Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng trẻ tàn tật thụy an, hà nội - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ LAN LY

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC
TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TRẺ
TÀN TẬT THỤY AN, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số:

60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS.LÊ THỊ QUÝ

Hà Nội, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn của mình được thực hiện dựa vào hiểu biết và
quá trình tìm tòi, cố gắng, thực hiện của bản thân cùng sự hướng dẫn của
GS.TS. Lê Thị Quý. Công trình nghiên cứu của tôi không sao chép của bất kỳ
cá nhân hay tổ chức nào. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung
thực. Và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2016
Học viên thực hiện

Đỗ Lan Ly

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 59


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Chữ viết tắt

Chữ đầy đủ

1

CTXH

CÔNG TÁC XÃ HỘI

2

CTXHCN

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

3

CTV

CỘNG TÁC VIÊN


ra những tổn thương sâu sắc khi trưởng thành.
Tại Việt Nam, chính phủ đã ban hành nhiều chính sách cũng như luật
dành cho trẻ em và trẻ khuyết tật, có rất nhiều hoạt động cũng được triển khai
và triển khai thành công. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã được ghi
nhận, có một bộ phận không nhỏ trẻ khuyết tật, đặc biệt là trẻ tự kỷ chưa được
quan tâm một cách đầy đủ và chưa nhận được sự hỗ trợ hiệu quả từ nhà nước
và xã hội.
Về mặt lý luận, tự kỷ là một dạng khuyết tật, trẻ tự kỷ là một trong
những đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất, và ngày càng có xu hướng gia
1


tăng. Trên thế giới, ở các nước như Anh, Mỹ, Canada …có các Luật riêng
dành cho trẻ tự kỷ, điều này cho thấy, tự kỷ thực sự là một dạng khuyết tật
với các đặc tính riêng và cần nhận được quan tâm đúng mức từ nhà nước,
pháp luật và xã hội. Nhờ có hành lang pháp lý mà công tác phục hồi chức
năng, trợ giúp xã hội cũng như các nghiên cứu liên quan đến tự kỷ cũng được
tiến hành chuyên nghiệp và thuận lợi hơn tại các quốc gia này. Ở Việt Nam
hiện nay, mặc dù có xu hướng gia tăng nhưng tự kỷ vẫn chưa được pháp luật
công nhận là một dạng khuyết tật và thường được đưa chung vào các dạng
khuyết tật như chậm phát triển trí tuệ và không được đánh giá đúng dạng
khuyết tật để có thể đưa ra các biện pháp phục hồi đúng và kịp thời, đồng thời
trẻ mắc hội chứng tự kỷ cũng không được giám định và hưởng các phúc lợi xã
hội dành cho trẻ khuyết tật, điều này là một thiệt thòi lớn cho các em. Trẻ
khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng rất cần được can thiệp một cách
chuyên nghiệp và có kế hoạch cụ thể, đòi hỏi sự tham gia của nhân viên xã
hội, của bác sỹ chuyên khoa, của giáo dục đặc biệt, của gia đình, nhà trường
và cộng đồng. Phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật là một lĩnh vực không
mới, công tác phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật nói chung đã được tiến
hành từ rất lâu và có nhiều nghiên cứu hỗ trợ cho việc phục hồi chức năng đối

còn xa lạ, và giới chuyên môn cũng đã dần công nhận rằng tự kỷ là một dạng
khuyết tật và cần có sự can thiệp, đồng thời cũng có một số nghiên cứu về trẻ
tự kỷ và hội chứng tự kỷ. Cụ thể:
Đề tài “Nghiên cứu biện pháp can thiệp sớm và giáo dục hoà nhập cho
trẻ tự kỷ ở nước ta hiện nay và trong giai đoạn 2011 – 2020” do GS.TS.
Nguyễn Thị Hoàng Yến làm chủ nhiệm được coi là đề tài có qui mô lớn đầu
tiên được triển khai tại Việt Nam, trong đó có sự phối hợp liên ngành giữa
Giáo dục – Y tế - Bảo trợ xã hội, địa bàn nghiên cứu mang tính đại diện.
Nhóm đã thực hiện nghiên cứu trên một số địa bàn như Hà Nội, thành phố Hồ
3


Chí Minh, Đà Nẵng, Thái Nguyên, Thái Bình và Đồng Nai với các nhiệm vụ
nghiên cứu chính là xây dựng hệ thống lý luận, khảo sát thực trạng, đề xuất
biện pháp, thực nghiệm và dự báo. Từ việc phân tích toàn diện thực trạng vấn
đề trẻ tự kỷ, can thiệp sớm, giáo dục hoà nhập và bảo trợ xã hội cho trẻ tự kỷ
ở Việt Nam, đề tài xây dựng mô hình giải quyết vấn đề trẻ tự kỷ trên cơ sở sự
phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục - Bảo trợ xã hội. Đồng thời, đề tài đã đưa
ra những dự báo có tính định hướng cho việc giải quyết vấn đề trẻ tự kỷ ở
Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 cũng như những nghiên cứu tiếp theo.
Đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ từ 18 đến 36
tháng tuổi” của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang – Bệnh viện Nhi Trung
ương được thực hiện dựa trên theo dõi 251 trẻ tự kỷ trong độ tuổi từ 18 đến
36 tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ tự kỷ ở mức độ nặng chiếm tỷ lệ
cao, với một số đặc điểm chung như: Khiếm khuyết về chất lượng quan hệ
xã hội như: Không giao tiếp bằng mắt (86,9%), không biết gật đầu hay
lắc đầu khi đồng ý hoặc phản đối (97,6%), Thích chơi một mình
(94,8%), không biết khoe khi được đồ vật (976%), không đáp ứng khi
được gọi tên (96,8 %). Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp: Phát ra
một chuỗi âm thanh khác thường (82,1%), không biết chơi giả vờ

kém hoặc rất kém, việc phục hồi chức năng cho trẻ cần gắn liền với các
chương trình can thiệp đặc biệt.
Và “Những khoảnh khắc lóe sáng trong tương tác mẹ con của trẻ có nét
tự kỷ ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Đức góp phần rất lớn về mặt lý
luận cũng như đề xuất các phương pháp trị liệu đối với các trẻ tự kỷ tại nước
ta. Luận án đã được ứng dụng vào một số trường chuyên biệt dành cho trẻ tự
kỷ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, cuốn “Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ”của các tác giả Phạm
Toàn, Lâm Hiểu Minh cũng mang tính thực tế cao, đây là một cuốn sách đưa
5


ra cái nhìn tổng quan nhất cũng như các biểu hiện lâm sàng dễ nhận biết nhất
về hội chứng tự kỷ, giúp cha mẹ có cái nhìn tổng thể và sâu sắc hơn về hội
chứng này, từ đó có thể giúp trẻ được can thiệp sớm và kịp thời, giúp trẻ sớm
phục hồi các chức năng và hòa nhập xã hội.
Qua quá trình tổng quan tài liệu, tôi nhận thấy, đề tài về thực hành Công
tác xã hội cá nhân trong can thiệp cho trẻ tự kỷ chưa có tác giả nào tiến hành
nghiên cứu. Đối với người khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng, CTXH
là cách thức trợ giúp chuyên nghiệp và hiệu quả cần được nghiên cứu và áp
dụng, đặc biệt đối với trẻ tự kỷ, CTXHCN là phương pháp phù hợp nhằm
đem lại kết quả trợ giúp tốt nhất cho trẻ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
- Phân tích thực trạng trẻ tự kỷ tại Việt Nam nói chung và tại trung tâm
PHCN trẻ tàn tật Thụy An, nguyên nhân, hệ quả và những vấn đề được đặt ra
hiện nay;
- Trình bày tiến trình trợ giúp trẻ tự kỷ tại trung tâm thông qua thực
hành CTXH cá nhân;
- Đề xuất các giải pháp trong phát triển CTXH cá nhân cho trẻ tự kỷ.

vật hiện tượng cần được đánh giá, xem xét và phân tích một cách khách quan
dựa theo thời điểm và hoàn cảnh cụ thể. Trong khuôn khổ của luận văn, tôi
mong muốn nghiên cứu các hoạt động trợ giúp trẻ tự kỷ tại thời điểm hiện tại,
với bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể như hiện nay để từ đó đưa ra các
nhận xét cũng như khuyến nghị đúng đắn và hợp lý liên quan đến các hoạt
động CTXH đối với trẻ tự kỷ tại trung tâm Thụy An.

7


5.1.2. Phương pháp duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét và đánh giá một hiện tượng hay
một sự vật đặt trong mối quan hệ tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau.
Phương pháp luận này giúp cho chúng ta có cái nhìn bao quát, toàn diện và
chính xác về một sự vật, hiện tượng trong mối tương quan với các sự vật hiện
tượng khác. Áp dụng phương pháp luận này vào đề tài nghiên cứu, tôi xem
xét, đánh giá và phân tích các hoạt động CTXH đối với trẻ tự kỷ trong mối
tương quan với gia đình, nhân viên can thiệp trực tiếp và trung tâm Thụy An.
Rộng hơn nữa là mối quan hệ biện chứng giữa trẻ và môi trường xunh quanh
như lớp học, địa bàn nơi trẻ sống và xã hội nói chung.
5.2.Phương pháp nghiên cứu
- Với đặc thù của CTXH cá nhân, tôi nghiên cứu sâu một trường hợp cụ
thể để đưa ra nhận định tổng quát về CTXH cá nhân được thực hiện tại trung
tâm Thụy An, để phục vụ cho mục đích này, tôi lựa chọn phương pháp nghiên
cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu: sử dụng bảng hỏi phỏng vấn sâu với
một lãnh đạo của trung tâm, nhân viên làm việc trực tiếp với trẻ tự kỷ và cha
mẹ của trẻ);
- Thu thập thông tin, tư liệu: tôi đã thu thập thông tin, tư liệu từ các
nguồn có sẵn như sách, báo, tạp chí, mạng internet, các báo cáo liên quan đến
trẻ tự kỷ và các dịch vụ xã hội dành cho trẻ tự kỷ. Các thông tin được xử lý

nhân đối với trẻ tự kỷ.

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ
1.1. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Lý thuyết hệ thống sinh thái
Lý thuyết hệ thống sinh thái là một trong những lý thuyết quan trọng
trong nền tảng triết lý của công tác xã hội. Lý thuyết này bắt nguồn từ thuyết
hệ thống tổng quát của Bertanlaffy (nhà sinh học người Áo, 1901 – 1972), lý
thuyết của ông là một lý thuyết sinh học trong đó ông cho rằng “mọi tổ chức
hữu cơ đều là một hệ thống và được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại
cũng là một phần của hệ thống lớn hơn”, theo đó con người cũng là một bộ
phận của hệ thống xã hội. Sau này, lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học
khác

nghiên

cứu



phát

triển

(Hanson(1995),

pháp luật công nhận là trẻ khuyết tật theo đúng bản chất vốn có. Ngoài ra, bản
thân mỗi trẻ là một hệ thống với các đặc điểm tâm sinh lý khác nhau, NVXH
cần tìm hiểu và nắm bắt được những điểm mạnh và điểm yếu của trẻ để từ đó
giúp trẻ phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu trong mối
tương quan với môi trường xung quanh. Hơn nữa, vận dụng lý thuyết sinh
thái, NVXH và các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu các nguyên nhân khách
quan khiến cho các triệu chứng của tự kỷ trở nên trầm trọng hơn, đặc biệt từ
môi trường gia đình để từ đó tìm ra các biện pháp can thiệp cũng như tham
vấn hiệu quả cho cha mẹ hay người chăm sóc, giám hộ của trẻ.
1.1.2. Lý thuyết học tập xã hội
Lý thuyết học tập xã hội là một trong các lý thuyết được ứng dụng phổ
biến nhất trong PHCN cho trẻ tự kỷ. Thuyết học tập xã hội bắt nguồn từ quan
điểm học tập của Tarde (1843 – 1904), trong đó Tarde nhấn mạnh ý tưởng về
học tập xã hội thông qua ba quy luật bắt chước: sự tiếp xúc gần gũi, sự bắt
chước người khác và sự kết hợp của cả hai. Cũng bàn về phát triển nhận thức
thông qua học tập, Albert Bandura (1925), đã đề xuất “Lý thuyết học tập xã
hội”.Cách tiếp cận của Bandura đầu tiên có tên hành vi xã hội, rồi đến lý
11


thuyết nhận thức xã hội, và cuối cùng là lý thuyết học tập xã hội. Theo lý
thuyết của Bandura, hành vi của con người là kết quả của một chuỗi học tập
cá nhân thông qua bắt chước, Bandura cho rằng, trẻ bắt chước hành động của
người khác dựa trên lĩnh hội sự quan sát. Đối với trẻ, cha mẹ là những người
đầu tiên cung cấp các mô hình hoạt động đơn giản và cơ bản nhất thông qua
đó trẻ bắt chước và lặp lại, tuy nhiên ở trẻ tự kỷ thì việc bắt chước các hành vi
của cha mẹ không được ghi nhận hoặc rất hiếm hoi. Đây là một trong những
dấu hiệu đầu tiên cảnh báo về việc trẻ có nguy cơ bị tự kỷ hay không.
Khác với các nhà tâm lý học trước, Bandura đã cho thấy sự hiện diện thô
sơ của môi trường xã hội trong lý thuyết học tập xã hội của ông. Bandura coi

1998. Luật Người khuyết tật ra đời đã mang lại những lợi ích to lớn cho hàng
triệu người khuyết tật trên cả nước, tuy nhiên, trong các dạng khuyết tật được
pháp luật quy định từ trước cho tới nay, bao gồm Luật Người khuyết tật,
không có thuật ngữ “tự kỷ”. Trên thực tế, khái niệm “tự kỷ” mới xuất hiện tại
Việt Nam chỉ khoảng hai thập kỷ trở lại đây, trên thế giới, khái niệm này
được biết đến sớm hơn từ khoảng sáu bảy mươi năm trước và đã có rất nhiều
nghiên cứu liên quan đến tự kỷ với nỗ lực tìm ra nguyên nhân và giải pháp
chữa trị tuy nhiên không có nhiều ghi nhận về thành công, nguyên nhân dẫn
đến tự kỷ cho đến nay vẫn còn là chủ đề gây nhiều tranh cãi. Hơn nữa, tự kỷ
không giống với bất kỳ dạng khuyết tật nào được biết đến từ trước đến nay,
và trong một thời gian dài đã được coi là một “bệnh” và có thể chữa được, mà
không phải là một dạng tật mang tính suốt đời.
Trong một vài năm trở lại đây, nhận thức về tự kỷ đã có nhiều thay đổi,
trước tiên, về mặt lý luận, tự kỷ đã được công nhận là một dạng khuyết tật, và
các nỗ lực để tự kỷ, đặc biệt là trẻ tự kỷ được coi là trẻ khuyết tật và cần được
hưởng các chính sách dành cho trẻ khuyết tật đang được tiến hành tại khắp
các cơ quan, tổ chức liên quan và từ các khuyến nghị mạnh mẽ của các gia
13


đình có trẻ mắc hội chứng này. Một trong những thành quả của các nỗ lực
trên là sự ra đời của Quyết định 1019/QĐ-TTg ngày 05 tháng 08 năm 2012
của thủ tướng chính phủ về phê duyệt “Đề án trợ giúp người khuyết tật giai
đoạn 2012-2020”. Theo đó, người mắc chứng rối loạn tự kỷ được “hỗ trợ triển
khai giáo dục hòa nhập ở các cấp học thông qua việc xây dựng chương trình,
tài liệu; bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý,… bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên trực tiếp dạy…. tự kỷ”, tuy chưa có giá trị về mặt pháp lý trong
việc đưa tự kỷ vào một trong các dạng khuyết tật được pháp luật công nhận
nhưng đây cũng là một bước tiến trong việc chính phủ và các ban ngành đang
cố gắng để tự kỷ được công nhận là một dạng khuyết tật. Chính thức, tháng

Trong khuôn khổ của luận văn này, tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trẻ ở độ
tuổi nhỏ 16 – 36 tháng tuổi, là giai đoạn đầu đời, khởi đầu cho mọi quá trình
phát triển, và trong lĩnh vực tự kỷ, đây là giai đoạn quan trọng để có thể phát
hiện và đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời, nhằm giúp trẻ có nhiều cơ hội
phục hồi và hòa nhập xã hội.
1.3.2. Hội chứng tự kỷ ở trẻ em
Tự kỷ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “autós” nghĩa là ‘cái tôi, tự bản
thân”. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên bởi bác sỹ tâm thần Eugen
Bleuler. Ông đã dùng thuật ngữ này để mô tả triệu chứng rút lui xã hội của các
bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt và các triệu chứng trầm cảm khác.
Hội chứng tự kỷ (Autism Spectrum Disorders) được mô tả lần đầu tiên
vào năm 1943 bởi bác sỹ tâm thần học người Mỹ gốc Áo, Leo Kanner (1894
– 1981), Kanner đã mô tả một nhóm gồm 11 trẻ có những biểu hiện phát triển
không bình thường như, có những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khiếm
khuyết trong quá trình phát triển ngôn ngữ, có những hành vi kỳ lạ lặp đi lặp
lại nhiều lần, khởi phát sớm trước 3 tuổi, thuật ngữ Tự kỷ đã được Kanner
dùng để mô tả các triệu chứng trên.Năm 1944, một bác sỹ nhi người Áo là
15


Hans Asperger đã mô tả một dạng tự kỷ nhẹ hơn Kanner mô tả rất nhiều. Sau
này, người ta lấy tên ông đặt cho rối loạn này gọi là hội chứng Asperger.
Từ khi được biết đến, tự kỷ được mô tả bằng các khái niệm khác nhau,
trong đó có thể kể đến khái niệm khá đầy đủ và mang tính tổng quát “Tự kỷ là
một loại khuyết tật phát triển suốt đời được thể hiện trong vòng 3 năm đầu
đời. Tự kỷ là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của
não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở bất kỳ cá nhân nào không phân biệt giới tính,
chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hội. Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng
những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và
phi ngôn ngữ, và hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi

người thông qua mối quan hệ một – một, phương pháp này được các NVXH
tại các cơ sở thực hiện để trợ giúp một cá nhân có các vấn đề về chức năng xã
hội và việc thực hiện các chức năng của họ.
Perlman cho rằng, phương pháp CTXHCN là một tiến trình được các cơ
quan an sinh thực hiện để giúp cá nhân con người đối phó hiệu quả hơn với
các vấn đề thuộc về chức năng xã hội của họ.
Theo Richmond (1922)” CTXHCN là các tiến trình được áp dụng để
phát triển con người thông qua điều chỉnh nhận thức của mỗi cá nhân, và giữa
cá nhân với môi trường xunh quanh”
Bowers (1949), cho rằng “CTXHCN là nghệ thuật thấu hiểu mối quan hệ
giữa người với người và khả năng sử dụng các mối quan hệ để khai thác các
tiềm năng trong mỗi cá nhân con người và huy động các nguồn lực trong cộng
đồng để điều chỉnh tốt hơn mối quan hệ giữa cá nhân với một phần hoặc toàn
bộ môi trường xunh quanh”.
Theo De Guzman (1992), phương pháp CTXHCN như là “một phương
pháp can thiệp (của CTXH) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một
thân chủ cảm nghiệm. Mục đích của CTXHCN là phục hồi, củng cố và phát
17


triển sự thực hành bình thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình.
NVXH thực hiện điều này bằng cách giúp tiếp cận các tài nguyên cần thiết.
Về nội tâm, về quan hệ giữa người và người, và kinh tế xã hội. Phương pháp
này tập trung vào các mối liên hệ về tâm lý xã hội, bối cảnh xã hội trong đó
vấn đề của cá nhân và gia đình diễn ra và bị tác động”.
Từ một số định nghĩa trên, có thể thấy rằng, phương pháp CTXHCN là
phương pháp mà các NVXH sử dụng để làm việc trực tiếp một – một với cá
nhân con người trong mối tương quan với môi trường cụ thể, huy động tối đa
các nguồn lực để tập trung giải quyết các vấn đề mà thân chủ gặp phải, với mục
đích khôi phục, thực hiện và phát triển các chức năng xã hội của thân chủ.

thu thập được từ bà và mẹ của bé, có thể nói, bà và mẹ là nguồn thông tin
chính và duy nhất để cô Hoài có thể xác định được vấn đề của bé M.
Giai đoạn thẩm định, chẩn đoán và lên kế hoạch trị liệu: dựa trên các dữ
liệu thu thập được, NVXH cần xác định dược các vấn đề chính mà thân chủ
gặp phải, phân tích các nguyên nhân và nhân tố chủ yếu dẫn tới các khó khăn
và vấn đề của thân chủ, từ đó NVXH thẩm định dựa trên các phân tích về
nguồn lực và khả năng của thân chủ trong việc loại bỏ hay giảm bớt các trở
ngại, đồng thời NVXH cũng sẽ đánh giá các mối quan hệ và các nguồn lực để
có thể trợ giúp cho thân chủ. Dựa trên các chẩn đoán và thẩm định, NVXH sẽ
lên một kế hoạch trị liệu tạm thời cho thân chủ, theo đó mục đích của kế
hoạch trị liệu phải là điều mà thân chủ mong muốn, có tính khả thi cao nhất
và nằm trong mối tương quan với các nguồn lực sẵn có. Đối với trẻ tự kỷ,
ngoài nguyên nhân dẫn tới tự kỷ, NVXH cần coi chính tự kỷ là nguyên nhân
lớn nhất khiến trẻ bị mất đi các chức năng tâm lý, xã hội, ngoài ra các yếu tố
bên ngoài cũng góp phần không nhỏ trong việc trẻ có thể được phát hiện, can
thiệp sớm và có khả năng phục hồi hay không. Việc lên kế hoạch trị liệu trong
trường hợp này cần có sự tham gia của gia đình trẻ và thầy cô giáo của trẻ, vì
19


đây là hai nhân tố rất quan trọng, có mối quan hệ mật thiết với trẻ và theo
nghĩa nào đó họ là những người có thể thay trẻ bày tỏ các vấn đề, nhu cầu và
nguyện vọng. Đối với bé M, dựa trên các thông tin từ gia đình, từ quan sát và
kết quả từ các bộ công cụ khám sàng lọc, cô Hoài sẽ lên kế hoạch trị liệu tạm
thời cho bé M thông qua chương trình can thiệp cụ thể cho từng tháng. Bé M
sẽ được can thiệp bán trú tại trung tâm, do đó, cô Hoài có thể thông tin về tình
hình của bé M tới phụ huynh một cách trực tiếp và hàng ngày.
Giai đoạn thực thi kế hoạch, lượng giá, tiếp tục hay chấm dứt: đây là giai
đoạn NVXH cần tập trung mọi nguồn lực vào các hoạt động giải quyết các
vấn đề của thân chủ, huy động sự tham gia tối đa của thân chủ để giải quyết

được tham gia các hoạt động xã hội khác, đây là các hoạt động không thể
thiếu trong việc can thiệp, phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật nói chung và
trẻ tự kỷ nói riêng. Việc lượng giá trong trường hợp này đòi hỏi cần tiến hành
lặp lại với sự tham gia của cha mẹ, giáo viên dạy trẻ. Do đặc điểm riêng của
trẻ tự kỷ, các tiến triển trong quá trình PHCN cho trẻ tự kỷ đôi khi rất khó đo
lường và cần một thời gian rất dài để có thể kết luận. Trong một số trường
hợp, hoạt động PHCN cho trẻ tự kỷ có thể kéo dài đến khi trẻ trưởng thành và
có thể tiếp tục đến hết cuộc đời, do đó, việc tiếp tục hay chấm dứt đôi khi
mang tính chuyển ca, ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay người giám hộ của trẻ
chủ động chấm dứt hoặc trẻ chuyển đi nơi khác sống. Đối với trường hợp bé
M, việc thực thi kế hoạch hoàn toàn do cô Hoài đảm nhận, và kế hoạch can
thiệp cho bé M chỉ tập trung khắc phục các vấn đề do chứng tự kỷ mà bé M
mắc phải, mang tính giáo dục trị liệu là chủ yếu. Việc lượng giá các tiến triển
của bé M dựa trên các đánh giá hàng tháng theo chương trình can thiệp đã
được xây dựng và do cô Hoài thực hiện.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status