết diện ngang… để tính toán độ ưu
thế của loài trên diện tích điều tra. Đồng thời cũng đề ra một số chỉ tiêu và
tiêu chuẩn để phân biệt “loại hình ưu thế” trong kiểu rừng kín thường xanh
mưa ẩm nhiệt đới ở vườn Quốc gia Cúc Phương. (theo Thái Văn Trừng,
1978) [39].
Trần Ngũ Phương (1970) [28] trong tác phẩm “Bước đầu nghiên cứu
rừng miền Bắc Việt Nam” đã nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng tự
nhiên để làm căn cứ phân loại thảm thực vật rừng ở Bắc Việt Nam. Nhân tố
cấu trúc đầu tiên mà tác giả nghiên cứu là sự thay đổi về tổ thành loài cây ở
(IV%) theo phương pháp của Daniel Marmillod thường được các nhà khoa
học vận dụng trong nghiên cứu cấu trúc.
Trên cơ sở phương pháp phân tích định tính dựa vào tổ thành ưu thế
các loài tham gia lập quần và tầng ưu thế sinh thái và phương pháp sinh thái
định lượng của M. Gounot (1965), Bùi Đoàn (2001) đã phân chia các nhóm
sinh thái phục vụ công tác điều chế rừng lá rộng thường xanh ở Kon Hà
14
Nừng. Tuy nhiên phương pháp này phức tạp trong tính toán và khó áp dụng.
(theo Nguyễn Thành Mến, 2004) [20].
Đào Công Khanh (1996) đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu
trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn (Hà Tĩnh) làm cơ sở đề xuất một
số biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng. Nguyễn Thị
Kim Anh (1998) đã tiến hành nghiên cứu đăc điểm cấu trúc trạng thái rừng
IIIA
2
làm cơ sở cho việc điều chế rừng tại lâm trường Bù Đăng, huyện Bù
Đăng, tỉnh Bình Phước. Nguyễn Anh Dũng (2000) đã tiến hành nghiên cứu
một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng IIA và IIIA
1
ở
lâm trường Sông Đà, Hòa Bình.
Về nghiên cứu định lượng cấu trúc, việc mô hình hóa cấu trúc đường
kính D
1,3
được nhiều tác giả nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng hàm
phân bố xác suất khác nhau.
Đồng Sĩ Hiền (1974) [14] dùng hàm phân bố Meyer và hệ đường cong
Poisson và Pearson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính
cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam
Nguyễn Văn Trương (1983) [40] đã thử nghiệm dùng các hàm mũ,
), gồm những loài tiên phong ưa sáng và mọc nhanh. Đối với trạng
thái rừng IIB, tổ thành loài phong phú đa dạng hơn gồm những loài nửa chịu
bóng và cả những loài ưa sáng.
Phùng Đình Trung (2007) khi nghiên cứu và so sánh một số đặc điểm
về cấu trúc và đa dạng loài của các trạng thái rừng giàu ở Bắc và Nam đèo
Hải Vân đã dựa vào chỉ số IV (%) để phân chia loại hình xã hợp thực vật ở 2
khu vực và đã xác định cả 2 khu vực đều có 4 loài cây có trị số IV% lớn hơn
5%. Dựa vào độ đo của Sorensen để so sánh sự khác biệt về loài trong nhóm
loài cây ưu thế ở 2 khu vực và khẳng định có sự khác biệt về nhóm loài cây
ưu thế ở hai khu vực Bắc và Nam đèo Hải Vân. (dẫn theo Nguyễn Thành
Mến, 2004) [20].
16
Nhìn chung các nghiên cứu về cấu trúc tổ thành quần xã thực vật tương
đối nhiều, tương đối tập trung vào rừng lá rộng thường xanh. Tuy nhiên, các
nghiên cứu cấu trúc quần xã thực vật theo các đai độ cao còn ít và chưa tập
trung để giải quyết vấn đề đang đặt ra là tìm các giải pháp để bảo tồn và phát
triển rừng bền vững, đặc biệt là tại khu vực tỉnh Bình Thuận.
1.2.2. Về nghiên cứu tái sinh rừng
Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt
đới nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người
nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều.
Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch
rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ
sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn
(1969). Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu
(1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết
thành qui luật tái sinh cho từng loại rừng thì còn rất ít.
Vũ Tiến Hinh (1991) [15] nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng
tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét: Hệ
phương pháp thể hiện sự tiến bộ trong nghiên cứu các quy luật sinh học. Rừng
tự nhiên lá rộng thường xanh ở Việt Nam có diện tích lớn, bị tác động bởi
nhiều yếu tố ngoại cảnh, nhất là tác động của con người. Quá trình phục hồi
phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và đã hình thành nhiều quần thể thực
vật khác nhau. Muốn đề xuất được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác,
đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc, tái sinh rừng một cách đầy đủ và phải đứng
trên quan điểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học.
18
Các nghiên cứu về cấu trúc ngày càng thiên từ lý thuyết sang ứng dụng
thực tế. Cũng chính từ việc đề cao ứng dụng thực tiễn mà những nghiên cứu
đó đã đề cập đến nhiều khía cạnh phong phú như cấu trúc tổ thành, cấu trúc
theo chiều thẳng đứng, cấu trúc theo chiều nằm ngang. Phần lớn các tác giả đã
chú ý đến việc lựa chọn mô hình lý thuyết thích hợp để mô tả các đặc điểm
của cấu trúc rừng như đã nêu ở trên. Trong đó cấu trúc N/D được quan tâm
hàng đầu và sau đó đến cấu trúc N/H. Từ mô hình lý thuyết thích hợp, các tác
giả bằng nhiều phương pháp khác nhau đã xây dựng mô hình cấu trúc mẫu
làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp lâm sinh phù hợp với từng điều kiện và
mục tiêu cụ thể. Theo hướng đó, đề tài cũng sẽ thử nghiệm mô phỏng phân
bố N/D và N/H bằng các dạng hàm phân bố như Weibull, Meyer và phân bố
khoảng cách như các tác giả đi trước, nhằm tìm ra hàm phân bố phù hợp nhất
để mô tả phân bố đường kính và chiều cao cho loại hình rừng tự nhiên tại khu
vực nghiên cứu.
Mặc dù các kết quả nghiên cứu rất phong phú và đa dạng, nhưng những
công trình đề cập ở trên sẽ là những định hướng quan trọng cho việc giải
quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài. Qua đó, tác giả mong muốn kết quả
nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp một phần cơ sở lý luận về cấu trúc rừng
quần xã thực vật rừng tại các đai độ cao khác nhau nhằm đề xuất các giải
pháp quản lý, tác động, làm giàu rừng tự nhiên theo đúng quy luật phát triển
tự nhiên của đối tượng nghiên cứu tại Ban quản lý rừng phòng hộ Trị An,
huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận cũng như khu vực có điều kiện tương tự.
- Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình, tư liệu về điều kiện tự nhiên,
điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội: dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập
quán canh tác. Khí hậu, thuỷ văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng
2.3.2. Điều tra ngoại nghiệp
- Điều tra sơ thám: Với mục đích nắm được một cách tổng quát đối
tượng nghiên cứu để bổ sung kịp thời các thông số kỹ thuật đã định ra ở phần
chuẩn bị.
- Điều tra tỉ mỉ: Tiến hành lập ô tiêu chuẩn theo phương pháp ô mẫu
điển hình, ô tiêu chuẩn thiết lập mang tính đại diện cho quần xã thực vật tại
các độ cao: < 700m, 900 và trên 1000m.
- Phân chia các đai độ cao cần nghiên cứu. Ở Việt Nam, hiện nay có
nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia đai độ cao, mỗi tác giả đều theo
một quan điểm, cơ sở khác nhau, do đó kết quả có sự chênh lệch. Mặt khác
không có một ranh giới chuẩn mực nào về thảm thực vật cũng như các điều
kiện tự nhiên khác ở bất kỳ một khu vực nào để có thể nhận ra được đó là
ranh giới giữa các đai cao. Do đó những phân chia của các tác giả đều mang
tính tổng quát.
Căn cứ để phân chia các đai độ cao này được dựa trên các điều kiện tự
nhiên thực tế và hiện trạng của các trạng thái rừng trong khu vực và độ cao
tương đối của địa hình. Phần lớn các trạng thái rừng ở độ cao từ 700 mét trở
xuống là những quần xã rừng kín nhiệt đới thường xanh và đã bị tác động. Từ
độ cao 700 mét đến dưới 900 mét là trạng thái rừng có tính chuyển tiếp giữa
vành đai nhiệt đới và á nhiệt đới núi cao theo hệ thống phân chia của Thái
Văn Trừng (1998) [38], phần lớn rừng ở đây chưa hoặc ít bị tác động. Rừng ở
đai cao trên 1000 mét được xác định là những quần xã còn giữ được cấu trúc
21
nguyên sinh, có ngoại mạo khác so với các quần xã vùng thấp (về chiều cao
chung và mật độ) và bắt đầu có những loài cây á nhiệt đới điển hình xuất hiện
(một số loài lá kim núi cao).
Để xác định chính xác những độ cao cần nghiên cứu, trước hết sử dụng
và Nam - Bắc với độ chính xác 0,1 m, sau đó lấy giá trị trung bình.
22
- Đo chiều cao vút ngọn từng cây (H
vn
) bằng thước đo cao
HAGA/SUUNTO với sai số cho phép 0,5 m.
- Đánh giá phẩm chất của tất cả các cây đo đếm, phẩm chất cây được
chia làm 3 cấp:
+ Phẩm chất a: cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng đều, tán lá cân đối, không
sâu bệnh, thân không bị rỗng mục.
+ Phẩm chất b: là những cây có thân hơi cong, nhiều thân, tán lệch
hoặc có khuyết tật nhỏ như u, bướu… nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả
năng sinh trưởng của cây, cây có giá trị sử dụng gỗ.
+ Phẩm chất c: là những cây gỗ bị gãy đổ, cụt ngọn, rỗng ruột, mục,
sinh trưởng không bình thường, hầu hết là không có giá trị lợi dụng gỗ.
* Mô tả hiện trạng tái sinh dưới tán rừng. Cây tái sinh được đo đếm trong
ô tiêu chuẩn. Mỗi ô tiêu chuẩn bố trí 4 ô dạng bản với diện tích 25m
2
(5mx5m).
Những ô dạng bản này được bố trí ở 4 góc của ÔTC theo sơ đồ sau:
20/40m
50m
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí ô dạng bản điều tra tái sinh
Trong các ô dạng bản được thiết lập, tiến hành đo đếm các cây tái sinh
có đường kính nhỏ hơn 8 cm. Nội dung thu thập trong ô dạng bản bao gồm:
+ Tên loài cây tái sinh
+ Số lượng cây tái sinh thống kê theo từng loài.
5x5 mét
23
%: Important Value) theo phương pháp Thái Văn Trừng (1978) [38] đã áp
dụng.
3
%%%
%IV
i
GiMiNi ++
=
[2-1]
Trong đó:
IVi% là tỷ lệ tổ thành (chỉ số quan trọng: Important Value) của loài i
Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng
Mi% là % theo trữ lượng của loài i trong QXTV rừng
Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng
Theo Daniel M., những loài cây có IV% ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa
về mặt sinh thái trong lâm phần. Theo Thái Văn Trừng (1978), [38] trong một
lâm phần nhóm loài cây nào đó ≥ 40% tổng số cá thể của tầng cây cao thì
nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế. Cần tính tổng IV% của những loài
có trị số này lớn hơn 5%, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV% đạt
40 - 50%.
Độ hỗn giao là chỉ số loài trên tổng số cây, nó thể hiện sự thuần nhất
của lâm phần. Khi thành phần loài càng cao thì tỷ lệ này càng thấp và tiến đến
0 và ngược lại. Độ hỗn giao được tính bằng công thức sau:
K =
N
X
[2-2]
Trong đó:
X: tổng số loài
N: tổng số cây
2
)
- Độ tàn che:
Độ tàn che (ký hiệu: C) được tính bằng tỷ lệ phần mười diện tích hình
chiếu nằm ngang của tán rừng (S
t
, m
2
) trên mặt phẳng nằm ngang của lô đất
có rừng (S, m
2
), lúc đó:
C = S
t
/S [2-5]
2.3.3.3. Nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm phần: