VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THỊ TÌNH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE
SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội
về “Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ
người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS. Phạm Hữu Nghị.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
3.1. Định hướng nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc
sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số .................................... 54
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức
khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số .......................................... 55
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 65
PHỤ LỤC ..................................................................................................................... 67
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Trình độ học vấn của phụ nữ người dân tộc thiểu số
Bảng 2: Sử dụng dịch vụ
Bảng 3: Dịch vụ sinh đẻ
Bảng 4: Dịch vụ kế hoạch hóa
Bảng 5: Dịch vụ khám phụ khoa
Bảng 6: Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
CTXH
Công tác xã hội
CSSKSS
nhằm phát triển nguồn lực con người, trong đó chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ
nữ vùng sâu, vùng xa luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và nhà nước ta
đã có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống, sức khỏe cho đồng bào các
dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa cũng như đẩy mạnh sự phát triển toàn diện
vùng miền núi, hải đảo.
Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em cả nước nói chung, cho
miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đề ưu tiên trong
chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Những nỗ lực trong việc triển khai các
chiến lược quốc gia cũng như các chương trình y tế đã đem lại những cơ hội khả
quan cho việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ. Tuy nhiên trong thực tế, không thể có
sự phát triển đồng đều giữa các vùng: miền xuôi và miền núi, nông thôn và thành
thị, hải đảo và đất liền.
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một trong những mục tiêu và là nội dung công
tác quan trọng của Ủy ban dân số Gia đình và Trẻ em của Tổng cục Dân số - Kế
hoạch hóa gia đình. Đối với chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc
sức khỏe sinh sản là một bộ phận tối quan trọng. Nó có vai trò quyết định tới sự
thành công hay thất bại của chiến lược quốc gia này.
Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, ở mỗi vùng và ở mỗi dân tộc khác nhau, công
tác dân số - kế hoạch hóa gia đình cũng khác nhau, kết quả thu được ở mỗi vùng,
mỗi tộc người cũng khác nhau.
1
Ở miền núi do điều kiên tự nhiên và xã hội có nhiều khó khăn như giao thông
đi lại khó khăn, các dịch vụ sức khỏe và thuốc men, trang thiết bị y tế còn thiếu, do
trình độ dân trí còn thấp (đặc biệt là phụ nữ) đã làm cho cơ hội chăm sóc sức khỏe
cho bà mẹ và trẻ em bị hạn chế. Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, có mức sinh cao và
phong tục tập quán lạc hậu là những nguyên nhân gây nên tình trạng tử vong của sản
trọng của chiến lược phát triển đất nước”, vấn đề này được coi như là một trong
những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng
cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.
Trong cuốn sách: “Phụ nữ, sức khỏe và môi trường” (Trung tâm nghiên cứu
Giới, gia đình và Môi trường trong phát triển) do nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất
bản năm 2001 đã tập trung nghiên cứu vào vấn đề mối liên quan điều kiện, môi trường
làm việc với sức khỏe lao động nữ, đặc biệt quan tâm nghiên cứu sức khỏe sinh sản của
phụ nữ, nghiên cứu nhận thức, thái độ, hành vi phòng ngừa bảo vệ sức khỏe nói chung,
sức khỏe sinh sản nói riêng của phụ nữ.
Một công trình nghiên cứu đáng chú ý là “Phân tích tình hình phụ nữ và trẻ em
của UNICEP” đã phản ánh tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam có ảnh hưởng đến hệ
thống chăm sóc sức khỏe và tình trạng sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Việt Nam.
Tại Hội nghị dân số thế giới Cario (Ai Cập) và hội nghị phụ nữ thế giới lần
thứ tư được tổ chức ở Bắc Kinh (Trung Quốc) các đại biểu của nhiều quốc gia đã
nhất trí cho rằng bình đẳng giới và vấn đề về sức khỏe sinh sản của phụ nữ có mối
liên hệ mật thiết với nhau. Đây là một trong những vấn đề then chốt để đánh giá
những tiến bộ của từng quốc gia đối với vấn đề phụ nữ.
Thông tư liên tịch số 07/2016/TTTLT-BYT-BTC-BLĐTBXH ngày
15/04/2016 QUY định chi tiết nghị định số 39/2015/NĐ-CP ngày 27/04/2015 của
Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc
thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số.
Từ những tài liệu trên, cũng đã đề cập các vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản
cho phụ nữ. Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với tôi trong quá trình thực
hiện luận văn. Tuy nhiên, những tài liệu trên chỉ nói về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh
sản cho phụ nữ nói chúng mà chưa nói đến vấn đề về dịch vụ công tác xã hội trong
chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số.
3
Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Đức Cơ,
tỉnh Gia Lai.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu vấn đề lý luận theo quan điểm hệ thống: nghiên cứu hệ thống
những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan
đến CTXH đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số, CTXH trong thực hiện dịch vụ
chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp là phương pháp nghiên cứu dựa trên
các tư liệu, các văn bản, các tác phẩm (sách, báo, công trình nghiên cứu,…) liên
quan nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để:
+ Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến dịch vụ
chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số.
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp chính quyền địa phương
có liên quan đến đề tài.
5.2.2. Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Đây là phương pháp dùng trong điều tra xã hội học thực nghiệm. Là phương
pháp có thể thu thập được một lượng thông tin lớn mang tính đại chúng trong quá
trình điều tra và thu thập thông tin.
Với đề tài này, tôi đã lập ra một bảng hỏi anket với các chỉ báo, các con số định
lượng để thu thập thông tin từ các chị em phụ nữ người dân tộc thiểu số.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin cụ thể của xã
hội học thông qua việc tác động vào tâm lí xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và
dân tộc thiểu số.
6
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được tham khảo đối với các cơ sở
nghiên cứu, đào tạo về công tác xã hội, đặc biệt là công tác xã hội trong lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài làm sáng tỏ thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức
khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số, qua đó có thể thấy được nhu
cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
người dân tộc thiểu số hiện nay.
Các kiến nghị của đề tài sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả dịch vụ
công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc
thiểu số.
7. Cơ cấu của luận văn
Nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc
sức khỏe đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh
sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số tại huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ công
tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
cơ bản ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của con người, ảnh
hưởng tới đời sống hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, sản xuất nòi giống của xã
hội. Không có sức khỏe thì không thể lao động có năng suất cao, ngược lại sức khỏe
phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nó là khái niệm tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia, đóng
góp của toàn xã hội và sự tham gia của bản thân mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng
nhất định. Mỗi cá nhân phải có kiến thức, hiểu biết để hành động và ứng xử hợp lí,
tạo ra sức khỏe cho bản thân và gia đình.
Tại Hội nghị Alma- Ata năm 1978 của Tổ chức Y tế thế giới đưa ra định
nghĩa về sức khỏe như sau:“Sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể
chất, tâm thần và xã hội biểu hiện không chỉ qua việc không mắc bệnh hoặc không
ốm yếu”.
Khái niệm về sức khỏe sinh sản
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai Cập) 1994 đã
đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau: “Sức khỏe sinh sản là một tình
trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên
quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không chỉ đơn thuần là
không có bệnh tật hoặc tàn phế trong bộ máy đó”. Điều này hàm ý là mọi người kể
cả nam và nữ đều có quyền nhận được thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe, các biện pháp KHHGĐ an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo
sự lựa chọn của họ đảm bảo cho phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo
cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh.
Cũng trong chương trình hành động của hội nghị đã nêu rõ: “SKSS là trạng
thái sung mãn hoàn toàn về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không có
bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan tới hệ thống, chức phận
và quá trình sinh sản”. Như thế, SKSS có nghĩa là mọi người có thể có cuộc sống’
tình dục an toàn hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định sinh con hay
không, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con.
Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản
9
tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ.
10
Theo thuyết nhu cầu của A.Maslow [14, tr.162], con người là một thực thể
sinh – tâm lí xã hội. Do đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống ( nhu cầu
về sinh học) và nhu cầu về xã hội. Theo đó, ông chia nhu cầu con người thành năm
thang bậc từ thấp đến cao:
Nhu cầu sống còn, nhu cầu an toàn, nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó, nhu
cầu được tôn trọng, nhu cầu được hoàn thiện.
Thuyết nhu cầu của A.Maslow làm căn cứ cho việc nhận định những nhu cầu
của con người nói chung. Tuy nhiên, đối với mỗi đối tượng cụ thể nhất là đối với
từng cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau, vì họ là những cá thể độc lập
với những đặc điểm riêng, nằm trong bối cảnh khác nhau.
Vận dụng lí thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu tôi tìm hiểu nhu
cầu của phụ nữ người dân tộc thiểu số về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc
sức khỏe sinh sản.
Xác định những nhu cầu đó như sau:
- Nhu cầu về thể chất:
Khám chữa bệnh: Khám và chữa bệnh liên quan đến bệnh phụ khoa.
Khám thai sản định kì.
Phòng chống lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục.
Được cung cấp đầy đủ các loại thuốc uống.
Các biện pháp kế hoạch hóa gia đình.
- Nhu cầu về tinh thần:
Được chia sẻ những khó khăn, căng thẳng trong cuộc sống hôn nhân vợ
chồng.
Chia sẻ, động viên trong quá trình sinh đẻ.
Được tư vấn về các biện pháp kế hoach hóa gia đình, tư vấn tâm lí cho các
Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân,
nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội [22].
Công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề chuyên môn thông qua các dịch vụ xã hội nhằm
giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội góp
phần đảm bảo nền an sinh xã hội [15].
12
Khái niệm dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản được xem như là tập hợp các phương
pháp tư vấn, kỹ thuật, dịch vụ tham gia vào bảo đảm sức khỏe sinh sản thông qua
phương pháp dự phòng và giải quyết các vấn đề sức khỏe sinh sản. Dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản còn bao hàm cả những vấn đề đảm bảo cuộc sống tình dục
lành mạnh, an toàn và hòa hợp. Hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh
sản được thực hiện ở các tuyến bao gồm 7 nội dung sau:
Về kế hoạch hóa gia đình: Thực hiện đa dạng hóa các biện pháp tránh thai,
cung cấp rộng rãi các biện pháp tránh thai mới, đồng thời cung cấp đầy đủ bao cao
su để kết hợp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả
HIV/AIDS.
Đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc các bà mẹ trước, trong và sau khi
sinh, chăm sóc sơ sinh trẻ em. Chú trọng chăm sóc sau sinh để giúp bà mẹ phòng
chống các bệnh tật sau sinh, hướng dẫn cách nuôi con, đồng thời tư vấn về
KHHGĐ.
Thực hành nạo phá thai an toàn, chăm sóc tư vấn sau phá thai xử lý tốt các 12
biến chứng nếu có.
Dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản thông thường,
các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS. Tổ chức các đội lưu động để
phát hiện và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, lây truyền qua đường
tiêu hàng đầu của các đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc, có như vậy thì chương
trình chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ hoàn thành được những mục tiêu cơ bản, không
những chỉ làm giảm tỷ lệ sinh, giảm tỷ lệ gia tăng dân số mà còn làm giảm được cả
tỷ lệ tử vong và bệnh tật do sinh sản gây ra, góp phần nâng cao sức khỏe phụ nữ.
Động viên vai trò của nam giới, tăng cường trao đổi ý kiến giữa nam và nữ
tạo ra bình đẳng về giới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội cũng như của gia
đình và cuộc sống cá nhân.
Như vậy, dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với
phụ nữ người dân tộc thiểu số được hiểu các dịch vụ có sử dụng các tri thức, kỹ
năng, phương pháp của công tác xã hội vào việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho
phụ nữ người dân tộc thiểu số trên cơ sở phù hợp với phong tục, tập quán, đặc điểm
14
dân tộc của phụ nữ từng vùng miền nhằm giúp đỡ họ phục hồi, tăng cường các
chức năng xã hội của mình, đáp ứng các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ.
1.2.2. Nguyên tắc dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh
sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số
Cũng như các ngành chuyên môn khác, trong dịch vụ công tác xã hội trong
chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số cũng có những
nguyên tắc hoạt động riêng của mình. Các nguyên tắc này định hướng các hoạt
động cho nhân viên xã hội trong quá trình giúp đỡ đối tượng được tốt hơn.
Cụ thể:
Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia giải quyết vấn đề
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của nhân viên xã
hội. Vấn đề khó khăn của đối tượng chỉ có thể được giải quyết khi có sự tham gia
của đối tượng. Vấn đề là của đối tượng, họ hiểu hoàn cảnh và khả năng của mình
hơn ai hết nếu được sự trợ giúp. Vì vậy, họ cần là người tham gia chủ yếu từ khâu
đánh giá vấn đề tới ra quyết định, lựa chọn giải pháp, thực hiện giải pháp cũng như
không chỉ ngành công tác xã hội sử dụng mà rất nhiều các ngành khác cũng sử
dụng. Nó thể hiện sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của đối tượng và không được
chia sẻ những thông tin của đối tượng với người khác khi chưa có sự đồng ý của đối
tượng. Đảm bảo tính riêng tư của trường hợp còn thể hiện ở việc bảo mật lưu trữ hồ
sơ. Khi tham vấn hay phỏng vấn cần đảm bảo không gian yên tĩnh và riêng tư cho
cuộc trò chuyện, nhân viên xã hội tránh trao đổi hay hỏi chuyện về những vấn đề
mang tính tế nhị của đối tượng ở những chỗ đông người.
Ngoài ra, còn có một số các nguyên tắc như sau: nguyên tắc chấp nhận thân
chủ, nguyên tắc lắng nghe…Các nguyên tắc này sẽ định hướng cho nhân viên xã
hội làm việc tốt hơn trong quá trình thực hiện dịch vụ công tác xã hội trong chăm
sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số.
1.2.3. Phương pháp dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh
sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số
Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ
người dân tộc thiểu số được triển khai dưới nhiều phương pháp khác nhau, đó là:
Phương pháp công tác xã hội cá nhân
16
Phương pháp công tác xã hội cá nhân là một trong những phương pháp được
áp dụng trong dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ
người dân tộc thiểu số. Đây là một trong những phương pháp được áp dụng rộng rãi
và phổ biến nhất trong quá trình thực hiện hoạt động.
Khái niệm: Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp chuyên nghiệp được
các nhân viên xã hội sử dụng trong qúa trình hỗ trợ cá nhân vượt qua khó khăn
trong việc thực hiện các chức năng xã hôi của họ thông qua mối quan hệ tương tác
một- một [12].
Trong quá trình triển khai dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số, thì phương pháp công tác xã hội cá
Công tác xã hội nhóm là một phương pháp của công tác xã hội nhằm trợ giúp các
thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường hoạt động tương tác, chia sẻ
những mối quan tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các hoạt động nhóm
để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết giải quyết những mục
đích của cá nhân thành viên.
Vai trò của công tác xã hội nhóm: Công tác xã hội nhóm có ý nghĩa vô cùng
quan trọng và tác dụng rất lớn trong hoạt động trợ giúp cá nhân, gia đình hay nhóm
đối tượng cần can thiệp. Nó không chỉ có ý nghĩa là phương pháp bổ sung cho các
phương pháp khác trong can thiệp của công tác xã hội mà còn là phương thức giúp
cho các cá nhân xây dựng và hoàn thiện nhân cách, tăng cường khả năng thích nghi
xã hội, tương tác nhóm và năng lực ứng phó với các vấn đề xã hội một cách hiệu
quả. Qua các hoạt động nhóm , giúp cho các thành viên nhóm được thỏa mãn nhu
cầu cá nhân của mình. Thông qua môi trường sinh hoạt nhóm, các thành viên nhóm
được đáp ứng nhu cầu giao tiếp nhóm.
Nhiệm vụ của công tác xã hội viên trong công tác xã hội nhóm đó là tạo môi
trường thuận lợi cho các thành viên trong nhóm có cơ hội được thể hiện tối đa tiềm
năng phát triển năng lực, được bộc lộ cảm xúc và diễn tả những tình cảm, suy tư
của mình. Giúp các thành viên hỗ trợ lẫn nhau và cùng giải quyết vấn đề. Giúp các
thành viên nhóm thay đổi thái độ, hành vi, cảm xúc của chính mình và hiểu được
người khác. Giúp các thành viên nhóm tăng cường sự gắn bó, chấp nhận nhau, tạo
18
sự tương tác giữa các thành viên, không khí thoải mái để thực hiện mục đích nhóm
đã đặt ra.
Phương pháp phát triển cộng đồng:
Phát triển cộng đồng là một quá trình chuyển biến xã hội trong cộng đồng mà
bà mẹ cho con đi tiêm chủng đúng lịch; vận động kế hoạch hoá gia đình; kết hợp
với trạm ytế xã quản lý SKTE theo các chương trình; quản lý sử dụng túi thuốc thôn
bản; huy động các phương tiện chuyển viện an toàn khi cần; báo cáo số liệu hàng
tháng cho trạm y tế theo quy định.
Về chuyên môn y tế, phát hiện xử trí ban đầu các trường hợp cấp cứu sản, nhi
thông thường, các tác dụng phụ của thuốc tránh thai và chuyển lên tuyến trên;
định kỳ thăm khám sản phụ và trẻ sơ sinh sau đẻ; hỗ trợ đỡ đẻ thường và đỡ đẻ rơi
trong các trường hợp không kịp đến trạm y tế, hướng dẫn và sử dụng gói đẻ sạch;
phối hợp hoạt động với các chương trình khi có yêu cầu; phân phối bao cao su và
thuốc tránh thai dựa vào bảng kiểm từ lần thứ hai; phát hiện, xử trí tiêu chảy cấp,
viêm đường hô hấp cấp và chuyển tuyến kịp thời.Sử dụng các bài thuốc nam thông
thườngchữa bệnh tại nhà cho các trẻ bị ho, cảm, ỉa chảy thông thường (không dùng
thuốc kháng sinh); cân đo, ghi biểu đồ tăng trưởng trẻ em theo qui định và hướng
dẫn bà mẹ sử dụng biểu đồ; phát hiện sớm các trường hợp suy dinh dưỡng trẻ em
dưới 5 tuổi cho trạm y tế xã.
Trạm y tế xã
Trạm y tế xã cần nắm được: Số sinh, số chết, số chết bà mẹ, trẻ em dưới 1
tuổi, dưới 5 tuổi trong xã và nguyên nhân; Số lượng các đối tượng như đã qui định
cho y tế thôn bản và thêm : Số sơ sinh sống, số sơ sinh < 2500g, số vị thành niên;
Số thai phụ được khám thai từ 1 đến 3 lần trở lên, số phụ nữ được tiêm phòng uốn
ván, số mũi tiêm, số sinh được cán bộ được đào tạo đỡ, số sinh tại cơ sở y tế, số nạo
hút thai nói chung và số nạo hút thai tuổi vị thành niên; Số cặp vợ chồng áp dụng kế
hoạch hoá gia đình theo từng biện pháp tránh thai, số cặp vợ chồng vô sinh, hiếm,
muộn; Số bị bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm khuẩn đường sinh sản;
Thống kê và định kỳ báo cáo theo mẫu của Bộ y tế lên Trung tâm y tế huyện, phối
hợp hoạt động với các chương trình khi có yêu cầu; Giáo dục và tư vấn về sức khoẻ
sinh sản; Quản lý, giám sát hoạt động của y tế thôn bản; Quản lý số người nhiễm
HIV/AIDS trong địa bàn.
20