Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại Hà Nội - Pdf 54

Mục lục
Lý do chọn chủ đề..............................................................................................2
I. Cơ sở lý luận về hoạt động của CTXH trong hoạt động chăm sóc sức khỏe
tâm thần trẻ em tại Hà Nội................................................................................3
1.1. Khái niệm và các thuật ngữ liên quan............................................................3
1.1.1. Khái niệm công tác xã hội........................................................................3
1.1.2. Khái niệm chăm sóc sức khỏe tâm thần...................................................3
1.1.3. Khái niệm trẻ em......................................................................................3
1.1.4. Khái niệm CTXH trong hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em. .3
1.2. Lý luận về hoạt động của CTXH trong hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm
thần đối với trẻ em..................................................................................................4
1.2.1 Các hoạt động phòng ngừa:..............................................................................4
1.2.2. Các hoạt động can thiệp, phục hồi:..................................................................4
1.2.3. Các hoạt động phát triển:.................................................................................5
II. Thực trạng về hoạt động của CTXH trong hoạt động chăm sóc sức khỏe
tâm thần đối với trẻ em tại Hà Nội........................................................................6
2.1. Khái quát chung về hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần đối với trẻ em 6
2.1.1. Khái quát chung về hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần với trẻ em trên thế
giới............................................................................................................................ 6
2.1.2. Khái quát chung về hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần với trẻ em tại Việt
Nam........................................................................................................................... 7
2.2. Mô tả về địa bàn thành phố Hà Nội................................................................9
2.3. Thực trạng hoạt động CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại
Hà Nội………………… ……………………………………………............9
2.3.1. Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại Hà Nội...........10
2.3.2. Hoạt động CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại Hà Nội......12
2.3.3. Yếu tố tác động đến hoạt động CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ
em tại Hà Nội..........................................................................................................14
2.3.4. Đánh giá hoạt động CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại Hà
Nội.......................................................................................................................... 16
III. Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện hoạt động CTXH trong chăm sóc sức

Nam. Năm 2011, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phê duyệt đề án trợ giúp xã
hội và phục hồi chức năng cho những người có rối loạn tâm thần dựa vào cộng
đồng. Đồng thời, sức khỏe tâm thần được xếp là một trong 5 vấn đề ưu tiên cần giải
quyết của Kế hoạch trong giai đoạn 2006-2010.
Kể từ khi Đề án 32 (Văn phòng chính phủ, 2010) ra đời, các hoạt động
CTXH tại Việt Nam đã phát triển và góp một phần quan trọng vào việc chăm sóc
sức khỏe tâm thần cho trẻ em. Là một trong những tỉnh thành đi đầu trong công tác
bảo vệ sức khỏe tâm thần trẻ em, Hà Nội đã thực hiện triển khai và lồng ghép các
hoạt động CTXH một cách hiệu quả. Xét thấy tính thời sự của vấn đề này, tôi đã
chọn chủ đề “Thực trạng hoạt động CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ
em tại Hà Nội” để nghiên cứu.

2


I. Cơ sở lý luận về hoạt động của CTXH trong hoạt động chăm sóc sức
khỏe tâm thần trẻ em tại Hà Nội
1.1. Khái niệm và các thuật ngữ liên quan
1.1.1. Khái niệm công tác xã hội
Theo giáo trình nhập môn Công tác xã hội (Trường đại học Lao động – Xã hội,
2015), CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá
nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường
chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và
dịch vụ nhằn giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn
đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

1.1.2. Khái niệm chăm sóc sức khỏe tâm thần
Theo tài liệu hướng dẫn thực hành CTXH trong CSSKTT (2017), CSSKTT
bao gồm các can thiệp, trị liệu và các hoạt động đảm bảo trạng thai khỏe mạnh về
mặt tinh thần ở 5 khía cạnh cơ bản sau: khả năng cân bằng, khả năng phục hồi, khả

+ Cần vận động nguồn lực từ gia đình, người dân tại cộng đồng, chính quyền địa
phương, các doanh nghiệp địa phương để trợ giúp trẻm em có vấn đề về sức khỏe
tâm thần.
+ Nguồn lực có thể là nội lực từ bản thân người bệnh và tiền, vật phẩm đồ dùng.
- Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ em mắc bệnh tâm thần và gia đình các em
+ Hiện nay, trẻ em tâm thần và gia đình vẫn phải chịu sự phân biệt, đối xử trong đời
sống và điều trị, khiến họ mặc cảm, khó hòa nhập cộng đồng. Đặc biệt khi nhận
thức của người dân chưa cao, tin rằng là do quả báo, nghiệp nên sinh ra con bị mắc
bệnh tâm thần.
+ Cần tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân để giảm sự kỳ thị, phân
biệt đối xử với trẻ em có vấn đề về SKTT, bình đẳng, hòa đồng trong các hoạt động
cho trẻ em tại cộng đồng.

1.2.2. Các hoạt động can thiệp, phục hồi:
- Tham vấn tâm lý cho trẻ em và gia đình.
+ Thông qua tham vấn NVCTXH hiểu được nguyên nhân và tác động tâm lý của
các em, thay đổi các suy nghĩ tiêu cực đặc trưng của lứa tuổi.
+ NVCTXH sử dụng các kỹ năng lắng nghe, khích lệ, đặt câu hỏi, tóm tắt phản hồi
để giúp trẻ em và gia đình các chia sẻ mối quan tâm, sự lo lắng băn khoăn, qua đó
giải tỏa được các lo lắng bức xúc.
- Can thiệp xử lý khủng hoảng cho người tâm thần và gia đình người tâm thần
4


+ Có nhiều trẻ em khi trải qua tâm lý lứa tuổi rơi vào tình trạng khủng hoảng cần
được sự can thiệp kịp thời.
+ NVCTXH không nhất nhiết phải là người thực hiện can thiệp trực tiếp trong toàn
bộ tiến trình này nhưng sẽ có các hoạt động can thiệp cần thiết để giảm thiểu các
nguy cơ gây tổn hại tới bản thân các em và gia đình, bạn bè.
+ NVCTXH sẽ duy trì công việc công việc theo dõi giám sát sự thay đổi tích cực



- Hỗ trợ trong hoạt động hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có vấn đề về SKTT
+ Đẩy mạnh công tác CSSKTT cho trẻ em tại cộng.
+ Kết nối trẻ em có vấn đề về SKTT đi học và hòa nhập với bạn bè.
+ Hỗ trợ và kết nối các em và gia đình gia các hoạt động của địa phương.
+ Tuyên truyền để nâng cao nhận thức cộng đồng, giúp họ đồng cảm, giúp đỡ gia
đình có trẻ em rối loạn tâm thần.

II. Thực trạng về hoạt động của CTXH trong hoạt động chăm sóc sức
khỏe tâm thần đối với trẻ em tại Hà Nội
2.1. Khái quát chung về hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần đối với
trẻ em
2.1.1. Khái quát chung về hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần với trẻ em trên thế
giới
Bệnh tâm thần nặng mãn tính và chậm phát triển ảnh hưởng đến toàn bộ dân
số và khoảng 20 % trẻ em và vị thành niên toàn cầu (WHO, 2016). Tổn thương tâm
lý xã hội – có thể dẫn đến tự tử, lạm dụng chất gây nghiện và kết quả học tập yếu
kém – có tác động không đồng đều đến các nhóm dân số dễ tổn thương, bao gồm
“thành viên các hộ gia đình nghèo, người có bệnh mãn tính, trẻ sơ sinh và trẻ em bị
ngược đãi và sao nhãng, vị thành niên lần đầu sử dụng các chất gây nghiện, các
nhóm thiểu số, dân cư bản địa, người cao tuổi, người bị phân biệt đối xử và vi phạm
nhân quyền, người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới, tù nhân,
người tiếp xúc với xung đột, thảm họa thiên nhiên hoặc các tình trạng khẩn cấp
nhân đạo khác” (WHO, 2015c: 7). Trẻ em và vị thành niên đặc biệt dễ tổn thương –
từ 10% đến 20% trẻ em và vị thành niên từng trải qua các vấn đề tâm lý xã hội
(Kieling et al., 2011). Thật vậy, tỷ lệ tự tử đang gia tăng; thanh thiếu niên đang là
nhóm có nguy cơ tự tử cao nhất ở một phần ba tổng số các quốc gia phát triển và
đang phát triển (WHO, 2007). Thực tế, tự tử đang là nguyên nhân hàng đầu của tử
vong ở thanh niên ở Trung Quốc và Ấn Độ (Patel et al., 2007). Bên cạnh đó, các

ngành, lĩnh vực, chức năng, nhiệm vụ riêng và có các chương trình, đề án, mô hình
về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội khác nhau. Chẳng hạn như
Bộ Y tế quản lý về lĩnh vực y tế, các bệnh viện, trung tâm y tế. Các trung tâm y tế
và bệnh viện đưa ra chẩn đoán và điều trị ban đầu đốivới các bệnh tâm thần nặng và
kéo dài có căn nguyên từ các bệnh lý về thần kinh và phát triển. Trong khi đó, Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội, thông qua hệ thống ngành dọc Sở Lao độngThương binh và Xã hội tại 63 tỉnh, thành phố, các cơ sở trợ giúp xã hội, giải quyết
các chính sách cho đối tượng bảo trợ xã hội và cung cấp các dịch vụ cho các trường
hợp nặng. Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm thiết lập phòng tư vấn tâm lý
xã hội trong các trường học và đào tạo kỹ năng sống. Số lượng các tổ chức phi
chính phủ cung cấp các dịch vụ liên quan đến tâm lý xã hội và sức khỏe tâm thần
cũng đang dần gia tăng.
Một số đường dây nóng hiện đang được vận hành ở Việt Nam, trong đó hoạt
động lâu năm (từ 2004) và nổi bật nhất phải kể đến đường dây nóng “Phím số diệu
kỳ - 18001567”, kết nối với thanh thiếu niên về các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Đường dây nóng chuyển sang số 111 từ tháng 10 năm 2017. Văn phòng của đường
dây nóng đặt tại trụ sở của Cục Trẻ em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), bao

7


gồm 20 cán bộ và 10 cộng tác viên/trợ lý có chuyên môn về tâm lý học và giáo dục
đặc biệt, hoạt động 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần. Đường dây nóng cũng có
một hội đồng tư vấn bao gồm các bác sỹ và học giả có chuyên môn sâu về tâm lý và
pháp luật nhằm trợ giúp trong những ca khó. Trong hai năm
từ 2014-2015, đường dây nóng nhận được hơn 2 triệu cuộc gọi từ trẻ em và người
lớn trên toàn quốc
Khi được hỏi ý kiến về chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần, đặc biệt là đối
với trẻ em và thanh niên, nhìn chung cho rằng còn có những thiếu hụt và cần quan
tâm hơn nữa đến lĩnh vực y tế cũng như trường học. Các ý kiến cho rằng chính sách
về sức khỏe tâm thần tuy có nhưng không dành cho trẻ em, đồng thời có rất ít hoặc

loạn tâm thần cũng như các vấn đề tâm lý xã hội phổ biến hơn.

8


2.2. Mô tả về địa bàn thành phố Hà Nội
Hà nội là thủ đô của Việt Nam và là một trong hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc
biệt quan trọng của đất nước.
- Vị trí địa lý: nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ
sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02'
độ kinh Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà
Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninhvà Hưng Yên phía Đông, Hòa
Bình cùng Phú Thọ phía Tây. Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km, cách
thành phố Nam Định 87 km tạo thành 3 cực chính của Đồng bằng sông Hồng. Địa
hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ
cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Đồi núi tập trung ở phía bắc
và phía tây thành phố.
- Hành chính: Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2008, tính đến
ngày 31 tháng 12 năm 2015, Hà Nội hiện có 30 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm
12 quận (Ba Đình, Bắc Từ Liêm, Cầu Giấy, Đống Đa, Hà Đông, Hai Bà Trưng,
Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Nam Từ Liêm, Tây Hồ, Thanh Xuân), 17
huyện, 1 thị xã – và 584 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 386 xã, 177 phường và 21
thị trấn. 55% dân số sống ở đô thị và 45% dân số sống ở nông thôn.
- Diện tích: Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố
có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu
bên hữu ngạn. ( Theo Wkikipidea)
- Dân số: tính đến năm 2018, dân số Hà Nội là 8.215.000 người, trung bình mỗi
năm dân số Thủ đô dự kiến tăng thêm khoảng 200.000 người, tương đương một
huyện lớn. ( Theo Chi cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Hà Nội, 2018)


+ Nhiều nhóm CTXH cho trẻ em đã được thành lập trên địa bàn thành phố, góp
phần CSSKTT cho trẻ em.
+ Các hoạt động tuyên truyền và nâng cao ý thức bảo vệ SKTT tại cộng đồng được
tổ chức thường xuyên.
- Trong nhà trường:
+ Nhiều trường học ở Hà Nội tổ chức các khóa tập huấn về kỹ năng làm cha mẹ
cho các bậc phụ huynh học sinh.
+ Ở cấp trường học, một đáp ứng quan trọng chính là các phòng tham vấn tâm lý. Ở
Hà Nội có một số trường áp dụng mô hình tham vấn tâm lý và được các chuyên gia
tâm lý trực tiếp làm việc tuy nhiên hầu hết là trường dân lập, hoặc trường quốc tế10
. Gần đây, tổ chức PLAN International tại Việt Nam đã tài trợ và hỗ trợ triển khai
thí điểm mô hình “Trường học An toàn, Thân thiện và Bình đẳng” tại 20 trường
THCS và THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trong khuôn khổ dự án này, mỗi
trường đều triển khai thành lập “Phòng tham vấn học đường” để trợ giúp các em
học sinh ứng phó với các vấn đề khó khăn liên quan đến bạo lực học đường, tâm lý
xã hội và những khó khăn trong học tập.

10


+ Tuy nhiên, phòng tư vấn/tham vấn cũng bộc lộ nhiều nhược điểm, bao gồm việc
học sinh không biết tới sự hiện diện của phòng trong trường và do đó hiếm khi
bước vào , phòng chỉ có nhà tư vấn/tham vấn nam – khiến các em gái ngại ngần khi
cần chia sẻ cảm xúc, tới việc phòng tham vấn tâm lý được đặt tại thư viện, không
đủ không gian riêng tư cần thiết để các em có thể chia sẻ một cách thoải mái.
+ Ở khu vực ngoại thành Hà Nội nhìn chung chất lượng tư vấn tâm lý thấp hơn và
học sinh hiếm khi sử dụng dịch vụ. Theo các chuyên gia tâm lý học đường, có một
số cách để học sinh biết và đến với phòng tư vấn. Đó là: giới thiệu về phòng tư vấn
trong các hoạt động học đường, giáo viên chủ nhiệm xác định những họcsinh có
hoàn cảnh khó khăn, và bản thân nhà tư vấn tự xác định bằng cách đi lại và quan sát



+ Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng (RTCCD), trung tâm
này đã thành lập một phòng khám, TUNA, ở Hà Nội, tập trung chủ yếu vào các vấn
đề sức khỏe tâm thần,bắt đầu từ người mẹ mang thai.
+ BasicNeeds (do BasicNeeds UK tài trợ) cũng đặt tại Hà Nội, đi vào hoạt động
năm 2009, có ba cán bộ làm việc toàn thời gian, và có cộng tác với Hội Phụ nữ.
Hoạt động của họ bao gồm: thiết kế các công cụ sàng lọc các vấn đề sức khỏe tâm
thần chung, nâng cao năng lực cho các nhân viên y tế cộng đồng nhằm sàng lọc và
điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần, tổ chức các hoạt động cho bệnh nhân (các
nhóm trợ giúp đồng đẳng, hỗ trợ tìm việc làm), và đào tạo các tổ chức phi chính
phủ và các ban ngành chính phủ khác về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm
thần (PV cán bộ, BasicNeeds, Hà Nội).
+ Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển (PHAD) (trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), hiện đang triển khai một dự án kéo dài ba
năm, “Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người lớn và trẻ em – sáng kiến tiết kiệm
chi phí” “mô hình kiểm soát trầm cảm tại cộng đồng đang triển khai tại 8 tỉnh,
thành phố của
Việt Nam”, do Grand Challenges Canada (GCC) và Bộ LĐTBXH tài trợ. Dự án
gồm hai hợp phần, một cho người lớn bị trầm cảm và một cho trẻ em có các khó
khăn về hành vi. Hà Nội và Đà Nẵng được lựa chọn làm hai địa bàn thí điểm.

2.3.2. Hoạt động CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại Hà Nội
- CTXH đã tích cực truyền thông để nâng cao nhận thức người dân về CSSKTT,
đặc biệt là cho trẻ em, các biện pháp can thiệp sớm và CSSKBĐ.
- CTXH tham gia vào các hoạt động tuyên truyền giảm kì thị với các vấn đề về sức
khỏe tâm thần:
+ Có nhiều câu trả lời khác nhau liên quan đến mức độ kỳ thị đối với các vấn đề sức
khỏe tâm thần. Ở Hà Nội, các em trai 16 tuổi trong thảo luận nhóm đã giải thích
rằng những người có vấn đề sức khỏe tâm thần được xem như “có bệnh”. các phỏng

kịp thời.
- Can thiệp khẩn cấp:
+ Số lượng trẻ em tự tử trên địa bàn Hà Nội ngày càng gia tăng (theo UNICEF,
2015), do các lý do về tình cảm, gia đình, áp lực trường học, không muốn chia sẻ
cảm xúc, chuẩn mực liên quan đến giới.
+ NVCTXH công tác tại trường học và công tác xã hội cá nhân, gia đình với các
đối tượng trẻ em có biểu hiện tự tử thực hiện các hoạt động can thiệp khẩn cấp, trấn
an và kết nối các em đến các cơ sở và nhà chuyên môn cung cấp dịch vụ phù hợp.
- Quản lý trường hợp:
+ NVCTXH làm việc với thân chủ là trẻ em đã thực hiện đầy đủ các bước trong quy
trình quản lý trường hợp để trợ giúp thân chủ một cách hiệu quả.
- CTXH nhóm với trẻ em có vấn đề về SKTT:
+ Giúp các em tham gia vào các nhóm đồng đẳng để trị liệu, học tập và phát triển.
+ Đã có rất nhiều nhóm CTXH cho trẻ em được thành lập trên địa bàn Hà Nội.
+ Một số nhóm điển hình: Câu lạc bộ văn nghệ thanh thiếu niên, câu lạc bộ giải trí
cho trẻ em dùng các hình thức như vẽ tranh, kể chuyện để nói lên tâm tư tình cảm
của mình, nhóm trẻ em bị bạo hành,…
13


- Các mạng lưới CTXH tại thành phố đã kết nối, biện hộ để những học sinh mắc
bệnh tâm thần được đi học tại nơi phù hợp, được hưởng các chính sách, dịch vụ
CSSK, bảo hiểm y tế, hưởng các quyền của trẻ em.
- Các hoạt động hòa nhập cộng đồng cho trẻ em tâm thần và gia đình các em rất
phong phú như:
+ Kết nối, hỗ trợ các em và gia đình tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
thao tại địa phương.
+ Hỗ trợ các em hòa nhập tại trường lớp.
+ Phần lớn các vấn đề gây ảnh hưởng đến SKTT là do các em chơi với nhóm bạn
xấu, dẫn đến các tệ nạn như quan hệ tình dục sớm, nghiện game, sự dụng chất kích



nhân dân và trẻ em. Chiến lược nhấn mạnh nhiều đến đối tượng trẻ em. Trong số 21
chỉ tiêu mục tiêu ngành y tế đến 2010 có 7 chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến trẻ em,
tuy nhiên, chủ yếu là vấn đề chămsóc sức khỏe trẻ em dưới 6 tuổi, giảm tỷ lệ tử
vong trẻ em, và cải thiện dinh dưỡng cho trẻ em và các vấn đề liên quan đến CSSK
bà mẹ trước và sau sinh. Trong chiến lược này, các thuật ngữ như “tâm thần”, “tự
tử” được xuất hiện cùng với các nhóm bệnh không lây nhiễm cần được phòng
chống và quản lý, nhưng không có những mục tiêu cụ thể về CSSK tâm thần cho trẻ
em.
+ Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn
2011- 2020, tầm nhìn đến 2030 (Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013).
Chiến lược này cũng có nhiều nội dung liên quan đến chăm sóc sức khỏe trẻ em
nhưng cũng chưa có các nội dung cụ thể về chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung
và CSSK tâm thần cho trẻ em nói riêng. Chiến đề cập đếnbệnh học đường (mặc dù
không có chỉ tiêu và nội dung cụ thể) cũng cho thấy đây là cơ sở chính sách quan
trọng để xây dựng những chương trình liên quan đến phòng ngừa các rủi ro đối với
sức khỏe tâm thần của trẻ em trong môi trường học đường, như bạo lực học đường,
các vấn đề về sức khỏe tâm thần liên quan đến sức ép học hành.
- Văn bản pháp lý liên quan đến công tác xã hội trong lĩnh vực y tế
+ Quyết định phê duyệt Đề án về “Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 –
2020”. Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 32/2010/QĐ-TTg
Phê duyệt đề án “Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020”. Mục tiêu
của đề án là phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam. Nâng cao
nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên
chức, nhân viên và cộng tác viên công tácxã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầuvề chất
lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các
cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Đây là văn bản pháp lý
quan
trọng cho việc phát triển nghề CTXH ở Việt Nam trong lĩnh vực y tế.

ngôn; truyền thông cho người bệnh các chính sách, luật pháp liên quan đến công tác
khám bệnh, chữa bệnh...); (3) Vận động tiếp nhận tài trợ (để hỗ trợ người bệnh có
hoàn cảnh khó khăn); (4) Hỗ trợ nhân viên y tế; (5) Đào tạo, bồi dưỡng về CTXH
(cho sinh viên, nhân viên y tế...); (6) Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã
hội của bệnh viện; và (7) Tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh
viện tại cộng đồng (nếu có). Về hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã
hội của bệnh viện, thông tư quy định căn cứ quy mô giường bệnh, điều kiện về
nhân lực, kinh phí và phạm vi hoạt động chuyên môn, giám đốc bệnh viện quyết
định thành lập hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định thành lập một trong các
hình thức Phòng Công tác xã hội thuộc bệnh viện; hoặc Tổ Công tác xã hội thuộc
Khoa khám bệnh hoặc Phòng điều dưỡng hoặc Phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh
viện. Về nhân lực, thông tư quy định phòng/tổ Công tác xã hội bao gồm các viên
chức, nhân viên chuyên ngành công tác xã hội; chuyên ngành truyền thông, y tế
hoặc ngành khoa học xã hội khác được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về công tác xã
hội. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.
- Nhiều tổ chức phi chính phủ cung cấp dịch vụ CSSK tâm thần cho trẻ em có trụ sở
tại Hà Nội và đã tài trợ cho các hoạt động tham vấn tâm lý học đường.
- Hạn chế về số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn về tâm thần nhi và công tác

hội, đặc biệt ở cấp tỉnh và cấp huyện. Ngoài ra, có tương đối ít cán bộ có đủ năng
lực giải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội ở trẻ em và thanh niên.
Tương tự, đa số các cán bộ làm việc tại các trung tâm bảo trợ xã hội chưa qua đào
tạo về công tác xã hội hoặc tốt nghiệp các chuyên ngành khác. Thêm vào đó, con số
các nhân viên công tác xã hội cũng rất hạn chế, đặc biệt là những người làm việc
trực tiếp với bệnh nhân. Tự học và vừa học vừa làm trong lĩnh vực sức khỏe tâm
thần dường như trở thành một cơ chế ứng phó với những khuyết thiếu về đào tạo.

16



- Thành lập phòng CTXH ở những bệnh viện chưa có dịch vụ CTXH để trợ giúp trẻ
em có vấn đề về SKTT và gia đình các em một cách hiệu quả,
- Bổ sung các phòng tham vấn hỗ trợ tâm lý học đường với số lượng cán bộ tâm lý
và NVCTXH có chất lượng
- Lồng ghép CTXH vào chương trình CSSKBĐ trong chăm sóc SKTT và chăm sóc
trẻ em
- Bổ sung và triển khai các hoạt động truyền thông, tuyên truyền của CTXH để giúp
nâng cao nhận thức về CSSKTT cho trẻ em của cộng đồng, giảm kì thị và phân biệt
đối xử với trẻ em có các vấn đề về SKTT và gia đình các em.
- Tiếp tục xây dựng thêm nhiều chương trình và chiến lược vận đồng nguồn lực cho
lĩnh vực CSSKTT cho trẻ em để có thể tổ chức thêm nhiều hoạt động CTXH hiệu
quả hơn.
- Cung cấp thêm nhiều dịch vụ hỗ trợ về mặt tâm lý cho trẻ em như tham vấn, tư
vấn, can thiệp khủng hoảng, can thiệp khẩn cấp qua các phương tiện xã hội như
mạng xã hội, đường dây nóng.
- Phát triển và tài trợ cho các hoạt động CTXH nhóm để xây dựng thêm các nhóm
đồng đẳng và hòa nhập cho trẻ em ở những địa bàn chưa có.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục về CSSKTT cho trẻ em với phụ huynh các em ở
xã/ phường, trường học, cơ quan.

18


Kết luận
Qua chủ đề trên, ta thấy được nhu cầu cấp thiết trong tăng cường đào tạo
phát triển đội ngũ nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm
thần, tâm lý lâm sàng và tâm lý trị liệu cho trẻ em tại Hà Nội nói riêng và Việt nam
nói chung.
Trẻ em luôn là đối tượng nhân được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà
nước cũng như cộng đồng. Tuy nhiên, các vấn đề về SKTT đã gây nên những tác

2. Nguyễn Ngọc Lâm, 2005, Công tác xã hội với trẻ em và gia đình.
3. Nguyễn Thị Thái Lan, 2014, Công tác xã hội nhóm, Nxb Lao Động – Xã Hội.
4. Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai, 2014, Công tác xã hội cá nhân và gia
đình, Nxb Lao Động – Xã Hội.
5. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Hồng Kiên, 2013, Giáo trình Công tác xã hội trong
lĩnh vực sức khỏe tâm thần, Nxb Lao Động – Xã Hội.
6. Unicef, 2016, Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại
một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam.
7. UNICEF, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, 2017, Công tác xã hội trong chăm
sóc sức khỏe cộng đồng, Nxb Lao Động – Xã Hội.
8. Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam, 2011, Đánh giá Thực trạng Hệ thống Chăm
sóc Sức khỏe Tâm thần thuộc quản lý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,
Nxb Lao Động – Xã Hội.
9. Trần Tuấn, 2010, Vai trò của công tác xã hội trong chăm sóc y tế. Tài liệu hội
thảo “Phát triển công tác xã hội trong lĩnh vực y tế”, Hà Nội.

Danh mục viết tắt
CTXH
CSSKTT
NVCTXH
SKTT

Công tác xã hội
Chăm sóc sức khỏe tâm thần
Nhân viên công tác xã hội
Sức khỏe tâm thần

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status