VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ QUỲNH NGỌC
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
VIỆT – HÀN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Minh
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hữu Minh. Các trích dẫn
và số liệu sử dụng trong luận văn là đáng tin cậy và có xuất xứ rõ ràng. Tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, năm 2016
Tác giả luận văn
Hồ Quỳnh Ngọc
1
CTXH
Công tác xã hội
2
GĐTKT
Gia đình trẻ khuyết tật
3
PHCN
Phục hồi chức năng
4
TKT
Trẻ khuyết tật
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
TÊN BẢNG SỐ LIỆU
STT
phục hồi chức năng tại Trung tâm
Bảng 2.4
Sự hài lòng của cán bộ, nhân viên Trung tâm về việc
42
đáp ứng các nhu cầu cho gia đình trẻ khuyết tật tại
Trung tâm
Bảng 2.5
Sự tham gia của gia đình vào các giai đoạn quản lý
52
ca
Bảng 2.6
Sự tham gia của gia đình vào việc xây dựng kế hoạch
53
trợ giúp cho trẻ khuyết tật
Biểu đồ
Tỷ lệ đánh giá cán bộ nhân viên Trung tâm trong
2.1.
giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác PHCN cho TKT.
Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn,thành phố Hà Nội (sau đây
gọi tắt là “Trung tâm”) là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội. Trung tâm có chức năng nuôi dưỡng, chăm
sóc, điều trị, PHCN và hướng nghiệp dạy nghề cho TKT trên địa bàn thành
phố Hà Nội. Để thực hiện chức năng này, bên cạnh việc chú trọng đến công
tác đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ nhân viên, Trung tâm còn thường
xuyên tổ chức các khóa tập huấn nâng cao kiến thức cho GĐTKT và cán bộ
địa phương về kỹ năng, phương pháp PHCN cho TKT tại cộng đồng.
Phần lớn TKT đang PHCN tại Trung tâm là TKT đặc biệt nặng, dù các
TKT tại Trung tâm đều có gia đình, nhưngcác GĐTKT tại Trung tâm thường
gặp rất nhiều khó khăn trong việc tham gia vào quá trình PHCN cho TKT.
Từ thực tiễn quá trình PHCN cho TKT tại Trung tâm, chúng tôi nhận
thấy vai trò của GĐTKT rất quan trọng. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải
1
làm thế nào để mỗi GĐTKTcó thể giúp đỡ, hỗ trợ cho TKT một cách tốt nhất.
Dù hiện nay, Trung tâm đã tiến hành các hoạt động CTXHđối với GĐTKT,
song thực tế hiệu quảcủa hoạt động này chưa cao. Do vậy, để thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm; đồng thời, phát huy tốt hơn nữa vai trò
của gia đình trong quá trình PHCN cho TKT,với mục đích tìm hiểu nhu cầu và
cung cấp các kỹ năng, phương pháp cho các GĐTKT, để phối hợp với
cácGĐTKT thực hiện có hiệu quả quá trình PHCN cho TKT. Chính vì vậy,việc
thực hiện các hoạt động CTXH đối với GĐTKT đang được nuôi dưỡng, chăm
sóc, điều trị, PHCN, giáo dục và hướng nghiệp dạy nghề tại Trung tâm là việc
làm cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc.
Xuất phát từ những lý do cơ bản đó, tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội
đối với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng
Việt – Hàn, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ ngành CTXH.
Cuốn “Giáo trình Nhập môn công tác xã hội” do tác giả Bùi Thị Xuân
Mai biên soạn được xuất bản năm 2010.Trong giáo trình này, khi bàn về nội
dung CTXH đối với gia đình, tác giả chủ yếu đề cấp đến nội dung phúc lợi gia
đình như một lĩnh vực hoạt động của CTXH có liên quan tới việc hoàn thiện,
tăng cường và ủng hộ gia đình đáp ứng các nhu cầu của họ. Đặc biệt, tác giả
có nói đến các hoạt động của nhân viên CTXH trong việc thực hiện phúc lợi
gia đình bao gồm: giúp gia đình giải quyết vấn đề; huy động các nguồn lực
hiện có và nếu có thể để tạo lập các nguồn lực mà gia đình cần; làm việc với
các cá nhân, nhóm để giúp đỡ gia đình có hiệu quả; thường xuyên đánh giá sự
thích hợp và hiệu quả của các chính sách, chương trình và dịch vụ hiện hành
có liên quan đến gia đình; giám sát các hoạt động khác nhau trong mối quan
hệ với gia đình được phục vụ..[32].
Cuốn tài liệu “Làm việc với cá nhân và gia đình (Công tác xã hội với
cá nhân và gia đình)” của khóa đào tạo CTXH cho các nhà quản lý trong lĩnh
vực CTXH, thuộc Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam do các tổ chức
3
MOLISA - ULSA - CFSI- ASI - AP - UNICEF phối hợp tổ chức năm 2012.
Cuốn tài liệu này có đề cập đến một số vấn đề chung về CTXH với gia đình
mà không đề cập đến CTXH với từng đối tượng gia đình cụ thể, trong đó có
GĐTKT[30].
Trong cuốn sách “Công tác xã hội với người khuyết tật” của PGS. TS
Nguyễn Thị Kim Hoa chủ biên, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát
hành cũng đề cập đến tác động của tình trạng khuyết tật đối với các mối quan
hệ gia đình, đồng thời đưa ra một số cách tiếp cận khi làm việc với
GĐTKT.[16]
Như vậy, nghiên cứu thuộc ngành CTXH về đề tài gia đình và người
khuyết tật đã được thực hiện rất nhiều, trên đây chỉ là một số công trình tiêu
Ba là, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện CTXH
đối với GĐTKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
Bốn là, đưa ra được một số định hướng và các giải pháp cơ bản để nâng
cao hiệu quả các hoạt động CTXH đối với GĐTKT tại Trung tâm PHCN Việt
– Hàn, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về các nội
dung CTXH đối với GĐTKT và các dịch vụ, nhu cầu CTXH đối với GĐTKT
đang được thực hiện tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:Cáccán bộ tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn
và các gia đình có TKT đang tham gia PHCN tại Trung tâm PHCN Việt –
Hàn, thành phố Hà Nội hiện nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên các nguyên
tắc phương pháp luận cơ bản của khoa học xã hội, trong đó đặc biệt tuân thủ
các nguyên tắc phương pháp luận của ngành xã hội học và ngành CTXH làm
5
cơ sở cho việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng nội
dung của đề tài.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
Phương pháp CTXH với gia đình: được áp dụng để nghiên cứu về
GĐTKT tại Trung tâm, dựa trên các thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết tiếp
cận dựa trên quyền, thuyết hệ thống, các kỹ năng phỏng vấn, tư vấn, thu thập
dữ liệu, đánh giá vấn đề, lắng nghe, thiết lập mối quan hệ, lập kế hoạch…
Phương pháp CTXH với TKT: được sử dụng để tìm hiểu về đặc điểm
khuyết tật, nhu cầu, cách tiếp cận, kỹ năng… trong suốt quá trình nghiên cứu
và làm việc với GĐTKT.
thời, góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận trong CTXH đối với
GĐTKT, chỉ ra các yếu tố chi phối CTXH đối với GĐTKT, cũng như làm rõ
thêm các cơ sở pháp lý trong CTXH đối với các GĐTKT.
6.2.Ý nghĩa thực tiễn:Đề tài đề xuất một số định hướng và giải pháp có
tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả trong CTXH đối với GĐTKT tại Trung
tâm. Kết quả nghiên cứu có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác phối
hợp giữa gia đình và Trung tâm trong quá trình PHCN cho TKT tại Trung tâm
và các đơn vị khác về những vấn đề liên quan.
7. Cơ cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo. Nội dung luận văn được thực hiện trong 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với gia đình trẻ
khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tậttại
Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Định hướng và giải pháp về công tác xã hội đối với gia đình
trẻ khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT
1.1. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Thuyết về nhu cầu của con người
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow - người được xem là “cha
đẻ” của lý thuyết nhu cầu cho rằng, hành vi của con người bắt đầu từ nhu cầu
của họ. Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các bậc thang khác
nhau và ông chia các nhu cầu đó thành nhu cầu cấp thấp và nhu câu cấp cao.
Nhu cầu cấp thấp: bao gồm các nhu cầu về vật chất (ăn, uống, mặc,
1.1.2. Lý thuyết về hệ thống
Quan điểm hệ thống cho rằng, hành vi của một đứa trẻ phải được liên
kết với các thành viên khác trong gia đình, các dấu hiệu được xem xét như sự
biểu hiện của các tập hợp thói quen và khuôn mẫu trong nội bộ gia đình. Quan
điểm này dựa trên các nhận định cho rằng, hành vi có vấn đề của thân chủ có
thể: Thứ nhất, dùng để thực hiện một chức năng hoặc mục đích nào đó cho
gia đình. Thứ hai, không có tính chủ định, duy trì trong quá trình của gia đình.
Thứ ba, là một hệ quả khi gia đình gặp bế tắc trong việc vận hành hiệu quả
các chức năng, đặc biệt trong các thời kỳ chuyển tiếp, phát triển. Thứ tư,là
một triệu chứng của sự rối loạn chức năng trong các khuôn mẫu kế thừa qua
các thế hệ.
Do đó, những nỗ lực thay đổi sẽ được tạo điều kiện thuận lợi nhất bằng
cách làm việc với gia đình và xem xét tổng thể các mối quan hệ bên trong.
Việc quan sát sự tương tác của các thành viên trong gia đình cũng như bối
cảnh rộng hơn mà cá nhân đó sinh sống là một điều rất quan trọng.
9
Đối với TKT tại Trung tâm, mặc dù các trẻ được học tập và sinh hoạt
nội trú tại Trung tâm, song các trẻ vẫn chịu nhiều tác động từ phía gia đình và
các thành viên gia đình. Xét đến cùng, gia đình là yếu tố rất quan trọng đối
với hiệu quả của quá trình PHCN cho trẻ. Chính vì vậy, luận văn sẽ sử dụng
lý thuyết hệ thống trên để tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về sự tác động của
gia đình đối với cá nhân TKT. Hoàn cảnh, môi trường sống và sự tham gia
của gia đình tác động đến sự phát triển và PHCN của trẻ như thế nào.
1.1.3. Thuyết tiếp cận dựa trên quyền
Thuyết có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ
thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch, cũng như tiến trình thực
hiện các hoạt động CTXH. Thuyết lấy quyền con người là trục xoay để giải
quyết vấn đề của thân chủ nhằm đảm bảo an sinh cho họ, hướng tới các giải
điển hình và có liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi như sau.
Theo Từ điển Xã hội học của Pháp (1973): “Gia đình là nhóm người
gắn bó với nhau bằng mối liên hệ hôn nhân, huyết thống hay việc nhận nuôi
con nuôi, có tác động qua lại giữa vợ và chồng, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ
và con cái, giữa anh chị em và họ hàng xa”.
Tác giả Mai Bích Loan (2000) đưa ra một khái niệm tổng quát về gia
đình như sau: “Gia đình là khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội
hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân(quan hệ tính giao và quan hệ tình
cảm), và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân(cha, mẹ, con cái,
ông bà, họ hàng nội ngoại)”.
Theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi
dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau”.
Trong luận văn này, gia đình được hiểu là những người gắn bó với
nhau trong các mối quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, các thành viên
trong gia đình có trách nhiệm, nghĩa vụ với nhau.
11
1.2.1.2. Khái niệm trẻ khuyết tật, phân loại trẻ khuyết tật, mức độ khuyết tật
- Về khái niệm trẻ khuyết tật
Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO):“TKT là những trẻ có thiếu hụt
cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng dẫn đến những hạn chế nhất
định trong hoạt động của cá nhân và gặp khó khăn, trở ngại (do môi trường
sống đem lại) trong việc tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong
xã ội - cộng đồng”.
Theo Điều 1 Pháp lệnh người tàn tật của Việt Nam năm 1998:“Trẻ tàn
tật là những trẻ từ 0-18 tuổi, không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật,
thiếu một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng biểu hiện dưới
người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. Hai là, khuyết tật nặng: bao
gồm những trẻ do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng,
không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại,
mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt
cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc. Ba là,
khuyết tật nhẹ: gồm những TKT không thuộc các trường hợp được quy đinh
tại hai mức độ trên.
1.2.1.3. Khái niệm gia đình trẻ khuyết tật
Dựa trên các khái niệm công cụ đã nêu trên, trong luận văn này có thể
hiểu rằng, “gia đình trẻ khuyết tật” là gia đình có ít nhất một trẻ bị mắc phải
các dạng tật kể trên. Do đặc điểm của TKT, trách nhiệm, vai trò, chức năng
của GĐTKT có nhiều thay đổi lớn so với gia đình không có TKT.
1.2.2. Khái niệm công tác xã hội, công tác xã hội với gia đình và công
tác xã hội với gia đình trẻ khuyết tật
1.2.2.1. Khái niệm công tác xã hội
Đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa về CTXH, chúng
tôi liệt kê ra đây một số khái niệm tiêu biểu, được nhiều người thừa nhận và
có liên quan mật thiết đến đề tài của chúng tôi, cụ thể là:
13
Năm 1970, Hiệp hội các nhân viên xã hội Mỹ (NASW) đã đưa ra khái
niệm: “CTXH là một hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những
cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn để họ tự PHCN xã hội
và tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được mục đích cá nhân”.
Đến năm 2000, Hiệp hội Nhân viên xã hội quốc tế (IFSW) định nghĩa:
“CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết vấn đề
trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người
dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng
tình cảm cho tất cả các thành viên trong gia đình (Colins, Jordan, Coleman,
2007). Các mục tiêu cụ thể trong CTXH với gia đình hướng tới bao gồm: Một
là, Tăng cường sức mạnh của gia đình để mọi người sẵn sàng cho những thay
đổi tốt hơn. Hai là, Cung cấp thêm những can thiệp gia đình để gia đình duy
trì thực hiện chức năng một cách hiệu quả. Ba là, Tạo ra những thay đổi cụ
thể trong việc thực hiện chức năng của gia đình nhằm duy trì hoạt động để
đảm bảo tốt cuộc sống hàng ngày.[xem 30, tr 77].
1.2.2.3. Khái niệm công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật
Có thể thấy rằng, CTXH đối với GĐTKT là một lĩnh vực đặc thù trong
CTXH đối với gia đình nói chung. Trên cơ sở các khái niệm về CTXH,
CTXH đối với gia đình và khái niệm TKT, GĐTKT, có thể hiểu CTXH đối
với GĐTKT là quá trình nhân viên xã hội sử dụng phương pháp CTXH đối
với gia đình để tác động lên nhóm đối tượng là GĐTKT có khó khăn trong
cuộc sống do khuyết tật của con mình mang lại. Thông qua tiến trình trợ giúp
đó nhân viên xã hội sẽ đưa ra nhiều loại chương trình khác nhau để hỗ trợ gia
đình vượt qua những khó khăn mà họ đang gặp phải.
Mục đích của CTXH đối với GĐTKT:Một là, giúp các GĐTKT ngăn
ngừa hoặc cải thiện những vấn đề khó khăn của họ, những khó khăn này có
thể do họ không thể thích nghi được với hoàn cảnh sống khi có con bị khuyết
tật, hoặc trong quan hệ của họ với các thành viên trong gia đình và những
15
người xung quanh. Hai là, giúp phát huy được những tiềm năng của gia đình và
tận dụng được những nguồn hỗ trợ từ các nhóm phù hợp và từ cộng đồng để
phát triển cuộc sống của họ và giải quyết khó khăn do khuyết tật của trẻ gây ra.
Đặc điểm của CTXH đối với GĐTKT: CTXH đối với GĐTKT là một
quá trình tổng hợp nhiều phương pháp, kỹ năng và các lý thuyết CTXH trong
quá trình giúp đỡ GĐTKT giải quyết vấn đề của họ và để tạo ra những thay
tin ở GĐTKT để họ cảm thấy thoải mái, tin tưởng khi bày tỏ những vấn đề và
nhu cầu của họ trong quá trình PHCN cho TKT.
Bốn là, khuyến khích gia đình tham gia vào quá trình PHCN cho TKT:
gia đình sẽ cảm thấy tự tin khi được khuyến khích hoặc hướng dẫn để đưa ra
những quyết định liên quan đến quá trình PHCN của TKT. Không ai có thể
hiểu được trẻ khuyết tật, đặc điểm và nhu cầu của con họ bằng họ. Chính vì
vậy, việc khuyến khích gia đình tham gia vào quá trình PHCN cho TKT sẽ
giúp cho nhân viên CTXH có những đánh giá đúng đắn về TKT và GĐTKT,
từ đó có thể đưa ra những biện pháp giải quyết phù hợp với nhu cầu và hoàn
cảnh của từng gia đình.
Năm là, bảo vệ bí mật GĐTKT: Đây là yêu cầu đạo đức đối với nghề
CTXH, phải tôn trọng và bảo vệ bí mật tuyệt đối tất cả nhũng thông tin liên
quan đến GĐTKT trong suốt quá trình làm việc với họ. Những thông tin của
GĐTKT chỉ có thể chia sẻ với những người có liên quan trong quá trình giải
quyết vấn đề với điều kiện GĐTKT đã được thông báo, được giải thích và
hiểu rõ lí do tại sao phải chia sẻ thông tin và GĐTKT đã đồng ý với việc đó.
Sáu là, can thiệp và giúp đỡ có kiểm soát: Trong suốt quá trình hỗ trợ
nhân viên CTXH phải thiết lập được mối quan hệ tốt với GĐTKT để có thể tạo
được niềm tin của gia đình, từ đó GĐTKT mới cảm thấy tự tin và thoải mái khi
trình bày vấn đề của mình. Nhân viên CTXH có thể đặt mình vào vị trí của
từng GĐTKT để có thể hiểu được cảm xúc, hành vi và nhu cầu của họ. Điều
này không có nghĩa là nhân viên CTXH sẽ chia sẻ và đồng cảm với những cảm
17
xúc đó mà cần phải giữ một khoảng cách để có thể nhận định khách quan về
GĐTKT. Do vậy, mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và GĐTKT phải được
xây dựng trên cơ sở quan hệ nghề nghiệp và nhân viên CTXH phải biết cách tự
kiểm soát cảm xúc của mình trong quá trình hỗ trợ GĐTKT.
người khuyết tật PHCN dựa vào cộng đồng.[39]
1.3.2. Đối với trẻ khuyết tật
Năm 1990 Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em,
một năm sau Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành, đến
năm 2004 luật này được sửa đổi bổ sung nhằm thể chế hóa việc thực hiện các
quyền của trẻ em tại Việt Nam, trong đó có nhiều quy định cụ thể về những
chính sách đối với TKT. Cụ thể là tại điều 25 của luật này có viết: “Trẻ em
khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học được gia đình,
Nhà nước và xã hội giúp đỡ, chăm sóc, được tạo điều kiện để sớm phát hiện
bệnh, chữa bệnh, PHCN; được nhận vào các lớp học hoà nhập, lớp học dành
cho trẻ em khuyết tật, tàn tật; được giúp đỡ học văn hoá, học nghề và tham
gia hoạt động xã hội”.[38]
Về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, được quy định tại điều 4
Luật Người khuyết tật năm 2010, trong đó ghi rõ người khuyết tật được bảo
đảm thực hiện các quyền sau đây: Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã
hội; Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; Được miễn hoặc giảm một số khoản
đóng góp cho các hoạt động xã hội; Được chăm sóc sức khỏe, PHCN, học văn
hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng,
phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch
và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật. Cũng trong luật
này, tại điều 5 “Chính sách của Nhà nước về người khuyết tật” đã khẳng định:
Hàng năm, Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chính sách về người khuyết
tật. Phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương
tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật. Bảo trợ xã hội; trợ giúp người
19
khuyết tật trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm, văn hóa, thể
thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công nghệ thông tin, tham gia