VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TUYÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
VIỆT – HÀN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu
HÀ NỘI, 2016
HÀ NỘI - năm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực
hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu. Các trích
dẫn và số liệu được sử dụng có xuất xứ rõ ràng. Tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tuyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÊN BẢNG
STT
TRANG
Bảng 1.1
Phân loại nhóm chuyên gia và vai trò tương ứng
17
Bảng 2.1
Cơ sở hạ tầng của Trung tâm
32
Bảng 2.2
Tổng hợp về sự tham gia các hoạt động hỗ trợ của
trẻ khuyết tật trí tuệ tại Trung tâm
42
Sự hài lòng của gia đình trẻ khuyết tật trí tuệ đối với
Bảng 2.3
đang được nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng và hướng
nghiệp dạy nghề tại trung tâm là cần thiết và giữ vai trò quan trọng trong quá
1
trình thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Xuất phát từ những lý do cơ bản đó, việc chọn đề tài: “Công tác xã hội
đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng
Việt – Hàn, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ ngành công tác xã hội là
cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuộc hội thảo về chủ đề
người khuyết tật được tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau. Trong luận văn này,
chúng tôi xin liệt kê và đánh giá về một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đã
công bố và có liên quan mật thiết đến đề tài của chúng tôi.
Đầu tiên là công trình “Đại cương can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật
trí tuệ” của tác giả Trần Lệ Thu, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
xuất bản năm 2010. Trong công trình này, tác giả đã tập trung trình bày
những vấn đề chung về khuyết tật trí tuệ và can thiệp sớm cho trẻ em
khuyết tật trí tuệ. Nội dung cụ thể của can thiệp sớm cho trẻ em khuyết tật
trí tuệ từ 0 đến 6 tuổi như phát hiện sớm, chẩn đoán, sử dụng các phương
pháp can thiệp sớm, tiến trình giáo dục cá nhân...
Tiếp theo là tập bài giảng “Công tác xã hội với cá nhân và gia đình”
của Tôn Nữ Ái Phương, giảng viên Trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí
Minh. Trong tài liệu này, tác giả đã đưa ra khái niệm công tác xã hội với
trường hợp, trong đó có trường hợp của những trẻ khuyết tật gặp khó khăn và
cần sự giúp đỡ. Tuy nhiên, tài liệu này mới chỉ đề cập đến những vấn đề công
tác xã hội với trẻ em khuyết tật nói chung mà chưa đề cập đến các nội dung
công tác xã hội với trẻ em khuyết tật trí tuệ.
đối với người khuyết tật, về các chính sách của nhà nước đối với người
khuyết tật. Chưa có công trình nào nghiên cứu về các nội dung công tác xã
hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ, đặc biệt là nghiên cứu về các nội dung
công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ từ thực tiễn một địa phương
3
hay một ngành, một đơn vị nào. Do vậy, việc nghiên cứu về “Công tác xã hội
đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ từ thực tiễn trung tâm Phục hồi chức năng
Việt – Hàn thành phố Hà Nội” là cần thiết trong các nội dung nghiên cứu về
các nội dung công tác xã hội ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với trẻ khuyết
tật trí tuệ, chỉ ra thực trạng công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật trí tuệ tại trung
tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội. Từ đó đưa ra một số
định hướng làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả
hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ tại trung tâm phục
hồi chức năng Việt – Hàn thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt các mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn thực hiện các nhiệm vụ
chủ yếu sau:
Một là, phân tích và làm rõ thêm những vấn đề lý luận liên quan đến
công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ.
Hai là, phân tích thực trạng trẻ em khuyết tật trí tuệ và các nội dung
công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ tại trung tâm phục hồi chức
năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
Ba là, đưa ra một số định hướng và các giải pháp cơ bản có tính khả thi
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
ra những nhận định và đề xuất các giải pháp phù hợp.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả xây dựng bộ câu hỏi đóng và
câu hỏi mở để điều tra đối với cán bộ nhân viên trung tâm và các gia đình có con là
trẻ em khuyết tật trí tuệ đang được phục hồi chức năng tại trung tâm nhằm khảo sát
về thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ tại trung tâm hiện nay.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý
luận về công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ, đồng thời làm rõ thêm
các cơ sở pháp lý trong lĩnh vực công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí
tuệ từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn thành phố Hà Nội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những định hướng và các giải pháp mà luận văn đưa ra có thể áp dụng
để nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí
tuệ tại trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội. Kết quả
nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác
chuyên môn về công tác xã hội tại trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn,
thành phố Hà Nội. Đồng thời có thể là nguồn tài liệu tham khảo đối với việc
hoàn thiện chính sách, xây dựng các mô hình nhân rộng về hỗ trợ can thiệp
phục hồi cho trẻ em khuyết tật trí tuệ và các đơn vị tổ chức, các nhân khác
trong việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em
khuyết tật trí tuệ.
công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề công tác xã hội”.
(Thường được sử dụng ở các nước công tác xã hội đã phát triển cao).
Năm 2010, trong công trình nghiên cứu của một nhóm tác giả Việt
Nam đã định nghĩa: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên
nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực,
7
đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi
trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia
đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm
bảo an sinh xã hội”.[1, tr.19]
Như vậy, từ các quan niệm trên, có thể khẳng định công tác xã hội là
một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp, một lĩnh vực khoa học chuyên thực
hiện nhiệm vụ chức năng xã hội giao phó và được xã hội thừa nhận. Các
chính sách, chương trình và dịch vụ công tác xã hội được triển khai bởi bộ
máy tổ chức theo một ngành dọc và liên ngành. Bên cạnh đó, công tác xã hội
được thực hiện trên một nền tảng hệ giá trị, nguyên tắc, yêu cầu nghề
nghiệp,… theo quy định của pháp luật. Đồng thời, công tác xã hội còn là
một ngành khoa học, bao gồm hệ thống kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực
hành được đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau.
1.1.2. Khái niệm trẻ khuyết tật và trẻ em khuyết tật trí tuệ
* Khái niệm trẻ em khuyết tật
TheoTổ chức Y tế Thế Giới (WHO), Trẻ khuyết tật là những trẻ có
thiếu hụt cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng dẫn đến những hạn chế
nhất định trong hoạt động của cá nhân và gặp khó khăn, trở ngại (do môi
trường sống đem lại) trong việc tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt
động trong xã hội - cộng đồng.
Theo Điều 1 Pháp lệnh người tàn tật của Việt Nam năm 1998: “Trẻ tàn
3 mức độ khuyết tật: một là, Khuyết tật đặc biệt nặng: những trẻ do khuyết tật
dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực
hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc
khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi,
trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. Hai là, Khuyết tật nặng: bao gồm những trẻ do
khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm
soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ
9
sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng
ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc. Ba là, Khuyết tật nhẹ:
gồm những trẻ khuyết tật không thuộc các trường hợp được quy đinh tại hai
mức độ trên.
Về nguyên nhân khuyết tật
Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên khuyết tật ở trẻ em, tuy nhiên
có thể đề cập tới các nguyên nhân sau: Một là, Do bất thường gen: Do di
truyền gen gây bệnh. Một số gen bệnh được truyền từ cha mẹ sang con gây
biến đổi cấu trúc cơ thể và rối loạn chuyển hóa dẫn đến khiếm khuyết, loại
nguyên nhân này thường đưa đến hậu quả nặng nề vì tổn thương ở hệ thần kinh
và xuất hiện rất sớm, trong thời kỳ bào thai. Nhiễm sắc thể bất thường có thể
dẫn tới khiếm khuyết ở cơ quan tim, thận, phổi, gan... Các bệnh về trao đổi chất
ở các tuyến, hạch: từ những chấn thương bẩm sinh có thể dẫn đến tái phát trong
quá trình phát triển, dẫn đến sự rối loạn trong trao đổi chất, rối loạn về dinh
dưỡng, những rối loạn này có thể dẫn đến khuyết tật, tàn tật, khó khăn trong
cuộc sống. Hai là, do sang chấn trước và trong quá trình sinh nở: Trẻ bị sinh
non, thiếu tháng nếu mẹ sử dụng chất kích thích hoặc mang đa thai, trẻ bị tổn
thương não do bị ngạt khi sinh hoặc do bất thường của nhau thai, cuốn rốn, trẻ
bị dị tật hoặc khiếm khuyết do mẹ bị bệnh trong quá trình mang thai, nhiễm
bình, hạn chế về các kỹ năng sống.
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm trẻ khuyết tật trí tuệ
như sau: trẻ khuyết tật trí tuệ là khái niệm dùng để chỉ những người dưới 18
tuổi có trí tuệ dưới mức trung bình, đồng thời bị thiếu hụt hoặc khiếm
khuyết ít nhất hai trong số những lĩnh vực hành vi thích ứng (giao tiếp, tự
chăm sóc, các kỹ năng xã hội liên cá nhân, sử dụng các phương tiện trong
cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường, chức năng làm việc, giải trí,
sức khỏe và an toàn).
11
* Các biểu hiện đặc trưng của trẻ em khuyết tật trí tuệ
Một là, về nhận thức: Sự phát triển nhận thức ở trẻ em khuyết tật trí tuệ
có sự khác biệt rõ rệt so với trẻ bình thường thể hiện ở đặc điểm: từng giai
đoạn phát triển kéo dài hơn và cả quá trình triển sẽ dừng lại sớm hơn. Sự trì
hoãn hoàn thiện của hệ thống vỏ não cấp một và cấp hai sẽ đưa đến việc thiếu
hụt các hoạt động tập trung đối trẻ khuyết tật trí tuệ. Chậm biết nói và khó
khăn khi nói. Kém hiểu biết về các quy luật cơ bản. Không ý thức được hậu
quả về các hành vi của mình. Khó khăn khi tự phục vụ (tự ăn uống, vệ sinh cá
nhân, học tập…). Khó nhận biết các khái niệm, tư duy lôgíc kém, thiếu tính
nhận xét, phê phán…
Hai là, về trí nhớ: Trẻ em khuyết tật trí tuệ thường có biểu hiện
chậm hiểu cái mới, quên nhanh cái vừa tiếp thu. Quá trình ghi nhớ không
bền vững, không đầy đủ. Chỉ ghi nhớ cái bên ngoài sự vật, không ghi nhớ
cái bên trong, cái khái quát…
Ba là, về chú ý: Trẻ em khuyết tật trí tuệ thường có biểu hiện không tập
trung vào chi tiết, chỉ tập trung các nét bên ngoài, dễ bị phân tán bởi các sự
vật nhỏ…
Bốn là, về vận động, kỹ năng: trẻ em khuyết tật trí tuệ thường chậm
Nguyên nhân từ môi trường xã hội: Không được chăm sóc đầy đủ về y tế
và thể chất (thiếu dinh dưỡng, không được tiêm phòng đầy đủ). Thiếu thốn về tâm
lý – xã hội (thiếu sự chăm sóc nhạy cảm, không được kích thích để trải nghiệm và
khám phá, bị bỏ rơi hoặc lạm dụng). Có nhiều hạn chế trong sử dụng ngôn ngữ tại
gia đình (chỉ sử dụng câu ngắn với vốn từ và câu có hạn). Trẻ được nuôi dưỡng theo
cách để người khác định đoạt cuộc sống của nó (những trẻ như vậy không tự kiểm
soát được mình, ít khi tin là hành động của mình quan trọng đối với chính sự thành
công hay thất bại của bản thân; đây cũng là nguyên nhân dẫn đến trẻ học kém).
13
* Phân loại trẻ em khuyết tật trí tuệ
Đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ hiện có rất nhiều tiêu chí để phân loại.
Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào chỉ số thông minh (chỉ số IQ) để phân
loại trẻ khuyết tật trí tuệ. Căn cứ vào chỉ số IQ, có thể phân loại trẻ khuyết tật
trí tuệ thành bốn loại cơ bản như sau:
Một là, chậm phát triển trí tuệ nhẹ: là những trẻ có chỉ số IQ từ 50-70,
có khả năng giao tiếp bằng lời nói, có khả năng tự chăm sóc và làm các cộng
việc đơn giản, có thể đi học và ít cần sự trợ giúp từ người khác.
Hai là, chậm phát triển trí tuệ trung bình: là những trẻ có chỉ số IQ từ
35-49, có khả năng giao tiếp bằng lời nói song nghèo nàn, không rõ nghĩa,
có khả năng tự chăm sóc, làm các công việc đơn giản nếu được huấn luyện
từ nhỏ, có thể đi học song gặp nhiều khó khăn hơn và cần sự trợ giúp nhưng
không thường xuyên.
Ba là, chậm phát triển trí tuệ nặng: là những trẻ có chỉ số IQ từ 20- 34,
không có khả năng giao tiếp bằng lời, không có khả năng tự chăm sóc hoặc làm
các công việc đơn giản, không thể đi học và cần sự trợ giúp thường xuyên. Bốn
là, chậm phát triển trí tuệ rất nặng: là những trẻ có chỉ số IQ dưới 20, hoàn toàn
không có khả năng giao tiếp bằng lời nói, không có khả năng tự chăm sóc bản
đích của ngành công tác xã hội nói chung. Có thể khẳng định mục đích của
công tác xã hội với trẻ em khuyết tật là nhằm hỗ trợ cá nhân và gia đình trẻ
em khuyết tật trí tuệ; quản lý ca với trẻ em khuyết tật trí tuệ; hỗ trợ xây dựng
tổ chức của trẻ em khuyết tật trí tuệ; tham gia vào việc xây dựng phản biện
chính sách, luật pháp đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ; biện hộ cho quyền và
lợi ích của trẻ em khuyết tật trí tuệ. Như vậy, có thể nhìn nhận nội dung của
công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ bao gồm các hoạt động sau:
Một là, trợ giúp khuyến khích thúc đẩy và tăng cường việc thực hiện
chức năng xã hội của cá nhân, nhóm, các tổ chức và cộng đồng người khuyết
tật trí tuệ bằng cách giúp họ, phòng ngừa, chữa trị và giảm nhẹ những khó
15
khăn do khuyết tật trí tuệ mang lại và biết cách sử dụng các nguồn lực một
cách hiệu quả.
Hai là, tham gia vào việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính
sách xã hội, các nguồn tài nguyên và các chương trình để đáp ứng những nhu
cầu của trẻ em khuyết tật trí tuệ và hỗ trợ cho sự phát triển của họ.
Ba là, theo đuổi những chính sách, dịch vụ và chương trình thông qua công
tác biện hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành động
chính trị để tăng cường quyền lực cho trẻ em khuyết tật trí tuệ nhằm đảm bảo sự
công bằng và sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội.
Vai trò và nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
trí tuệ
Xuất phát từ nhu cầu của xã hội và mục đích hoạt động của ngành
công tác xã hội, dựa trên đặc thù nghề nghiệp là hoạt động trợ giúp các đối
tượng yếu thế, thiệt thòi, giải quyết các vấn đề xã hội, nhân viên công tác xã
hội có khả năng tác nghiệp khác nhau liên quan đến vấn đề của đối tượng
như: kinh tế, pháp luật, tâm lý, tình cảm, sức khỏe, văn hóa, giáo dục, mối
Giáo viên giáo dục đặc
Quản lý chương trình điều trị, điều phối các hoạt
biệt
động trị liệu, gíáo dục
Bác sỹ chuyên khoa
Xác định mức độ khuyết tật theo mức độ phân loại
và lập kế hoạch điều trị
Y tá
Triển khai kế hoạch chăm sóc sức khỏe
Chuyên gia hoạt động trị
Giúp cá nhân phát triển kỹ năng tự phục vụ, vui
liệu
chơi, kỹ năng sống
Chuyên gia vận động trị
liệu
Tăng cường khả năng phát triển vận động và đề
thiết chọ trẻ khuyết tật trí tuệ.
Hai là, hỗ trợ về mặt tâm lý (hiểu và thông cảm được tâm lý của trẻ em
khuyết tật trí tuệ, xem xét ảnh hưởng của khuyết tật tới gia đình họ tác động
của khuyết tật tới vai trò và mối quan hệ của các thành viên trong gia đình,
bao gồm cả những rắc rối cá nhân hay vấn đề xã hội khác)
Ba là, phối hợp vận động tìm nguồn lực, nguồn tài nguyên hỗ trợ
cho trẻ em khuyết tật trí tuệ và gia đình trẻ (ví dụ: chương trình cấp xe
lăn, mổ tim, hỗ trợ tai nghe hoặc vay vốn phát triển kinh tế gia đình, sửa
chữa nhà cửa...)
Bốn là, xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động, giúp đỡ trẻ em
khuyết tật trí tuệ và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động..
Năm là, đề xuất ý kiến soạn thảo chính sách về trẻ em khuyết tật trí tuệ.
Sáu là, làm công tác biện hộ cho trẻ em khuyết tật trí tuệ.
Bên cạnh đó, cán bộ công tác xã hội còn có đóng vai trò là người:
Cung cấp cho trẻ em khuyết tật và gia đình trẻ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ
hỗ trợ tâm lý cho đến việc phát triển mạng lưới liên kết để thân chủ có thể tiếp cận
các dịch vụ y tế và xã hội hoặc các tổ chức liên quan đến nhu cầu của trẻ.
Đánh giá ban đầu về trẻ em khuyết tật việc đánh giá này bao gồm đánh
giá điểm mạnh, nguồn lực và những hỗ trợ sẵn có ví dụ như: Những hành vi
trong quá khứ giúp thân chủ ứng phó thành công với hoàn cảnh của gia đình,
sự sắp xếp cuộc sống, mức độ học vấn, việc làm, sở thích, hoàn cảnh kinh tế...
cán bộ công tác xã hội cũng phải hiểu được cảm xúc và phản ứng cuả thân
18
chủ đối với khuyết tật, ảnh hưởng của khuyết tật đối với gia đình.
Cung cấp cho các nhân viên y tế hoặc chuyên gia sức khỏe những
thông tin liên quan đến tâm lý của thân chủ để họ có thể hỗ trợ những bệnh
nhân khuyết tật đó đúng cách hơn
sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng trẻ em khuyết tật trí tuệ. Ngay cả
khi trẻ khuyết tật trí tuệ gặp những khó khăn như nhau thì cách giải quyết
giúp đỡ sẽ khác nhau do mỗi cá nhân có hoàn cảnh, tâm tư tình cảm, suy nghĩ,
nhận thức và những điểm mạnh khác nhau.
Ba là, tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề vấn đề của trẻ em
khuyết tật trí tuệ: Trong công tác xã hội với trẻ em khuyết tật trí tuệ, nguyên
tắc tin vào tính tự quyết của đối tượng là nguyên tắc mà nhân viên công tác xã
hội luôn phải nhận thức và chú trọng trong quá trình làm việc. Nhân viên
công tác xã hội giúp đối tượng nhận ra những điểm mạnh của mình, phân tích
tìm ra các giải pháp khác nhau để đối tượng có thể tự mình quyết định giải
pháp giải quyết vấn đề của mình. Sự đồng hành của nhân viên công tác xã hội
bên cạnh họ là điều không thể thiếu. Trong quá trình thực hiện, cần có những
giới hạn nhất định mà nhân viên công tác xã hội cần cân nhắc và can thiệp trong
những trường hợp xét thấy quyết định của đối tượng có thể gây tổn hại cho thân
chủ hay người khác hoặc đối tượng không đủ khả năng đưa ra quyết định.
Bốn là, trung thực và chân thành với trẻ em khuyết tật trí tuệ: Đây là
nguyên tắc không thể thiếu của người nhân viên công tác xã hội. Việc trẻ em
khuyết tật trí tuệ hoặc người nhà trẻ em khuyết tật trí tuệ được nhận những
thông tin đầy đủ, trung thực giúp họ có thể lường hết được những khó khăn
cũng như những điều bất trắc xảy ra với họ, để họ tăng cường giải pháp đề
phòng. Nếu họ không được nhận những thông tin trung thực, khi họ gặp khó
khăn thì khó có thể thích nghi kịp, có thể xuất hiện sự bất an, thậm chí sợ hãi
khi khả năng “tự vệ” của mình hạn chế nhất định do các dạng tật gây ra.
Các kỹ năng cơ bản trong công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ
20
Một là, thái độ giao tiếp: Nhân viên công tác xã hội phải có thái độ tôn
trọng, chấp nhận, gần gũi, cởi mở, không e ngại… khi tiếp xúc và làm việc