VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRUNG THUẬN
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHÈO
DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN TỈNH KON TUM
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
MÃ SỐ: 60900101
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI - 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘIĐỐI VỚI
NGƢỜI NGHÈO DÂN TỘC THIỂU SỐ ............................................................... 8
1.1. Người nghèo dân tộc thiểu số: khái niệm, đặc điểm, nhu cầu ................... 8
1.2. Khái niệm, mục tiêu, vai trò, quan niệm và các nguyên tắc của công tác
xã hội đối với người nghèo dân tộc thiểu số ............................................................ 13
1.3. Nội dung, phương pháp và kỹ năng của công tác xã hội đối với người
nghèo dân tộc thiểu số ............................................................................................. 18
1.4. Chính sách, pháp luật về công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc
thiểu số ..................................................................................................................... 28
DTTS
Dân tộc thiểu số
ĐA
Đề án
KHKT
Khoa học kỹ thuật
LĐTB&XH
Lao động thương binh và xã hội
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
NVXH
Nhân viên xã hội
TDTT
Thể dục thể thao
TGXH
người nghèo dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó
khăn đang cần sự hỗ trợ của nhà nước để vươn lên thoát nghèo.
Để giải quyết được những thách thức trên cần có sự chung tay của toàn xã
hội, trong đó công tác xã hội (CTXH) đóng vai trò rất quan trọng. Ở các nước phát
triển trên thế giới CTXH đã phát triển hàng trăm năm trước với nhiệm vụ hỗ trợ
những nhóm người yếu thế trong xã hội, giúp họ tiếp cận được các cơ hội, nguồn
lực trong xã hội, phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra đối với họ khi có biến cố
xảy ra. ở Việt Nam nghề CTXH mới chỉ ở bước đầu hình thành và phát triển từ khi
Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Đề án phát triển nghề CTXH giai
đoạn 2010-2020 (Quyết định 32/2010/QĐ-TTg), còn gọi là Đề án 32. Chỉ từ khi Đề
án được ban hành, Công tác xã hội mới được chính thức coi như một ngành khoa
học, một nghề chuyên môn với việc ban hành mã ngành đào tạo và mã số ngạch
viên chức. Sau hơn 5 năm thực hiện quyết định của TTCP, công tác xã hội đã đạt
nhiều kết quả và phát triển ở những vùng thuận lợi, đô thị. Song, hiện nay các nhóm
1
đối tượng yếu thế ở nước ta chủ yếu đang được sự bảo trợ của ngành Lao động
Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH), trong đó có người nghèo dân tộc thiểu số.
Song trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã giành nhiều chính sách và
nguồn lực ưu tiên phát triển toàn diện kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng, giảm nghèo,
phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo an sinh xã hội đối với người nghèo dân tộc
thiểu số. Bên cạnh những thành tựu đạt được, chính sách an sinh xã hội đối với
người nghèo dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập, tồn tại ảnh hưởng đến hiệu quả của
các chính sách, giảm mức độ tiếp cận và thụ hưởng các chính sách, các dịch vụ xã
hội của người nghèo dân tộc thiểu số.
Kon Tum là tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, nằm ở cực bắc Tây Nguyên,
được thành lập lại vào tháng 8-1991; là tỉnh giáp Lào, Campuchia, có vị trí chiến
lược quan trọng về quốc phòng an ninh và hợp tác phát triển kinh tế với các tỉnh
trên hành lang kinh tế Đông - Tây. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 968.049 ha.
Basic InFrastructute, Báo cáo nghiên cứu của Nhóm hành động chống nghèo đói,
Hà Nội, Việt Nam 2002.
- Shanks, Edwin, và Carrie Turk, 2002, "Policy Recommendations from the
Poor", tổng hợp các kết quả điều tra, báo cáo khoa học chuẩn bị cho Nhóm hành
động chống nghèo đói, đưa ra các khuyến nghị chính sách ban đầu cho việc xây
dựng Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo (CPRGS) của
Việt Nam.
- Tập thể tác giả: “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”, Nxb.
Nông nghiệp, Hà Nội - 2001;
- Nguyễn Trọng Xuân: “Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ
giúp dân xoá đói giảm nghèo”, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội - 2008;
- Nguyễn Thị Hằng: “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện
nay”, Nxb. Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - 1997.
- Oxfam: “Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển
hình ở Việt Nam” Hà Nội - 2013;
- Viện Khoa học xã hội Việt Nam - VASS: “Giảm nghèo tại Việt Nam:
Thành tựu và Thách thức”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội - 2011;
3
- Ngân hàng thế giới tại Việt Nam: “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam
2012”, Hà Nội - 2012;
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: “Đề án tổng thể chuyển đổi phương
pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa và thu nhập sang đa chiều áp dụng
trong giai đoạn 2016-2020”, năm 2015.
2.2. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến người nghèo dân tộc thiểu
số ở Kon Tum
- Hoàn thiện chính sách xoá đói giảm nghèo đối với tỉnh miền núi (Lấy ví dụ
tỉnh Kon Tum), luận văn của Nguyễn Trung Hải, bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc
dân tháng11/2006, đưa ra việc hoàn thiện chính sách xoá đói giảm nghèo ở một tỉnh
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc
thiểu số từ thực tiễn tỉnh Kon Tum
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Luận văn sẽ nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực trạng các dịch vụcông tác xã hội đối với người nghèo DTTS tại tỉnh
Kon Tum, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Khảo sát được tiến hành tại tỉnh Kon Tum.
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu từ tháng 1 năm 2016 tới
tháng 06 năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về
công tác giảm nghèo bền vững và các chương trình, chính sách của Chính phủ về
Công tác xã hội với người nghèo nói chung và người nghèo dân tộc thiểu số nói
riêng ở Việt Nam.
Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng một số thuyết để phục vụ cho việc nghiên
cứu. Các thuyết đó là: Thuyết nhu cầu của Maslowvà một số lý thuyết khác sử dụng
trong nghiên cứu đề tài. Việc sử dụng các thuyết trên vào trong nghiên cứu nhằm
5
giúp chúng ta có cơ sở, hiểu sâu hơn về tâm, sinh lý, đặc điểm, nhu cầu và quá trình
phát triển của con người, nhất là người nghèo DTTS, cũng như những yếu tố có thể
ảnh hưởng, tác động tích cực, tiêu cực tới quá trình phát triển của người nghèo
DTTS.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan
điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
cấpcác chính sách, các dịch vụ cho người nghèo DTTS, cộng đồng và đặc biệt là
chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở trong việc thực hiện, cung cấp các chính sách,
các dịch vụ cho người nghèo nói chung và cho người nghèo DTTS nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người nghèo dân
tộc thiểu số
Chương 2:Thực trạng công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc thiểu số
tại tỉnh Kon Tum
Chương 3:Định hướng và giải pháp tăng cường công tác xã hội đối với
người nghèo dân tộc thiểu số
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHÈO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Ngƣời nghèo dân tộc thiểu số: khái niệm, đặc điểm, nhu cầu
1.1.1. Một số khái niệm niệm nghèo
Hiện nay có nhiều quan niệm về nghèo đói đang được các quốc gia thừa
nhận:
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia
hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc,
không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc
không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo
cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ
gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội
hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ
sinh an toàn”.
bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo chính sách và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm
thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở xuống
- Hộ nghèo nhóm 3: là nhóm hộ không nghèo về thu nhập nhưng thiếu hụt đa
chiều về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm những hộ gia đình có thu nhập
bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn
mức sống tối thiểu, và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản trở lên
Ngƣời nghèo DTTS là người có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/sổ theo
dõi quản lý hộ nghèo ở cấp xã, theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều của Chính phủ,
nghĩa là: người nghèo DTTS có thu nhập bình quân từ 700.000đ/tháng ở khu vực
nông thôn và 900.000đ/tháng ở khu vực thành thị. Hoặc có thu nhập bình quân cao
hơn 700.000đ/tháng ở khu vực nông thôn và cao hơn 900.000đ/tháng ở khu vực đô
thị nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt
tiếp cận các dịch vụ cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường,
thông tin liên lạc.
9
1.1.2. Đặc điểm của người nghèo dân tộc thiểu số
Việt Nam là một quốc gia đa thành phần dân tộc. Trong 54 dân tộc, có tới 53
dân tộc thiểu số. Các thành phần dân tộc thiểu số có số dân gần 11 triệu người,
chiếm hơn 13% dân số cả nước. Các dân tộc sống đoàn kết, thân ái, tương trợ với
nhau, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết, có bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Các thành phần dân tộc thiểu số cư trú phân tán, ở tất cả các tỉnh, thành phố
trong cả nước; cư trú xen kẽ. Trong 1 đơn vị hành chính, có nhiều thành phần dân
tộc cùng sinh sống. Địa bàn có đông dân tộc thiểu số cư trú là vùng miền núi, biên
giới, với diện tích tự nhiên chiếm 2/3 diện tích cả nước; đây là vùng có vị trí địa lý,
kinh tế và quốc phòng quan trọng. Vùng Tây Nguyên: Tỷ lệ dân số dân tộc thiểu số
chiếm trên 33% dân số của vùng và khoảng 13% dân số dân tộc thiểu số của cả
thương buôn bán với bên ngoài nên thu nhập thấp, thêm vào đó người nghèo dân
tộc thiểu số ở các khu vực này thường đông con, đa phần có từ 5 đến 6 con; lao
động chính của hộ gia đình có học vấn rất thấp, rất khó có cơ hội tìm được việc làm
có thu nhập khá và ổn định. Việc sản xuất và canh tác phụ thuộc chủ yếu vào điều
kiện tự nhiên. Công tác giảm nghèo trong người DTTS diễn ra với tốc độ chậm.
Nghèo, tuổi thọ, tình trạng dinh dưỡng và những chỉ số đo mức sống khác của họ
vẫn còn ở mức thấp.
Cho đến nay vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu hay tài liệu cụ thể nào nói
rõ về đặc điểm đời sống tâm lý - xã hội của người nghèo dân tộc thiểu số, thông
thường người ta dựa trên tâm lý của người yếu thế nói chung và những nét biểu hiện
thực tế của người nghèodân tộc thiểu số để phác họa một số nét tâm lý - xã hội cơ
bản của người nghèo dân tộc thiểu số.
Về đời sống tâm lý:Nhìn chung người nghèo dân tộc thiểu số thường mặt
cảm, tự ti do hoàn cảnh, số phận của mình, sống thụ động trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ
trợ từ các chính sách giảm nghèo trong đó có chính sách cho không của nhà nước,
điều kiện sống của người nghèo dân tộc thiểu số luôn thấp hơn mặt bằng chung của
cộng đồng nơi mình sinh sống. Đối với người nghèo dân tộc thiểu số họ luôn trong
tình trạng thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản từ những nhu cầu thiết yếu nhất, do
đó họ gặp rất nhiều nguy cơ trong cuộc sống, phải đối mặt với nhiều khó khăn và
11
thách thức trong cuộc sống do phải bảo đảm chi phí đắt đỏ cho các dịch vụ y tế, nhà
ở, giáo dục, đi lại và sinh hoạt tối thiểu. Do mặt cảm với cuộc sống nên một số
người nghèo dân tộc thiểu số ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể
của cộng đồng, không mạnh dạn tham gia đề xuất ý kiến, cho rằng lời nói của mình
không có trọng lượng, không được cộng đồng chấp nhận không dám đấu tranh,
không dám bộc lộ bản thân. Bên cạnh đó có một bộ phận không nhỏ người nghèo
dân tộc thiểu số vẫn còn tư tưởng trông chờ ỷ lại, buông xuôi, ngại thay đổi, phó
mặc cho số phận và chưa thực sự quyết tâm vươn lên để thoát nghèo bền vững.
Tóm lại, người nghèo DTTS có rất nhiều nhu cầu cần đáp ứng, đặc biệt là
các nhu cầu cơ bản như: giáo dục, y tế, nhà ở, vệ sinh môi trường, thông tin liên lạc
và điều kiện sống.
1.2. Khái niệm, mục tiêu, vai trò, quan niệm và các nguyên tắc của công
tác xã hội đối với ngƣời nghèo dân tộc thiểu số
1.2.1.Khái niệm về công tác xã hội đối với người nghèo DTTS
Công tác xã hội với người nghèo dân tộc thiểu số là một hoạt động chuyên
nghiệp nhằm trợ giúp người nghèo DTTS nâng cao năng lực, đáp ứng những nhu
cầu thiết yếu về sức khỏe, tinh thần, vật chất và những nhu cầu xã hội cơ bản khác.
Đồng thời, công tác xã hội cũng có vai trò thúc đẩy môi trường xã hội, kết nối
nguồn lực nhằm giúp người nghèo dân tộc thiểu số có khả năng tiếp cận các chính
sách giảm nghèo và các dịch vụ xã hội cần thiết, từ đó vươn lên, chủ động thoát
nghèo bền vững, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
1.2.2. Mục tiêu, vai trò, quan niệm của công tác xã hội đối với người
nghèo dân tộc thiểu số
1.2.2.1. Mục tiêu công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc thiểu số
Mục tiêu cuối cùng của CTXH đối với nghèo DTTS là giúp họ học cách thực
hiện chức năng của mình để đáp ứng các nhu cầu phát triển cả về mặt tâm lý, tình
cảm và xã hội cho tất cả các thành viên trong gia đình. Đó là: Tăng cường sức mạnh
của cá nhân và gia đình để mọi người sẵn sàng cho những thay đổi tốt hơn;Cung
cấp thêm những dịch vụ can thiệp cá nhân, gia đình và cộng đồng để duy trì thực
hiện chức năng một cách hiệu quả; Tạo ra những thay đổi cụ thể trong việc thực
13
hiện chức năng của gia đình nhằm duy trì hoạt động để đảm bảo cuộc sống của mọi
thành viên trong gia đình được tốt hơn.
1.2.2.2. Vai trò của công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc thiểu số
Công tác xã hội (CTXH) đã và đang có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển bình đẳng và tiến bộ của mỗi quốc gia và nhân loại. Đặc biệt, CTXH góp phần
nghèo bền vững.
- Vai trò là người lập kế hoạch: Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ người
nghèo dân tộc thiểu số về phương pháp và yêu cầu của một kế hoạch, đồng thời tạo
điều kiện để người nghèo dân tộc thiểu số tham gia đóng góp quyết định những nội
dung của kế hoạch, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn và vai trò tự quyết của họ
trong cộng đồng về kế hoạch theo tinh thần: “làm với cộng đồng chứ không phải
làm cho cộng đồng”.
- Vai trò kết nối: Công tác xã hội huy động, liên kết và phát huy nguồn lực
trong và ngoài cộng đồng để trợ giúp cho người nghèo dân tộc thiểu số, nhằm thỏa
mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho người nghèo DTTS.
- Thông qua các phương pháp tác nghiệp chuyên nghiệp, nhân viên CTXH sẽ
trực tiếp giải quyết các vấn đề của người nghèo dân tộc thiểu số, hỗ trợ giải quyết
các vấn đề về việc làm, thu nhập, lao động, các vấn đề xã hội nảy sinh khác cho
người nghèo dân tộc thiểu số. Sự trợ giúp này mang tính lâu dài, bền vững.
Như vậy, vai trò trợ giúp chuyên nghiệp của người làm CTXH sẽ tạo ra sự
tương tác giữa người trợ giúp, nguồn lực trợ giúp với đối tượng trợ giúp. Vì vậy,
người nghèo dân tộc thiểu số sẽ tự nhận ra được vấn đề của mình, xác định nguyên
nhân, đề xuất giải pháp và nỗ lực thực thi trên cơ sở phát huy điểm mạnh, tiềm
năng, nội lực của mình với các nguồn lực bên ngoài để giải quyết vấn đề, cải thiện
hoàn cảnh, vươn lên thoát nghèo bền vững.
1.2.2.3. Quan niệm về công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc thiểu số
Công tác xã hội với người nghèo DTTS là cách tiếp cận nhằm giúp đỡ gia
đình họ khi gặp khó khăn về kinh tế, khó khăn trong việc duy trì cuộc sống sinh
hoạt bình thường hoặc có nguy cơ rơi vào tình trạng khó có thể duy trì trạng thái
cân bằng trong gia đình.
15
Công tác xã hội trong quá trình hỗ trợ đối với người nghèo DTTS được giải
quyết ở các cấp độ khác nhau từ việc hỗ trợ cá nhân người nghèo, hộ nghèo đến tác
thể ám chỉ đến họ, không chia sẻ những thông tin của họ khi chưa được sự đồng ý
của họ;Bảo mật là một nguyên tắc đạo đức quan trọng trong công tác xã hội đối với
người nghèo dân tộc thiểu số.
- Hãy tôn trọng họ và thể hiện tính chuyên nghiệp: Trò chuyện với họ về
quan điểm, khiếm khuyết của họ giúp ta hiểu được những điểm yếu của họ, nhưng
đồng thời cũng gợi nỗi đau cho những người liên quan. Chúng ta cần thừa nhận và
tôn trọng nỗi đau này;Việc công nhận sự thành thạo của họ giúp củng cố niềm tin
rằng bản thân họ là những người có ích và thắt chặt thêm mối quan hệ;Khi họ được
đối xử tôn trọng họ sẽ cởi mở hơn, tích cực trong việc làm.
- Cần thực sự chú :Đừng để mình bị phân tâm bởi những việc khác khi đang
trò chuyện với người nghèo dân tộc thiểu số;Nhìn vào mắt họ để thể hiện chúng ta
đang lắng nghe họ nói;Cần lắng nghe những câu chuyện riêng tư của họ trong tinh
thần tôn trọng; Chú ý việc sử dụng ngôn từ; Tránh sự im lặng quá lâu.Trò chuyện
chứ không phải đặt câu hỏi.
- Ứng xử lịch sự và trao tặng lời khen:Con người nói chung, và nhất là người
nghèo dân tộc thiểu số, những phép ứng xử lịch sự cơ bản và những lời động viên
khen ngợi sẽ giúp họ cảm nhận về tính nhân đạo và tình bằng hữu;Hãy thừa nhận
với họ nếu bạn học tập được một điểm mới qua cuộc trò chuyện với họ. Đây là một
việc rất đáng làm; Bạn có thể khen ngợi một biến chuyển dù rất nhỏ trong họ.
- Hãy thành thật và cởi mở:Thành thật và làm rõ động cơ là điều kiện thiết
yếu để hình thành một mối quan hệ;Bạn sẽ làm mất lòng tin của mọi người nếu nói
điều mình không tin nhưng vẫn nói ra vì biết người khác muốn nghe về điều đó;
Người nghèo dân tộc thiểu số sẽ tôn trọng quyết định của bạn nếu bạn đưa ra những
giới hạn rõ ràng, kiên quyết trong mối quan hệ.
- Chia sẻ những suy nghĩ với họ bằng thái độ quan tâm: Xã hội thường
thương hại người nghèo bố thí cho họ hơn là tôn trọng họ; Nếu ai đó không làm như
thế nhưng trò chuyện với họ bằng thái độ quan tâm sẽ dễ được họ tôn trọng và tin
tưởng.
17
18
liên quan đến các bước tiếp theo trong tiến trình trợ giúp. Mỗi hồ sơ ca chỉ ứng với
một hộ gia đình người nghèo dân tộc thiểu số. Trong trường hợp trong một cộng
đồng hoặc một nhóm người nghèo dân tộc thiểu số cần được can thiệp giải quyết
vấn đề thì cần phải có những hồ sơ từng hộ khác nhau. Các hồ sơ ca phải được đánh
mã số phân biệt và lưu trữ tại nơi an toàn. Đồng thời phải có những quy định rõ
ràng và chặt chẽ về quyền tham khảo thông tin trong các hồ sơ ca nhằm bảo mật
thông tin.
Bước 2. Thu thập thông tin: Sau khi hoàn tất thủ tục tiếp nhận ca, NVXH
tiếp tục thực hiện bước thu thập thông tin chi tiết và bao quát về hộ nghèo dân tộc
thiểu số. Các thành viên trong gia đình chỉ có thể chia sẻ những tâm tư, tình cảm
những khó khăn, những vấn đề riêng tư của cá nhân, gia đình mình khi họ có mối
quan hệ tốt với NVXH.
Thiết lập quan hệ với các thành viên trong hộ nghèo dân tộc thiểu số: Mối
quan hệ giữa NVXH và các thành viên trong gia đìnhhộ nghèo dân tộc thiểu
sốkhông phải là mối quan hệ xã hội thông thường mà nó là mối quan hệ nghề
nghiệp. Việc thiết lập mối quan hệ tốt và tạo sự tin tưởng đối với các thành viên
trong gia đình là khâu quan trọng nhất trong bất cứ hoạt động trợ giúp nào, là điều
có
nghĩa sống còn trong quá trình giúp đỡ và can thiệp giải quyết vấn đề của gia
đình người nghèo DTTS. Có được mối quan hệ tích cực với gia đình người nghèo
DTTS, NVXH giúp các thành viên đạt được sự đồng thuận trong giải quyết vấn đề
của gia đình họ. Chính những điều này, sẽ đặt nền tảng cho việc hình thành mối
quan hệ tin cậy và hợp tác giữa NVXH và các thành viên trong gia đình trong suốt
tiến trình hỗ trợ.Điều quan trọng, các thành viên trong gia đình là người nghèo họ
thường mang mặc cảm, tự ti, ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể
Bước 4. Lập kế hoạch hỗ trợ: Tiếp theo bước đánh giá và xác định vấn đề là
bước lập kế hoạch hỗ trợ. Dựa trên các kết quả thu được ở bước đánh giá cùng
những mong muốn và kỳ vọng của hộ nghèo dân tộc thiểu số, nhân viên xã hội xây
dựng kế hoạch hỗ trợ/giải quyết vấn đề của người nghèo, hộ nghèo dân tộc thiểu
số.Nhằm đảm bảo sự thành công của quá trình hỗ trợ sau này, kế hoạch can thiệp
đưa ra cần rõ ràng và cụ thể. Đồng thời khi xây dựng kế hoạch NVXH cũng cần chú
20
ý tính hữu hiệu tức kế hoạch cần đạt được các mục tiêu giúp đỡ và tính hiệu quả có
nghĩa là kế hoạch đạt được các mục tiêu giúp đỡ với nguồn lực ít nhất.
Các yêu cầu lập kế hoạch hỗ trợ: Để lập được một kế hoạch can thiệp khả thi
trong thực tế, NVXH cần chú trọng đến các yêu cầu sau:Phù hợp với tình trạng của
hộ gia đình;Đáp ứng những nhu cầu cấp thiết;Xác định rõ các mục tiêu hỗ trợ lâu
dài và nhiều mặt; Cân nhắc những trở ngại trong thực tế. Đó có thể là những trở
ngại về nguồn lực như kinh phí eo hẹp, thiếu dịch vụ hỗ trợ cần thiết;Cần được xây
dựng dựa trên những nguồn lực chính thức lẫn không chính thức. Những nguồn lực
này không chỉ là những nguồn lực bên trong mà còn tận dụng những nguồn lực sẳn
có trong mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội. Như vậy, để thực hiện được kế hoạch
liên kết và điều phối các dịch vụ hỗ trợ từ nhiều nơi, NVXH cần có những hiểu biết
đầy đủ về các nguồn lực trong xã hội.
Tham gia trong lập kế hoạch hỗ trợ: Để lập kế hoạch hỗ trợ cần đến sự tham
gia của nhiều người không chỉ có NVXH. Những thành phần chính tham gia vào
việc lập kế hoạch can thiệp bao gồm:
- Nhân viên xã hội: là người chịu trách nhiệm chính trong việc lập kế hoạch.
Nhân viên xã hội phác thảo kế hoạch dựa trên kết quả đánh giá và sự cam kết hợp
tác của các thành viên tham gia như người thân, gia đình, bản thân người nghèo
DTTS… Đồng thời nhân viên xã hội điều phối sự tham gia của các thành viên khác
để cùng đưa ra các phương án can thiệp khác nhau. Sau đó NVXH tổ chức thảo luận
chọn lọc phương án hành động phù hợp và hiệu quả.
Bước 5. Thực hiện kế hoạch can thiệp: Bước này được xem là hiện thực hóa
kế hoạch can thiệp đã được xây dựng với mục tiêu cao nhất là trực tiếp can thiệp
vào giải quyết triệt để vấn đề hộ nghèo DTTS gặp phải.
Sự tham gia thực hiện kế hoạch hỗ trợ: Những thành phần tham gia thực hiện
kế hoạch hỗ trợ có sự tương đồng với những thành phần tham gia lập kế hoạch.
NVXH nhận trách nhiệm chính trong triển khai và giám sát mọi hoạt động của kế
hoạch, đồng thời là người chịu trách nhiệm chính trong điều chỉnh kế hoạch. Cụ thể,
NVXH làm cầu nối giữa các thành viên trong hộ gia đình người nghèo DTTS với
các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội; có thể làm việc trực tiếp với cá nhân người
nghèo DTTS,.. trong một số công việc như: tham vấn, vãng gia… đồng thời theo
22