VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN PHƢƠNG THẢO
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN PHƢƠNG THẢO
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ THỊ THƢ
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em
khuyết tật vận động tại tỉnh Điện Biên ..................................................... 54
Chƣơng 3. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG ............................. 65
3.1. Biện pháp nâng cao năng lực, trình độ cho nhân viên công tác xã hội . 65
3.2. Biện pháp tăng cường hỗ trợ hoạt động tâm lý – xã hội ................... 67
3.3. Biện pháp tăng cường công tác hỗ trợ vận động và kết nối nguồn lực . 67
3.4. Biện pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền....................................... 68
3.5. Duy trì và mở rộng nhiều hình thức của hoạt động hỗ trợ tiếp cận
chính sách ................................................................................................. 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 76
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
LĐ - TB & XH
Lao động - Thương binh và Xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
KTVĐ
Khuyết tật vận động
Bảng 2.4: Mức độ hiệu quả của sự hỗ trợ tâm lý ................................................ 39
Bảng 2.5: Số lượng trẻ em khuyết tật vận động nhận được nguồn hỗ trợ .......... 40
Bảng 2.6: Mức độ hiệu quả của sự hỗ trợ nguồn lực .......................................... 44
Bảng 2.7: Các nội dung tuyên truyền .................................................................. 45
Bảng 2.8:Các hình thức tuyên truyền .................................................................. 46
Bảng 2.10: Kết quả nhận được các dịch vụ hỗ trợ .............................................. 50
Bảng 2.11: Thái độ của nhân viên hỗ trợ tiếp cận chính sách ............................ 54
Bảng 2.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội ở địa phương ................ 55
Bảng 2.13: Yếu tố về đặc điểm nhân viên công tác xã hội ................................. 56
Bảng 2.14: Yếu tố thuộc về đặc điểm của trẻ em khuyết tật vận động ............... 59
Bảng 2.15: Nhận thức của gia đình, cộng đồng, chính quyền địa phương ......... 61
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ: 2.1 Nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động ........................................ 35
Biểu đồ 2.2: Các nguồn lực mà trẻ khuyết tật vận động được hỗ trợ ................ 41
Biểu đồ 2.3: Người cung cấp nguồn lực hỗ trợ ................................................... 43
Biểu đồ 2.4: Người phụ trách hoạt động tuyên truyền ........................................ 47
Biểu đồ 2.5: Mức độ tham gia vào các dịch vụ tư vấn hỗ trợ ............................. 52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều thập kỷ qua, mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng
Đảng, Nhà nước vẫn luôn quan tâm ưu tiên nguồn lực và thực hiện nhiều chủ
trương, chính sách trợ giúp xã hội, bảo đảm các quyền của người khuyết tật và
thúc đẩy sự tham gia của người khuyết tật vào đời sống xã hội. Rõ nhất là hệ
thống luật pháp, chính sách đối với người khuyết tật ngày càng được hoàn thiện,
ngày 17 tháng 6 năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật Người khuyết tật và có
hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011. Các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc tại địa phương và đơn vị thường xuyên quan tâm, tạo thuận lợi để phát huy
xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế việc chăm sóc trẻ em khuyết tật vận động tại tỉnh
Điện Biên còn gặp một số khó khăn bất cập về chăm sóc đời sống vật chất và
tinh thần. Trước thực trạng trên, trong những năm gần đây chính quyền, đảng bộ
các cấp và nhân dân trên địa bàn tỉnh đã có nhiều cố gắng trong việc quan tâm,
chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần đối với người khuyết tật đặc biệt
là trẻ em khuyết tật vận động và gia đình của họ bằng nhiều việc làm thiết thực
như giúp gia đình họ vay vốn để phát triển kinh tế, phẫu thuật miễn phí, chăm
sóc sức khỏe…và những việc làm này bước đầu nó đã mang màu sắc của công
tác xã hội. Song, với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, cộng thêm vào
đó là các hoạt động trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động còn mang nặng tính hình
thức. Bởi vậy, việc chăm sóc, giúp đỡ trẻ em khuyết tật vận động mới chỉ có thể
đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của họ mà chưa thể đáp ứng những nhu
cầu đa dạng khác. Từ đó ta nhận thấy rằng đời sống của trẻ em khuyết tật vận
động còn nhiều khó khăn mà các hoạt động công tác xã hội vẫn chưa hướng tới
được vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu để đưa hoạt động công tác xã hội đối
với trẻ em khuyết tật vận động vào địa phương, đồng thời thúc đẩy hoạt động
này tại địa phương được tốt hơn. Từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Công tác
xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn tỉnh Điện Biên” làm luận
văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu
Thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với trẻ em khuyết tật trong nhiều
thập niên qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, có nhiều chủ trương chính sách
và tăng cường công tác quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện nhằm từng bước nâng
cao đời sống cho trẻ em khuyết tật. Các ngành các cấp, luôn xem đây là nhiệm
vụ chính trị quan trọng, thường xuyên trong việc xây dựng triển khai các kế
hoạch của địa phương và các giải pháp có tính lâu dài cũng như trước mắt. Công
xã hội của trẻ em khuyết tật vận động với mục đích kết nối, điều phối và duy trì
các dịch vụ dành cho trẻ em khuyết tật vận động một cách hiệu quả; đề tài “Thực
trạng công tác chăm sóc trẻ em khuyết tật tại làng Hòa Bình, Thanh Xuân, Hà
Nội‟‟ của tác giả Đào Thị Mai, đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng chăm sóc trẻ
khuyết tật, từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp khắc phục những tồn tại
của thực trạng. Nhằm góp phần vào việc hỗ trợ chăm sóc giúp đỡ tạo điều kiện
cho trẻ khuyết tật phát triển toàn diện và hòa nhập cộng đồng.
Báo cáo kết quả thực hiện Đề án “Trợ giúp người tàn tật giai đoạn
2006 - 2010” tỉnh Điện Biên, do Sở Lao động - TB&XH tỉnh Điện Biên xây
dựng năm (2010).
Bài viết “Mô hình công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở Úc: Định hướng về
hòa nhập xã hội” được gửi tới Hội thảo về Đối mới Công tác xã hội trong nề
kinh tế thị trường, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn vào tháng
09/2011. Bài viết chỉ ra một số mô hình CTXH với trẻ em tại Úc theo định
hướng hòa nhập, là cơ sở để Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm…
Tuy nhiên, những nghiên cứu, đề tài trên chỉ tiếp cận ở khía cạnh nào đó
cho đề tài của mình như giáo dục hòa nhập cho trẻ em khuyết tật, ảnh hưởng và
tác động của chính sách an sinh xã hội tại địa phương ảnh hưởng đến đời sống
của trẻ em khuyết tật vận động và gia đình của các em; tìm hiểu về vấn đề chăm
sóc sức khỏe, về thực trạng đời sống của trẻ em khuyết tật vận động, hay đánh
giá hiệu quả của việc thực hiện Pháp lệnh về người khuyết tật trợ giúp người
khuyết tật dưới góc nhìn của người làm chính sách và đối tượng là trẻ em khuyết
4
tật nói chung và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng chứ không có đề tài nào đi
sâu vào việc nghiên cứu sâu sắc về thực trạng công tác xã hội với trẻ em khuyết
tật vận động nói riêng và với trẻ em khuyết tật nói chung, bên cạnh đó cũng chưa
có đề tài nào nghiên cứu để có thể đưa ra các giải pháp nâng hiệu quả công tác
xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động… vì thế với đề tài này tác giả không
Phạm vi về khách thể: nghiên cứu trên 100 trẻ em khuyết tật vận động từ 6
tuổi đến 16 tuổi và 30 cán bộ làm việc với trẻ em khuyết tật vận động.
Phạm vi về địa bàn: trẻ em khuyết tật vận động tại huyện Mường Chà,
huyện Mường Nhé và huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về
đời sống của trẻ em khuyết tật vận động, thực trạng của công tác xã hội đối với
trẻ em khuyết tật vận động trên địa bàn rút ra được những lý luận và đưa ra được
những đề xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với trẻ em
khuyết tật vận động trên địa bàn tỉnh.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống tiếp cận chỉnh thể: nghiên cứu hệ
thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có
liên quan như dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận
động, hệ thống chính sách đối với trẻ em khuyết tật vận động...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin,
số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài
liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu:
- Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến công tác xã
hội như: Nhập môn công tác xã hội, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết công
tác xã hội…
6
- Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề
công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động như: đề tài “Công tác xã hội
với trẻ em khuyết tật vận động‟‟ (Trường hợp tại làng Hữu Nghị Việt Nam), đề
lợi, khó khăn gặp phải của đội ngũ cán bộ khi thực hiện chính sách trợ giúp trẻ
em khuyết tật vận động tại tỉnh Điện Biên cụ thể phỏng vấn 05 cán bộ làm việc
với trẻ em khuyết tật vận động, 02 cán bộ lãnh đạo ở địa phương, 03 trẻ em
khuyết tật vận động.
* Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu thông qua các
tri giác như nghe, nhìn, …để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp
ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát để tìm hiểu sâu
hơn về thực trạng đời sống của trẻ em khuyết tật vận động tại tỉnh Điện Biên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên ở tỉnh nghiên cứu có hệ thống hoạt động
công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động và có những đóng góp mới
sau đây:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và những đặc điểm của hoạt động công tác xã
hội đối với trẻ em khuyết tật vận động.
- Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng hoạt động công tác xã hội
trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện công
tác công tác xã hội và từ đó nâng cao nhận thức cả xã hội đối với trẻ em khuyết
tật vận động.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung nhận thức lý luận về
thực hiện pháp luật và đề xuất những giải pháp phù hợp trong quá trình hoạch
định chính sách, triển khai chính sách, làm tài liệu tham khảo tham khảo cho các
8
nghiên cứu sau này về lĩnh vực trẻ em khuyết tật, trẻ em khuyết tật vận động và
Trẻ khuyết tật là những trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc hoặc chức năng cơ
thể hoạt dộng không bình thường dẫn đến gặp khó khăn nhất định.
Như vậy, trẻ khuyết tật là trẻ em dưới 16 tuổi có khiếm khuyết về cấu tạo
thể chất, phát triển sai lệch các chức năng hoặc hành vi ảnh hưởng tới sinh hoạt
học tập vui chơi bình thường.
*Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động
Trong đề tài nghiên cứu đối tượng trẻ em khuyết tật vận động từ 6 đến 16 tuổi.
Trẻ em khuyết tật vận động (KTVĐ) là trẻ em khuyết tật bị giảm hoặc mất chức
năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động di
chuyển, gặp khó khăn trong các vấn đề về cuộc sống.
10
1.1.2. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động
* Đặc điểm tâm lý của trẻ em khuyết tật vận động
Tâm lý của khá đông trẻ em khuyết tật nói chung và trẻ em KTVĐ nói
riêng là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình
thường khác. “Các em thường có tâm lý bi quan, chán nản, tự ti, mặc cảm, tủi
phận, cho mình là người bỏ đi, cho mình là gánh nặng của gia đình và ngại giao
tiếp với mọi người” [27,tr.173].
Ở những trẻ em KTVĐ chẳng hạn như khuyết chi, các em có các biểu
hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú trọng quá mức đến
khiếm khuyết cơ thể đôi khi đến nỗi gây khổ đau lớn. Mặc dù vậy trong tâm lý
học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ
thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm
khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên. Tiếp đến một ảnh hưởng khác
cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các
hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người. Tuy
nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người ta nhận thấy ở nhiều người
nghe, tôn trọng và chấp nhận đối tượng.
Theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực người khuyết tật, trong
số những trẻ em khuyết tật nặng, tập trung nhiều trẻ em KTVĐ. Đó cũng là lý do
mà trẻ em KTVĐ thường hay mắc bệnh, sức khoẻ yếu, cần nhiều hơn về chăm
sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng.
Với trẻ em bị KTVĐ bẩm sinh, người bị khuyết tật do tai nạn, rất cần
được can thiệp về y học, phục hồi chức năng mang tính chuyên khoa sâu, đồng
bộ và lâu dài và bắt đầu sớm. Vì vậy cần phải xác định mục tiêu trong công tác
xã hội với trẻ em KTVĐ và gia đình các em trong việc chăm sóc, phục hồi chức
năng, hỗ trợ tâm lý, vận động và kết nối nguồn lực, hỗ trợ tiếp cận chính sách
cho trẻ em KTVĐ.
1.2. Lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Có nhiều khái niệm về công tác xã hội được đưa ra ở các góc độ khác nhau:
13
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp
tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc
đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm
nâng cao chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành
vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con
người với với môi trường sống.
Theo IFSW (Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế), Tháng 07/2000,
Montreal, Canada: "Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội,
việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực
và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái,
dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH
và khuyết tật vận động
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp của ngành
công tác xã hội tác giả xin đưa ra một số nguyên tắc trong quá trình làm việc của
công tác xã hội đối với trẻ em công tác xã hội như sau:
- Nguyên tắc đầu tiên là cần chấp nhận trẻ em khuyết tật: nhân viên công
tác xã hội không được có thái độ mặc cảm, định kiến đối với trẻ em khuyết tật
trong bất kể tình huống nào, phải luôn tôn trọng và thấu hiểu các em, không phê
phán hay áp đặt ý kiến của mình.
- Nguyên tắc thứ hai là phải để trẻ em KTVĐ cùng tham gia giải quyết vấn
đề: nhân viên công tác xã hội chú ý tới các năng lực tiềm ẩn trong mỗi trẻ em
KTVĐ để các em có thể phát huy, tự quyết định hành động, tự giải quyết vấn đề,
chúng ta không làm hộ, làm thay cho các em. Đây là một trong những nguyên
tắc vô cùng quan trọng bởi lẽ không ai có thể tự giải quyết được vấn đề cho trẻ
em KTVĐ mà chính trẻ em khuyết tật cần phải được tham gia vào và tự giải
quyết vấn đề của họ.
- Nguyên tắc thứ ba là tôn trọng quyền tự quyết của trẻ em KTVĐ: nhân
viên công tác xã hội chỉ là nhân tố tác động, còn chính trẻ em KTVĐ mới là
nhân tố quyết định đến sự thay đổi hiện trạng của họ, để các em tự phát huy tính
16
độc lập của mình. Điều này đồng nghĩa với việc nhân viên công tác xã hội tôn
trọng quyền của trẻ em KTVĐ mà họ đang trợ giúp.
- Nguyên tắc thứ tư là cá biệt hóa: nhân viên công tác xã hội cần coi mỗi
trẻ em KTVĐ là một cá thể có thuộc tính thể chất và tinh thần khác nhau, bởi
vậy các mục đích, giá trị, nguyện vọng và hành vi của mỗi người cũng mang tính
cá biệt. Tức là nhân viên công tác xã hội không thể hành động với các vấn đề của
từng em theo cùng một cách thức giống nhau, nhưng phải đồng thời không làm
mất đi sự cảm thông, sự đồng thuận giữa trẻ em KTVĐ và cộng đồng.
- Nguyên tắc thứ năm là giữ bí mật về những vấn đề của trẻ em KTVĐ:
gần gũi, chăm sóc trẻ mà không làm gì khác, lắng nghe và tìm hiểu trẻ, giúp trẻ
giải quyết các xung đột hoặc các khó khăn về tâm lý khi nó mới khởi đầu.
Động viên khuyến khích phát huy những mặt tích cực của trẻ em KTVĐ. Bên
cạnh những những khó khăn mà trẻ em KTVĐ phải trải qua, nhưng các em rất
giàu nghị lực để vượt qua khó khăn của tật nguyền. Gia tăng lòng tự tin và tự
trọng của trẻ: khuyến khích trẻ tự làm và khen ngợi hành động đó, nói cảm xúc
của mình về hành động đó thay vì khen chê con người. Với sự hỗ trợ thích hợp
của gia đình và xã hội một số trẻ em KTVĐ đã đạt được nhiều thành tích cao
trong học tập. Tư vấn, tham vấn cho trẻ em KTVĐ những kỹ năng sống bằng
các hình thức và nội dung phong phú để giúp các em tự tin trong cuộc sống và
hòa nhập với cộng đồng.
Hình thức tư vấn, tham vấn cũng vẫn còn đang mới, hiện tại mới có một
số hình thức tư vấn tâm lý trực tiếp hoặc qua điện thoại, qua báo đài... Tâm lý
của trẻ em KTVĐ vẫn đang ngại khi đặt chân vào phòng tư vấn tâm lý, các em
còn ngại ngùng, xấu hổ, tự ti . Hơn nữa bản thân trẻ em KTVĐ hình dung nhà
tham vấn chuyên nghiệp là người vừa có học thức vừa có địa vị nên các em e
ngại. Lại còn e ngại hơn khi tiếp cận với các trung tâm, dịch vụ tham vấn trẻ em
KTVĐ sợ có người biết và nghĩ họ gặp vấn đề trầm trọng. Do vậy, các em không
muốn là trung tâm của sự đàm tiếu, các em muốn có sự bình yên. Thật ra, các
hình thức tham vấn không những giúp đối tượng giải quyết vấn đề kịp thời mà
18
còn giúp các em phòng ngừa những hành vi tiêu cực có thể bột phát trong tình
huống khủng hoảng. Bởi vậy chúng ta cần hỗ trợ tâm lý cho các em bằng cách
giúp các em tiếp cận được các dịch vụ hỗ trợ về tham vấn. Chúng ta cũng cần có
dịch vụ tư vấn, tham vấn hỗ trợ tâm lý tại địa phương để hỗ trợ can thiệp tâm lý
giúp các em một cách kịp thời, để các em đã thiệt thòi bởi những khiếm khuyết
cơ thể được chăm lo chu đáo về vật chất và chăm sóc vun trồng một cuộc sống
tinh thần khỏe mạnh lạc quan. Những nhân viên công tác xã hội chưa làm tốt