VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ NGỌC THỦY
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG GIẢM NGHÈO
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
2 XÃ LA NGÂU VÀ MĂNG TỐ, HUYỆN TÁNH LINH,
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ NGỌC THỦY
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG GIẢM NGHÈO
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
2 XÃ LA NGÂU VÀ MĂNG TỐ, HUYỆN TÁNH LINH,
TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành : CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số
: 60.90.01.01
NGÂU VÀ MĂNG TỐ, HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN ............33
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu .....................................................................33
2.2. Thực trạng phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc
thiểu số ...............................................................................................................36
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng trong công tác
giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số tại 2 xã La Ngâu và Măng Tố, huyện
Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận ...............................................................................46
Chương 3. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN
CỘNG ĐỒNG TRONG CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN 2 XÃ LA NGÂU VÀ MĂNG TỐ,
HUYỆN TÁNH LINH .................................................................................... 58
3.1. Biện pháp nâng cao vai trò của phát triển cộng đồng trong công tác
giảm nghèo ............................................................................................. 58
3.2. Biện pháp về chính sách xóa đói giảm nghèo .............................................64
3.3. Biện pháp xây dựng đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực giảm nghèo ........................................................................66
3.4. Biện pháp tăng cường sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và chính quyền về
các hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo ........................67
3.5. Biện pháp nâng cao năng lực cho người dân tộc thiểu số ...........................69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................74
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH
Công tác xã hội
DTTS
thu nhập cao, đời sống được bảo đảm bởi hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng, các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục tương đối khá. Người dân tại các cộng
đồng này có nhiều cơ hội phát triển, được phát huy khả năng và được bảo vệ thông
qua mạng lưới an sinh xã hội an toàn, bền vững. Tuy nhiên, sự phân hóa ngay trong
quá trình phát triển cũng làm xuất hiện những cộng đồng dân cư nghèo, các nhóm
yếu thế tại vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cùng một
bộ phận dân cư ngay trong lòng các đô thị phát triển. Cộng đồng nghèo thường gắn
liền với các đặc điểm: Cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém; kinh tế
không phát triển; nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đáp ứng đầy đủ; thiếu cơ
hội tiếp cận khoa học – kỹ thuật, tâm lý thiếu tự tin hoặc trông chờ, ỷ lại vào Nhà
nước và không được tham gia vào các quá trình ra quyết định.
Chính vì vậy, việc giúp đỡ, phát triển các cộng đồng nghèo là hết sức cần
thiết và việc lựa chọn các phương pháp phù hợp để phát triển cộng đồng có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn to lớn.
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng
trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác
như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở
nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm
cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua. Đó là phương pháp giải
quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát
triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc
nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người
dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong
phạm vi một cộng đồng.
1
Tánh Linh là một huyện miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao nằm ở phía Tây Nam
của tỉnh Bình Thuận. Hiện nay, dân số huyện Tánh Linh là 104.510 người, trong đó
2.1.
M t số nghiên cứu ở nước ngoài
Trong thời gian qua đã có rất nhiều nghiên cứu về phát triển cộng đồng đối
với công tác giảm nghèo với nhiều góc độ và cách nhìn nhận khác nhau. Điển hình
là nghiên cứu của 2 tác giả John McKnight và Jody Kretzmann tại Viện Nghiên cứu
2
chính sách tại Đại học Northwestern. Trong cuốn sách đồng tác giả của họ phát
hành vào năm 1993, “Xây dựng cộng đồng từ trong ra ngoài”, họ đã phác thảo một
cách tiếp cận thay thế cho phương pháp tiếp cận dựa trên nhu cầu sử dụng bởi các
cộng đồng nghèo. Quá trình này trao quyền cho cộng đồng để tập hợp sức mạnh của
người dân vào các kết hợp mới, cấu trúc mới của cơ hội, nguồn thu nhập mới, kiểm
soát, và thấy được khả năng mới trong quá trình sản xuất [4,123].
Các chương trình phát huy nội lực của cộng đồng đã được tìm hiểu và bắt
đầu vận dụng từ năm 1993 ở Savannah, Grudia, rồi sau đó lan rộng đến Chicago,
Canada, Brazil, Ecuador, Mexico, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Ethiopia,
Botswana... Với sự trợ giúp của Quỹ Ford, công việc gây dựng tài sản ở một số nơi
đã giúp giảm nghèo khổ và bất công, với hàng loạt các chiến lược cải thiện điều
kiện gây dựng tài sản và trực tiếp tham gia gây dựng tài sản cho nhiều người và
nhiều cộng đồng có thu nhập thấp.
Một số trường hợp dưới đây minh hoạ được khả năng của những con người
và những tổ chức đã làm nên những khác biệt lớn trong việc tạo dựng, phân phối và
sử dụng những tài sản then chốt của cộng đồng, trong mục tiêu giảm bớt nghèo khổ
và bất công.
Trường hợp 1: Ở Braxin, là câu chuyện của vùng rừng mưa và chính quyền
bang Acre xây dựng năng lực bảo vệ và phát huy tài nguyên thiên nhiên vì sự phát
Thông qua các câu chuyện minh họa trên cho thấy phát triển cộng đồng có
thể được ứng dụng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau đem lại những thành công và
lợi ích khác nhau cho mỗi cộng đồng. Đó là một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực của các
thành viên cùng tham gia, cùng hợp tác để tạo ra sự thay đổi.
2.2.
Một số nghiên cứu trong nước
Một số nghiên cứu của tác giả Hoàng Anh Dũng (2013) Phát triển cộng đồng
dựa vào nguồn lực và tài sản cộng đồng, đã làm nổi bật phát triển cộng đồng được
xem như là một trong những lựa chọn các phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu để
phát triển. Chìa khóa của phát triển cộng đồng dựa vào sự kết nối cộng đồng (cá
nhân, tổ chức, hội, …) chứ không phải được thúc đẩy bởi những ảnh hưởng bên
ngoài. Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ rõ quy trình được tiến hành qua 6 bước. Tác giả
Võ Hoàng Yến (2007), “Xây dựng nội lực của cộng đồng”, cũng đề cập đến ảnh
hưởng và vai trò của việc xây dựng nội lực của cộng đồng. Tác giả Thúy Hằng
4
(2014) cũng có bài viết “Xây dựng nông thôn mới bằng nội lực và tinh thần cộng
đồng” tại xã Đông Phong - Cao Phong - Hòa Bình. Tính đến tháng 8, xã đã đạt được
12 tiêu chí xây dựng nông thôn mới dựa trên việc huy động nội lực trong cộng
đồng, đứng thứ 2 trong phong trào xây dựng nông thôn mới của huyện.
Cũng đã có nhiều chương trình tập huấn phương pháp tiếp cận dựa vào nội
lực để phát triển cộng đồng được thực hiện tại các địa phương như: Dự án Phe của
Đại học An Giang tập huấn phương pháp tiếp cận dựa vào nội lực để phát triển cộng
đồng cho sinh viên thiệt thòi trường Đại học An Giang; Trung tâm GreenViet tập
huấn phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nội lực và do người dân làm chủ
cho các thành viên của họ; Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên
triển cộng đồng trong giảm nghèo mang tính công tác xã hội hơn.
3.2. N ệm vụ n
ên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về phát triển cộng đồng trong công tác
giảm nghèo.
Tìm hiểu thực trạng phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo
đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn 2 xã La Ngâu và Măng Tố, huyện Tánh
Linh, tỉnh Bình Thuận.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển cộng đồng trong
công tác giảm nghèo từ thực tiễn 2 xã La Ngâu và Măng Tố, huyện Tánh Linh, tỉnh
Bình Thuận.
4. Đối tư ng, h ch thể, ph m vi nghiên cứu
4.1. Đố tượn n
ên cứu
Các hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo.
4.2. K
c t
p luận
Với đề tài này chúng tôi sử dụng một số thuyết để phục vụ cho việc nghiên
cứu. Các thuyết đó là: Lý thuyết hệ thống sinh thái; Lý thuyết vai trò; Lý thuyết nhu
cầu của Abraham Maslow; Thuyết tiếp cận dựa trên thế mạnh trong trợ giúp giải
6
quyết vấn đề. Việc sử dụng các thuyết trên vào trong nghiên cứu nhằm giúp chúng
ta có cơ sở, hiểu sâu hơn về tâm, sinh lý, quá trình phát triển của con người cũng
như những yếu tố có thể ảnh hưởng, tác động tích cực, tiêu cực tới quá trình giảm
nghèo tại địa phương.
5.2.
ươn p
pn
ên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Thông qua thu thập thông tin, tổng hợp tài
liệu, phân loại, xử lý số liệu, xử lý văn bản, phân tích các tài liệu có nội dung liên
quan đến đề tài nghiên cứu thông qua sách báo, tài liệu, tạp chí, internet, các thông
tin sẵn có về cộng đồng được thu thập từ các số liệu của Ủy ban nhân dân huyện,
báo cáo tổng kết hàng năm của ban lãnh đạo xã,…; các báo cáo, các văn bản pháp
luật để tìm hiểu các số liệu cụ thể phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: nghiên cứu thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu
với các cá nhân tại xã La Ngâu và Măng Tố bao gồm những người có kinh nghiệm,
lớn tuổi, những người nằm trong ban lãnh đạo, có tiếng nói, có ảnh hưởng tích cực
thông tin cho những người nghiên cứu tiếp theo về tình hình tổ chức thực hiện chính
sách giảm nghèo tại huyện Tánh Linh nói riêng và các địa phương còn lại của tỉnh
Bình Thuận nói chung.
Góp phần nâng cao hiệu quả trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động, ban
hành chính sách, nâng cao hiệu quả trong quá trình làm việc với cộng đồng tại địa
phương và có thể nhân rộng mô hình ở các địa phương khác trên địa bàn huyện, tỉnh.
Từ đề tài này, chính quyền địa phương các cấp sẽ nhìn nhận được việc lựa
chọn áp dụng một mô hình, dự án hỗ trợ cho người dân nghèo nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động các chương trình giảm nghèo.
Đề xuất một số giải pháp thiết thực đối với tỉnh Bình Thuận, Ban chỉ đạo
giảm nghèo của tỉnh trong việc tổ chức thực hiện chính sách, chương trình Mục tiêu
quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016- 2020 của tỉnh Bình Thuận.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Luận
văn gồm:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về phát triển cộng đồng trong giảm nghèo
đối với người dân tộc thiểu số
Chương 2. Thực trạng phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo đối
với người dân tộc thiểu số tại 2 xã La Ngâu và Măng Tố, huyện Tánh Linh, tỉnh
Bình Thuận.
Chương 3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả phát triển cộng đồng trong
công tác giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn 2 xã La Ngâu và
Măng Tố, huyện Tánh Linh, tỉnh Bỉnh Thuận.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG
Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc
(nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và
phát triển hơn trong lịch sử). Cũng có tình hình là những người cùng một dân tộc
nhưng sống phân tán ở những quốc gia khác nhau. Trong lịch sử, các dân tộc hình
thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình
độ phát triển. Đã có tình hình nhiều dân tộc tự phát liên kết với nhau, hoà nhập vào
nhau hoặc đồng hoá, thôn tính lẫn nhau. Xu thế lịch sử của dân tộc là cần có nhà
nước để bảo vệ lãnh thổ của mình. Ý thức về chủ quyền lãnh thổ phát triển thành ý
thức quốc gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước. Bản thân nhà nước, đến lượt nó, lại
có tác động trở lại củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong
biên giới của mình. Bộ máy nhà nước trung ương tập quyền của nhà Tần ở Trung
Quốc chẳng hạn, khi ban hành những pháp luật thống nhất trong cả nước, bắt mọi
người cùng viết một kiểu chữ, cùng đi một cỡ xe (thư đồng văn, xa đồng quỹ) đã
đẩy nhanh sự cố kết của dân tộc Hán ngay từ trước Công nguyên [34].
- Khái niệm dân tộc thiểu số: Theo quy định tại Nghị định số 05/2011/NĐCP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc: “Dân tộc thiểu số là những
dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
- Khái niệm Người dân tộc thiểu số: Theo quy định tại Nghị định số
05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc thì dân tộc
thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt: là những dân tộc có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn theo 3 tiêu chí:
+ Tỷ lệ hộ nghèo trong đơn vị thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ
nghèo cả nước.
+ Các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khỏe cộng đồng và chất
lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình chung của cả nước.
+ Cơ sở hạ tầng thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục
vụ đời sống dân cư.
n ệm
1.2.1.1. Khái niệm nghèo và các vấn đề có liên quan
* Theo quan điểm của Thế giới
“Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế – xã hội , phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục
ấy được xã hội thừa nhận” [Hội nghị về chống đói do ủy ban kinh tế–xã hội khu vực
Châu Á –Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại BangKok, Thái Lan 9/1993].
11
Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith quan niệm: “Con người bị coi là nghèo khổ
khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt
dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong
cộng đồng coi như các cần thiết tối thiểu để sống một cảnh đúng mức”
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tại Copenhagen (Đan
Mạch), 1995 đưa ra định nghĩa nghèo đói cụ thể hơn: “Người nghèo là tất cả những
ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi
như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [10].
Ngoài ra Liên hiệp quốc cũng phân nghèo thành hai loại:
- Nghèo tuyệt ối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống hằng ngày như ăn, mặc, nhà ở, nước uống,
vệ sinh, y tế, giáo dục và sự tham gia vào các quyết định của cộng đồng.
-N
èo tươn
ối: Là những hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn
mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao.
- Giảm nghèo bền vững là sự bảo đảm hay duy trì kết quả giảm nghèo một
cách lâu dài, bền vững hay nói cách khác giảm nghèo bền vững là tình trạng đạt
được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản/mức thu nhập cao hơn mức chuẩn và
duy trì được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản/mức thu nhập trên mức chuẩn đó
ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể được hiểu
với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững, hay không bị tái nghèo.
1.2.1.3. Phát triển cộng đồng
Theo quan điểm của chính phủ Anh, khái niệm phát triển cộng đồng được
sử dụng lần đầu tiên năm 1940: “PTCĐ là một chiến lược phát triển nhằm vận động
sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị nhằm phối hợp cùng những
nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng
đồng” [24, tr.35].
Theo Murray G.Ross (1955): “PTCĐ là một diễn tiến qua đó cộng đồng
nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng; biết sắp xếp ưu tiên các
nhu cầu vì mục tiêu này; phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng; biết tìm đến
tài nguyên bên trong và ngoài cộng đồng để đáp ứng chúng thông qua đó sẽ phát
huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong cộng đồng” [24, tr.45].
13
Liên hiệp quốc (1956) cũng đưa ra định nghĩa: “PTCĐ là một tiến trình qua
đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều
kiện kinh tế xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp cộng đồng này hội nhập và
đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia” [16, tr.21].
Theo Nguyễn Thị Oanh (1995): “PTCĐ là một tiến trình làm chuyển biến
cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây
nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên
sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự
thảm họa do thiên tai, phát triển các cơ sở kinh doanh sản xuất.
- Giáo dục cộng đồng: giúp trang bị các kiến thức, sự hiểu biết và kỹ năng
làm việc, lao động cho người dân.
- Tổ chức cộng đồng: củng cố các tổ chức có sẵn như các đoàn thể, tổ chức
chính trị, xã hội tại cộng đồng; thành lập các nhóm nhỏ, nhóm mới hoặc câu lạc bộ;
tổ chức các ngành nghề như các tổ sản xuất, câu lạc bộ nghề nghiệp trong cộng
đồng; mở rộng liên kết với các nhóm khác, tiến đến lập hiệp hội, hợp tác xã,…
Ba lĩnh vực trong nội dung phát triển cộng đồng được dùng như điểm xuất
phát của một dự án. Các dự án phát triển cộng đồng được tiến hành tùy theo lĩnh
vực chuyên môn của các tổ chức phát triển và nhu cầu của cộng đồng.
1.2.1.4. Phát triển cộng đồng trong giảm nghèo
Từ các khái niệm về giảm nghèo và phát triển cộng đồng đã phân tích ở trên,
chúng ta có hiểu phát triển cộng đồng trong giảm nghèo là tổng thể các biện pháp
chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện
nghèo đói, thông qua một chuỗi những hoạt động tác động tích cực lên một cộng
đồng dân cư, khiến cho cộng đồng đó nhận thức về vấn đề của mình, phát huy khả
năng và tiến đến tự lực, tự vận động theo chiều hướng đi lên về chất lượng cuộc
sống,, nhằm tạo điều kiện cho họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu
nhập, không đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy
định theo từng địa phương, khu vực, quốc gia
1.2.1.5. Phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số
là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những
đối tượng thuộc những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi
lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua một chuỗi những hoạt
15
động tác động tích cực lên một cộng đồng của họ, khiến cho cộng đồng đó nhận thức
về vấn đề của mình, phát huy khả năng và tiến đến tự lực, tự vận động theo chiều
rằng quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng, bảo vệ trong mọi
xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.
16
Quyền con người có các tính chất cơ bản là: tính phổ biến, tính không thể chuyển
nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau [18, tr.41].
Quyền con người bao gồm: quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do đi
lại, tự do tôn giáo, tự do lập hội,...các quyền về sức khỏe, quyền giáo dục, quyền về
nhà ở và quyền về bảo trợ xã hội.
Vận dụng lý thuyết về quyền con người trong phát triển cộng đồng:
Tiếp cận dựa trên thuyết về quyền con người nhằm hướng đến việc cải thiện
hoàn cảnh của cộng đồng, tập trung vào nhu cầu và tiềm năng vốn có của họ. Nói
cách khác, tiếp cận dựa trên quyền quan tâm đến những vấn đề được xem là quan
trọng nhất đối với sự phát triển của con người nói chung và người dân trong cộng
đồng nói riêng như thực phẩm, nước, y tế, nhà ở,...
Với cách tiếp cận này, tác viên PTCĐ là người thực hiện vai trò biện hộ cho
người dân trong cộng đồng, ngay cả khi họ đã nhận thức được hoặc chưa nhận thức
được những quyền của mình. Đồng thời, tác viên PTCĐ cần trao quyền cho người
dân để họ thực hiện các quyền đó.
Cách tiếp cận dựa trên quyền lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền
của con người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ. Với cách tiếp cận theo quyền, tác
viên PTCĐ khi làm việc với cộng đồng cần dựa trên hệ thống quyền của họ để xây
dựng các phương pháp và hoạt động trợ giúp. Như vậy, nguyên tắc về quyền con
người là một trong những nguyên tắc đóng vai trò nền tảng trong PTCĐ.
1.2.2.2. Lý thuyết hệ thống sinh thái
Hệ thống là một tập hợp các phần tử khác nhau, giữa chúng có mối liên hệ và
tác động qua lại theo một quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể, có khả năng
thực hiện những chức năng cụ thể. Mỗi hệ thống bất kỳ nào đều có các thành tố:
vụ của nhân viên CTXH là tìm ra các hệ thống bên trong và bên ngoài cộng đồng để
có thể có cái nhìn đầy đủ về tiềm năng cộng đồng. Ngoài ra áp dụng thuyết hệ thống
sinh thái sẽ giúp nhân viên CTXH:
- Sử dụng và phát huy tối đa khả năng của cộng đồng trong sự tương tác với
các hệ thống khác để giải quyết vấn đề.
- Xây dựng mối quan hệ giữa các đối tượng trong cộng đồng với các hệ
thống trợ giúp trong xã hội.
- Giúp tăng cường khả năng tương tác giữa cộng đồng và các hệ thống.
- Giúp phát triển và thay đổi hệ thống chính sách xã hội một cách phù hợp.
- Cung cấp trợ giúp thực tế khi cần thiết.
18
Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi nhận thấy việc tim kiếm
các tài sản/tiềm năng trong cộng đồng là một việc làm cần thiết. Trong cộng đồng
có rất nhiều tài sản/tiềm năng và nó chịu sự chi phối vởi các hệ thống khác nhau.
Cộng đồng xã La Ngâu, Măng Tố có rất nhiều hệ thống trong đó bao gồm các tiểu
hệ thống: cán bộ địa phương, người dân, những người có uy tín, các hội đoàn thể,
chính sách hỗ trợ, cơ sở vật chất, tài chính… Mặt khác, hệ thống xã La Ngâu, Măng
Tố cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống lớn hơn đó là huyện Tánh
Linh chịu sự chi phối của hệ thống này.
Bên cạnh đó, để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, ta phải nghiên cứu
cả hệ thống môi trường xung quanh họ. Vì vậy, bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ
một cá nhân hay một cộng đồng nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ
thống đó. Lý thuyết hệ thống sinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức
thực hiện trong công tác xã hội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát
triển cộng đồng.
1.2.2.3. Lý thuyết vai trò
Vai trò là khái niệm nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế