Quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật tại thành phố hồ chí minh - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MAI XUÂN

QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016

HÀ NỘI - năm


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung
tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật tại thành phố Hồ Chí Minh” là hoàn
toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mai xuân



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QLTH

Quản lý trường hợp

NVQLTH

Nhân viên quản lý trường hợp



Gia đình

KT

Khuyết tật

ĐT

Đối tượng

TEKT

Trẻ em khuyết tật

PHCN

Phục hồi chức năng



vận động và khuyết tật liên quan đến thần kinh và trí tuệ. Cụ thể: 17% khuyết tật
tâm thần, 7% khuyết tật ngôn ngữ, 7% liên quan tới trí tuệ. Tỷ lệ nam là người
khuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân, hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai
nạn giao thông, tai nạn thương tích…. Đa số trẻ khuyết tật sống với gia đình
(95.85%) và có người chăm sóc. Một nửa số hộ gia đình có trẻ khuyết tật gặp khó
khăn lớn về tài chính, nên không thể cung cấp những điều kiện đầy đủ cho trẻ được
phục hồi chức năng và học hành. [33]
Đối với trẻ em khuyết tật và gia đình có trẻ em khuyết tật còn gặp nhiều khó
khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ như: tham vấn, tư vấn các dịch vụ, y tế, chăm
sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tiếp cận được các dịch vụ xã hội, hưởng chính
sách xã hội, các nhu cầu của người khuyết tật không được đáp ứng, các quyền lợi cơ
bản đối với trẻ khuyết tật như: việc được can thiệp, điều trị phục hồi chức năng,
việc được đi học, được hòa nhập cộng đồng … còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại.
Thực tế hiện nay, trên toàn thành phố Hồ Chí Minh khoảng hơn 40% trẻ em
khuyết tật không có giấy xác nhận khuyết tật, với nhiều nguyên do khác nhau. Khi
trẻ không có giấy xác nhận khuyết tật thì việc trẻ được hưởng các chính sách, chế
độ, các nhu cầu của trẻ khuyết tật không được đáp ứng theo luật khuyết tật. Tại
trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật hiện đang nuôi dưỡng, chăm
sóc, điều trị phục hồi chức năng cho hơn 150 trẻ em khuyết tật với những dạng tật
như: Bại não; Down; Tự kỷ; Chậm phát triển trí tuệ; Đa khuyết tật …. Đối với
những trẻ khuyết tật này đa phần không tự chăm sóc được, phục vụ bản thận được,
trẻ không nói được …
Hoạt động công tác xã hội và nhất là quản lý trường hợp trong trợ giúp người
khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh được phát triển ngày một tốt hơn nhằm đáp
ứng nhu cầu cho nhóm đối tượng là người khuyết tật như sau:

1


Người khuyết tật thuộc nhóm yếu thế do sự khiếm khuyết cơ thể, các chức


2


được hoà nhập cộng động – là một biện pháp giúp họ phát triển nhân cách, tăng
cường giao lưu và học hỏi xã hội.
Chúng ta đã có những người làm công tác xã hội như các nhân viên ở trung
tâm bảo trợ xã hội, cán bộ phụ nữ làm công tác dân số trẻ em ở xã phường… Chỉ có
điều, họ chưa được đào tạo bài bản và làm việc chưa chuyên nghiệp. Phần đông là
làm trái ngành nghề, kiêm nhiệm, thiếu những kỹ năng cần thiết. Tuy nhiên, hiện
vẫn chỉ có đội ngũ cán bộ nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp với tỷ lệ
khiêm tốn. Do không có chuyên môn nên họ làm việc theo trực giác, thiếu nhận
thức, hiểu biết và những kỹ năng cần thiết về công tác xã hội nên hiệu quả giải
quyết các vấn đề không cao và thiếu bền vững.
Cùng với đó, nhận thức về nghề công tác xã hội còn rất mới mẻ, sự phát triển
và đào tạo cán bộ, nhân viên trong lĩnh vực này chưa được hình thành một cách
đồng bộ. Mạng lưới nhân viên và tổ chức cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn
mỏng và thiếu tính chuyên nghiệp.
Chính sách xã hội phải gắn liền với khả năng xây dựng và triển khai các dịch
vụ xã hội. Việc chuyển các mô hình chính sách từ trợ cấp về mặt tài chính sang các
mô hình đào tạo nghề, đào tạo kỹ năng sống, tổ chức các dịch vụ nâng cao khả năng
sống độc lập của người khuyết tật là hết sức cần thiết. Đồng thời, tiếng nói của
người khuyết tật cần được thể hiện rõ trong tiến trình xây dựng luật và hệ thống
chính sách cho chính người khuyết tật. Các hoạt động nghiên cứu và thực hành về
công tác xã hội cũng cần thêm chức năng và nhiệm vụ đóng góp vào việc đưa tiếng
nói của người khuyết tật trong các chính sách xã hội và chương trình xã hội.
Việc quan tâm tạo nguồn nhân viên xã hội cần chú trọng nhiều hơn đến khía
cạnh kỹ năng và khía cạnh đạo đức nghề nghiệp. Hiện các chương trình đào tạo ở
các trường đại học đã có những môn học liên quan đến lĩnh vực khuyết tật, tuy
nhiên chưa hình thành có hệ thống về mặt nội dung đào tạo và thực hành, nhất là

trong việc định hướng cho nhân viên công tác xã hội nhận thấy thêm một vai trò
nữa trong việc hỗ trợ người khuyết tật nói riêng và các đối tượng khác nói chung,
đó là quản lý trương hợp cho người khuyết tật. vì trong công tác xã hội cũng có một
phần quản lý trường hợp, việc quản lý trường hợp giúp cho nhân viên công tác xã
hội có được sự theo dõi giám sát đối tượng thường xuyên, kết nối các nguồn lực,
các dịch vụ trợ giúp đối tượng, có định hướng nâng cao năng lực cho đối tượng,
giúp đối tượng có khả năng tự lực.
Nhưng việc thực hiện quản lý trường hợp với công tác xã hội còn bị nhầm
lẫn với nhau, nhân viên quản lý trường hợp và nhân viên công tác xã hội đang được

4


nghỉ đó là một, và khi nói đến quản lý trường hợp nhân viên đang làm những công
việc của quản lý trường hợp mà không biết, họ nghỉ đó là công tác xã hội. Ngoài ra,
QLTH chưa được đào tạo, hay tập huấn rộng rãi cho các nhân viên tại các trung tâm
bảo trợ xã hội và tại các địa phương, chỉ có tập huấn về công tác xã hội và lồng
ghép vào một phần QLTH.
Hiện nay, việc thực hiện QLTH cho người khuyết tật có quá nhiều biểu mẫu,
và việc thực hiện gặp nhiều khó khăn, nội dung trong biểu mẫu nhiều trùng lắp, nội
dung trong biểu mẫu cứng nhắc không uyển chuyển do đối với người khuyết tật
không giống nhau, từ dạng tật đến nhu cầu, điều kiện, đến các kỹ năng của người
khuyết tật.
Trên thực tế việc đáp ứng được nhu cầu quản lý trường hợp cho người
khuyết tật cần có mội đội ngũ nhân viên QLTH có đủ kỹ năng, kiến thức và làm
việc nhiệt huyết mới đáp ứng được nhu cầu hiện nay.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài : “Quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật
từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật tại thành phố Hồ
Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

người khuyết tật đang được triển khai ở nhiều địa phương theo Thông tư 01/TT-Bộ
LĐTB &XH về công tác Quản lý trường hợp với người khuyết tật nhưng còn nhiều
khó khăn như khó khăn về kinh phí, nguồn nhân lực, nhận thức của chính quyền địa
phương các cấp về công tác này. Đồng thời, thông qua các bài báo cáo của các
chuyên gia và phần hỏi - đáp, thảo luận đã gợi mở những định hướng nghiên cứu
cho học viên cao học, nghiên cứu sinh lựa chọn để làm chủ đề, phát triển nghiên
cứu của đề tài luận văn cao học. [32]
Tạo điều kiện để người khuyết tật được chỉnh hình, phục hồi chức năng;
khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng. Đào tạo, bồi dưỡng
người làm công tác tư vấn, chăm sóc người khuyết tật. Khuyến khích hoạt động trợ
giúp người khuyết tật. Tạo điều kiện để tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì
người khuyết tật hoạt động có hiệu quả. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thành tích, đóng góp trong việc trợ giúp người khuyết tật.
Gia đình có trách nhiệm giáo dục, tạo điều kiện để thành viên gia đình nâng
cao nhận thức về vấn đề khuyết tật, thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu
khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn
đến khuyết tật. Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm sau đây: Bảo vệ, nuôi
dưỡng, chăm sóc người khuyết tật; Tạo điều kiện để người khuyết tật được chăm
sóc sức khỏe và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; Tôn trọng ý kiến của người

6


khuyết tật trong việc quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân
người khuyết tật và gia đình. [9]
Một số công trình nghiên cứu về người khuyết tật, trẻ em khuyết tật:
Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổng quát
nhất về công tác xã hội với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp
tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật, vai trò
của nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết tật, các kỹ năng làm việc với

việc làm. Tỷ lệ đọc, viết của thanh thiếu niên khuyết tật từ 14 đến 25 tuổi thấp hơn
so với người ở độ tuổi trưởng thành nói chung mặc dù trong nhóm dân số không
khuyết tật tỉ lệ biết đọc, biết viết cao hơn so với nhóm ở độ tuổi trưởng thành.Tỷ lệ
người khuyết tật tham gia lực lượng lao động thấp hơn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn
so với 14 người không khuyết tật. Tình trạng đa khuyết tật là tương đối phổ biến.
Nghiên cứu cho thấy người đa khuyết tật có trình độ học vấn thấp hơn, tỷ lệ tham
gia lực lượng lao động thấp hơn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn. [10]
Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt
Nam, tổ chức lao động quốc tế. Báo cáo này cung cấp một cách nhìn tổng thể về các
tổ chức của người khuyết tật và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển
doanh nghiệp cho người khuyết tật. Báo cáo đưa ra một số kết quả phân tích quan
trọng như: tại Việt Nam, người khuyết tật ít được đào tạo nghề, hướng dẫn việc làm
cũng như phát triển doanh nghiệp, cần có các dịch vụ đào tạo riêng. Báo cáo đã nêu
ra một số hạn chế về cơ chế, chính sách pháp luật về người khuyết tật như: pháp
luật Việt Nam chưa nêu rõ hoạt động chủ đạo và chính phủ chưa có chính sách
khuyến khích đào tạo nghề hòa nhập riêng ngoài chính sách giáo dục hòa nhập. Tuy
có nhiều trường nghề được thành lập nhưng chủ yếu phục vụ các khu vực thành thị,
tại các khu vực nông thôn, việc tiếp cận đào tạo nghề bị hạn chế. Các dịch vụ bố trí
việc làm thường gắn liền với cơ sở đào tạo nghề. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp được
việc làm sau đào tạo nghề khá thấp và phần lớn những học viên tốt nghiệp chủ yếu
tìm được việc làm tại cơ sở dành riêng cho người khuyết tật không phải tại các
doanh nghiệp thông thường. Rất ít các dịch vụ cung cấp cho phụ nữ khuyết tật. Phụ
nữ khuyết tật đang từng bước tiếp cận các dịch vụ trợ giúp thông qua Hội liên hiệp
phụ nữ Việt Nam. [12]
Qua quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài,
có thể thấy rằng người khuyết tật luôn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế và của
Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tuy vậy, tiếp cận từ góc nhìn quản lý trường hợp đối với
trẻ em khuyết tật còn hạn chế về số lượng và chất lượng, đặc biệt tại thành phố Hồ
Chí Minh là một trong những thành phố lớn của Việt Nam, có mật độ dân số cao, tỷ


trạng nhiệm vụ quản lý trường hợp như là: thu thập thông tin và nhu cầu của trẻ em
khuyết tật; đánh giá trẻ khuyết tật; xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ em khuyết tật;
thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ em khuyết tật; lượng giá và kết thúc quản lý trường
hợp với trẻ em khuyết tật.

9


Phạm vi về khách thể nghiên cứu: đề tài nghiên cứu 35 nhân viên quản lý
trường hợp và 10 trẻ em khuyết tật từ 6 tuổi đến 14 tuổi. Tất cả các trẻ được khảo
sát từ người giám hộ là cha mẹ hoặc người chăm sóc cho trẻ 10 người.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên cơ sở những văn bản quy định trong quản lý trường hợp
đối với người khuyết tật, áp dụng vào thực tế đang thực hiện tại đơn vị đưa ra
những thuận lợi khó khăn và hướng đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả trong quản
lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại đơn vị.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận trong hệ thống lý thuyết có liên quan trực
tiếp đến đề tài như: dịch vụ y tế cho trẻ khuyết tật, phục hồi chức năng, giáo dục
chuyên biệt, giáo dục hòa nhập đối với trẻ em khuyết tật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu: Thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các
nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những những nội
dung liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp
gián tiếp thông qua người giám hộ (cha, mẹ hoặc ông bà, cô dì, chú bác, người
chăm sóc trực tiếp cho trẻ) dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra
viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi cho
người giám hộ trẻ khuyết tật, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi
ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên.

Giúp cho nhân viên quản lý trường hợp trẻ em khuyết tật nói riêng và nhân
viên công tác xã hội các nghành khác nói chung hiểu biết thêm về quản lý trường
hợp đối với người khuyết tật nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung
của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ em
khuyết tật
Chương 2: Thực trạng về quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật tại
trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp trẻ khuyết tật từ
thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật

11


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ
EM KHUYẾT TẬT
1.1. Trẻ em khuyết tật: Khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về trẻ em
Trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh và tuổi dậy thì. Định
nghĩa pháp lý về một "trẻ em" nói chung chỉ tới một đứa trẻ, còn được biết tới là
một người chưa tới tuổi trưởng thành. [19]
Trẻ em cũng có thể được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ
(như con trai và con gái ở bất kỳ độ tuổi nào) hoặc với nghĩa ẩn dụ, hoặc thành viên
nhóm trong một gia tộc, bộ lạc, hay tôn giáo, nó cũng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ
bởi một thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc hoàn cảnh, như trong "một đứa trẻ vô tư"
hay "một đứa trẻ của những năm sáu mươi ".

hay lệch chuẩn về sức khỏe thể lý, sức khỏe tâm thần.
1.1.2. Biểu hiện tâm lý và nhu cầu của trẻ em khuyết tật
Nhân viên QLTH để làm tốt công việc của mình cần hiểu biết về tâm lý cá
nhân và gia đình, hiểu được nhu cầu, các mối quan hệ giữa các yếu tố văn hóa, xã
hội kinh tế và tâm lý xã hội. Mặt khác, nhân viên QLTH cũng cần phải biết về kiến
thức về chính sách, chương trình của nhà nước và tại địa phương dành cho các
nhóm đối tượng yếu thế cũng như kiến thức về các chương trình dịch vụ an sinh
hiện có trong cộng đồng.
1.1.2.1. Biểu hiện tâm lý của trẻ em khuyết tật
Tâm lý của người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so
với những người bình thường khác. Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được chẳng hạn như khuyết chi - họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại
hình (Body Dysmorphic Disorder), tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết
cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn - mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình
không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn
tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường
điệu chúng lên. Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội một
kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao
lưu gặp gỡ ở chỗ đông người. Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người
ta nhận thấy ở nhiều người khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao. [30]

13


Đối với trẻ em khuyết tật biểu hiện về mặt tâm lý của trẻ chưa rõ ràng, chỉ là
những biểu hiện về bệnh lý về mặt tâm lý là chính. Những vấn đề tâm lý chính từ
gia đình, người thân có mặc cảm với những người xung quanh về vấn đề khiếm
khuyết của trẻ, từ đó có những biểu hiện bỏ mặt trẻ, thậm chí bỏ rơi trẻ, không chăm
sóc, hoặc vì khiếm khuyết của trẻ dẫn gia đình đến việc túng quẩn, khó khăn về
kinh tế, thậm chí có một số gia đình dẫn đến việc ly hôn giữa ba và mẹ của trẻ …..
đây cũng là những vấn đề của xã hội hiện nay cần có những biện pháp, những

được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu
tin cậy.
Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) cần có cảm giác được tôn trọng,
kinh mến, được tin tưởng.
Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) muốn sáng tạo, được thể
hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là
thành đạt.
Đối với trẻ em khuyết tật cũng có những nhu cầu cơ bản, chứ không ngoại
trừ, điều cần thiết thêm cho trẻ em khuyết tật là nhu cầu điều trị phục hồi chức năng,
giảm thiểu những khiếm khuyết của trẻ càng nhiều càng tốt, giúp cho trẻ sớm hòa
nhập cộng đồng.
1.2. Lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm quản lý trường hợp (QLTH)
Quản lý trường hợp (tiếng Anh là Case Management) còn được gọi là quản
lý ca, trong trong đề tài nghiên cứu này xin gọi chung là Quản lý trường hợp
(QLTH). Ở một số nước, QLTH được sử dụng trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ
an sinh cho con người (QLTH trong y tế nhằm chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân;
QLTH với người nghiện ma túy, người nhiễm HIV/AIDS...) và cả trong lĩnh vực
luật pháp (luật sư tư vấn luật cho các ĐT...) [21]
Quản lý trường hợp còn được gọi là hoạt động của một nhóm người bao gồm
các công việc như tổ chức, phối hợp, duy trì một mạng lưới trợ giúp để đáp ứng nhu
cầu của đối tượng. [21]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về QLTH. Sau đây là một số định nghĩa về
QLTH của các tác giả trên thế giới:
Luise Johnson (1995) cho rằng QLTH là sự điều phối các dịch vụ, trong quá
trình này nhân viên xã hội làm việc với thân chủ để xác định dịch vụ cần thiết, tổ

15


hội, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu của trẻ khuyết tật (là cá nhân, gia đình
người KT), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp TEKT

16


phục hồi chức năng và các vấn đề khác. Quản lý trường hợp còn là sự phối hợp giữa
các dịch vụ hỗ trợ xã hội và y tế, giáo dục đặc biệt, tâm lý, nguồn lực nhằm hỗ trợ
các nhu cầu cần thiết cho TEKT, chủ yếu với mục đích chăm sóc, phục hồi chức
năng và hòa nhập cộng đồng.
Khái niệm QLTH đối với TEKT là một hoạt động chuyên nghiệp của công
tác xã hội thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ đánh giá nhu cầu của trẻ em
khuyết tật và gia đình, xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm
giúp trẻ em khuyết tật và gia đình tiếp cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề
của họ một cách hiệu quả.
1.2.2. Nguyên tắc trong quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật
Có rất nhiều nguyên tắc quản lý trường hợp khác nhau, tuy nhiên trong
QLTH đối với TEKT thì các nguyên tắc sau cần được coi trọng hơn cả, đó là:
* Nguyên tắc tôn trọng, không phán xét
Chấp nhận trẻ em khuyết tật trong mọi hoàn cảnh sẽ giúp nhân viên có được
thái độ tôn trọng và tránh sự phán xét khi làm việc với TEKT. Điều này giúp thiết
lập và tăng cường mối quan hệ giữa người trợ giúp và TEKT. Trên cơ sở đó sẽ thúc
đẩy hiệu quả giúp đỡ.
* Nguyên tắc thúc đẩy và vận động xã hội tạo điều kiện để hỗ trợ đối tượng
giải quyết vấn đề thông qua hệ thống cung cấp dịch vụ
NVQLTH thực hiện hoạt động trợ giúp này thông qua tìm kiếm các nguồn
lực, điều phối việc cung cấp các dịch vụ và nguồn lực liên quan đến nhu cầu của
đối tượng.
Thu hút sự tham gia của đối tượng, gia đình, cộng đồng và các nhà cung cấp
dịch vụ vào tiến trình QLTH: Thu hút sự tham gia của cá nhân đối tượng, gia đình

Các thông tin cần thu thập:
Các thông tin nhân khẩu về trẻ em khuyết tật: họ tên của trẻ; tuổi; giới tính;
nơi ở của trẻ
Thông tin về gia đình môi trường chăm sóc trẻ khuyết tật: họ tên cha mẹ
hoặc người nuôi dưỡng trẻ; nghề nghiệp của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng; nơi ở
của cha mẹ, hoặc người nuôi dưỡng.
Các dạng khiếm khuyết của trẻ: khiếm khuyết vận động; khiếm khuyết trí
tuệ; thể trạng; sức khỏe; dạng khuyết tật; mức độ khuyết tật; trẻ bị bỏ rơi, sao
nhãng, các nhu cầu cơ bản không được đáp ứng đầy đủ.

18


Nguy cơ trẻ gặp phải: trẻ thiếu dinh dưỡng do không được chu cấp, trẻ bị bỏ
rơi, hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, trẻ bị bạo hành, người chăm sóc không biết
cách chăm sóc trẻ khuyết tật.
Thông tin tiền sử của trẻ khuyết tật: quá trình mẹ mang thai đến lúc phát hiện
tình trạng khuyết tật của trẻ.
Thông tin về quá trình điều trị phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật, các
dịch vụ nào trẻ đã sử dụng.
1.2.3.2. Đánh giá trẻ em khuyết tật
Dựa trên những thông tin thu thập được nhân viên quản lý trường hợp đánh
giá sơ bộ mức độ khuyết tật, nhu cầu, hoàn cảnh gia đình, nguy cơ gây tổn hại đến
TEKT.
- Đánh giá về tình trạng của trẻ
- Đánh giá các yếu tố gây tổn hại đến trẻ
- Đánh giá môi trường chăm sóc trẻ em khuyết tật
- Đánh giá về nhu cầu của trẻ em khuyết tật
- Đánh giá hoàn cảnh gia đình
- Đánh giá nhu cầu chăm sóc sức khỏe và y tế

thiếu kỹ năng trong việc chăm sóc, phục hồi chức năng cho TEKT. Đối với TEKT
có vấn đề về rối nhiễu tâm trí có nhiều hạn chế trong việc duy trì và phát triển các
mối quan hệ, tập trung chú ý kém, không tuân thủ các nội quy, quy tắc, dẫn tới việc
lơ là học tập, có những hành vi phá rối, không nhận thức được sự nguy hiểm, hay có
hành vi nguy hại đến bản thân và người xung quanh.
Xác định nhu cầu ưu tiên của thân chủ, trên cơ sở đó xác định mục tiêu trợ
giúp dựa trên các vấn đề đã được xác định và được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên,
NVQLTH cần tiếp tục xác định nhu cầu ưu tiên của thân chủ để từ đó đưa ra giải
pháp can thiệp phù hợp. Những nhu cầu cơ bản như: Chăm sóc y tế, phục hồi chức
năng, dinh dưỡng, hỗ trợ tâm lý, giáo dục, học nghề, việc làm, kỹ năng sống, mối
quan hệ gia đình và xã hội, tham gia hòa nhập cộng đồng …..
Xây dựng các hoạt động can thiệp nhân viên QLTH phối hợp với người
khuyết tật, gia đình hoặc người giám hộ, người có trách nhiệm liên quan để xây
dựng kế hoạch trợ giúp người khuyết tật. Đối với TEKT những người tham gia
từ phía gia đình như: cha, mẹ, ông, bà hoặc họ hàng hay người bảo trợ. Nội dung
kế hoạch trợ giúp người khuyết tật gồm có những nội dung cơ bản: Hỗ trợ sinh
kế, chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục, học nghề, việc làm, mối quan hệ gia đình

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status