VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯU THỊ THU HẰNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ KHIẾM THÍNH
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TRỢ GIÚP VÀ CAN THIỆP
SỚM TRẺ KHUYẾT TẬT HƯƠNG GIANG, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN HẢI HỮU
HÀ NỘI, 2016
HÀ NỘI - năm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác
và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
Chữ đầy đủ
Chữ viết tắt
CTXH
Công tác xã hội
Công ước Quốc tế về Quyền của Người
CRPD
khuyết tật
3
CTTE
Hội cứu trợ trẻ em tàn tật Việt Nam
4
CRC
Công ước quốc tế về quyền trẻ em
10
Trung tâm Hương Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ
Giang
khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
TÊN BẢNG SỐ LIỆU
TRANG
Bảng 2.1
Nhu cầu sử dụng dịch vụ tại Trung tâm Hương Giang
41
Bảng 2.2
Thực trạng CTXH đối với gia đình có trẻ khiếm thính
42
được TG &CTS tại Trung tâm Hương Giang
TÊN HÌNH/HỘP
STT
TRANG
Hình 1.1
Thang nhu cầu của M.Aslow
17
Hình 1.2
Con người trong môi trường xã hội của cá nhân.
20
Hình 2.1
Sơ đồ tổ chức của Trung tâm Hương Giang
38
Hộp 2.1
Trẻ khiếm thính có nhu cầu về TG &CTS
37
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Do các nguyên nhân khách quan, chủ quan xã hội luôn tồn tại một bộ phận
dân cư gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Một trong những đối tượng đó là trẻ em
khuyết tật. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng
luôn cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Công ước Liên Hợp Quốc về quyền
trẻ em ghi nhận trẻ em khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt, được hưởng
quyền giáo dục bình đẳng, được đào tạo để có điều kiện hòa nhập vào xã hội, phát
triển nhân cách cả về mặt thể chất lẫn tinh thần nhằm giúp trẻ tham gia tích cực
vào cộng đồng [21]. Theo thống kê của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội,
hiện cả nước có khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm 1,5% dân số và 3,5% số
lượng trẻ em. Trong số trẻ em khuyết tật có khoảng 20% dạng khiếm thính. Việc
phát hiện, chẩn đoán và can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Can thiệp sớm sẽ giúp giảm thiểu đáng kể ảnh hưởng của khuyết tật
đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt về khả năng ngôn ngữ và giao tiếp. Ngoài ra
can thiệp sớm còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và cuộc sống của trẻ,
gia đình trẻ sau này, chuẩn bị tiền đề cho trẻ học hòa nhập ở các trường phổ thông.
Tuy nhiên, do trẻ bị tổn thương cơ quan thính giác, rất khó phát hiện, can thiệp và
hỗ trợ hòa nhập, cần phải có phương pháp, công cụ và phương pháp hỗ trợ, can
thiệp sớm riêng thì mới đạt được kết quả tốt.
Công tác xã hội cá nhân trong việc phát hiện, can thiệp sớm và trợ giúp trẻ
em khiếm thính đã được triển khai thực hiện ở một số địa phương như Yên Bái đã
thu được những thành công nhất định, giúp trẻ tiếp cận được với giáo dục, hòa nhập
cộng đồng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, kết quả này mới chỉ
ở những mô hình thí điểm, chi phí lớn và chưa được thực hiện trên diện rộng. Nhiều
cơ sở chưa xây dựng được quy trình, phương pháp và công cụ phát hiện sớm và trợ
giúp hiệu quả. Điều này cho thấy cần có tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn và xây
Ở Tây Ban Nha, cha Perdudepone đã dạy trẻ điếc về quyền thừa hưởng gia
sản trong các gia đình quý tộc ở Anh. Năm 1653, John Wallis viết cuốn sách có tên
2
“Cần phải dạy các cử chỉ điệu bộ tự nhiên cho người điếc và sử dụng các ký hiệu
này dạy ngôn ngữ của chúng ta cho người điếc”.
Trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật đã diễn ra nhiều cuộc tranh
luận. Ngoài việc tranh luận về cách tổ chức giáo dục đặc biệt như thế nào, các nhà
công tác xã hội, tâm lý học, còn tranh luận về nhiều vấn đề khác liên quan đến can
thiệp sớm, trong đó có vấn đề nội dung chương trình giảng dạy và các tài liệu
hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật.
2.2. Nghiên cứu trong nước
Hiện nay, tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, ấn phầm, đề tài
luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đề cập đến công tác xã hội đối
với người khuyết tật. Sau đây tôi xin điểm một số công trình nghiên cứu chủ yếu có
liên quan đến đề tài của Luận văn.
Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình “Nhập môn công tác xã hội”. Trong đó
tác giả đã phân tích về đặc điểm khó khăn của NKT, vai trò, phương pháp CTXH
với NKT. Đồng thời tác giả cũng cho rằng CTXH đối với NKT có tính chất thực
hành CTXH và có các dịch vụ CTXH cá nhân riêng biệt [23].
Hà Thị Thư (2012), Giáo trình trung cấp nghề “Công tác xã hội với người
khuyết tật”. Tác giả đã tổng hợp khung kiến thức cơ bản có ý nghĩa thiết thực trong
công tác trợ giúp NKT hòa nhập cộng đồng, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc
sống như: những đặc điểm của NKT, vai trò và hướng tiếp cận, kỹ năng, phương
pháp tiếp cận trong CTXH với NKT cũng như các chính sách, pháp luật và dịch vụ
hỗ trợ NKT [31].
Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam và Trường Đại học Lao động - Xã
hội (2014), Giáo trình “Công tác xã hội với người khuyết tật” đã cung cấp những
Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam – NCCD (2010)
công bố báo cáo về “Hoạt động hỗ trợ Người khuyết tật Việt Nam”. Báo cáo đã
điểm lại những hoạt động trong lĩnh vực NKT như thực trạng NKT; hệ thống luật
pháp về NKT tại Việt Nam; tình hình thực hiện chính sách đối với NKT tại Việt
Nam về nâng cao nhận thức, chăm sóc sức khỏe, giáo dục cho trẻ em khuyết tật, dạy
nghề và việc làm, trợ giúp xã hội, giảm nghèo, tiếp cận giao thông, tiếp cận thông
tin, văn hóa…từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tế hoạt động và định
4
hướng các hoạt động những năm tiếp theo. Báo cáo được xây dựng trên cơ sở tổng
hợp báo cáo của thành viên NCCD, các địa phương, ý kiến của NKT và kết quả
hoạt động Đề án “Hỗ trợ người tàn tật giai đoạn 2006 - 2010” [3].
Đoàn Tâm Đan (2010), nghiên cứu về lượng giá dự án “Chương trình khuyết
tật và phát triển”, do Tổ chức Chương trình khuyết tật và phát triển (DRD) thuộc
Trung tâm thực hành CTXH - Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện dưới sự
tài trợ của Ford Foundation. Nghiên cứu đã lượng giá hiệu quả của dự án trong việc
tạo và tăng cường nhận thức cho NKT và xã hội, cũng như cơ hội cho sự công bằng
tham gia vào các hoạt động xã hội của NKT, lượng giá tác động của dự án trong việc
thay đổi nhận thức và nâng cao năng lực cho NKT và các hội nhóm khuyết tật cũng
như vai trò của DRD trong việc tạo nên những thay đổi về nhận thức, giá trị xã hội
đối với NKT. Bên cạnh đó, báo cáo còn lượng giá sự phát triển của DRD về mặt tổ
chức, vận hành các hoạt động, chất lượng và hiệu quả của cơ cấu quản lý tổ chức của
DRD. Từ đó, rút ra bài học trong thực hiện chương trình [11].
Hà Thị Thư (2012), chuyên đề “Công tác xã hội với người khuyết tật Chương trình đào tạo bồi dưỡng nghề công tác xã hội cho cán bộ tuyến cơ sở”.
Chuyên đề trình bày về những nội dung chủ yếu là: Thứ nhất, những vấn đề chung
về NKT, cán bộ tuyến cơ sở sẽ được cung cấp kiến thức về khuyết tật, NKT,
nguyên nhân, biện pháp phòng ngừa khuyết tật, các chính sách cơ bản cho NKT,
các mô hình can thiệp trong lĩnh vực khuyết tật ; Thứ hai, xác định nhu cầu và vấn
Bùi Thị Huệ (2011), nghiên cứu đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc giải quyết vấn đề của người khuyết tật”. Tác giả khái quát những đặc
điểm của NKT và thực trạng NKT trên thế giới và ở Việt Nam, chỉ ra một số vấn đề
gặp phải của NKT trong cuộc sống, đồng thời còn đề cập đến vai trò của CTXH
trong hoạt động trợ giúp NKT nói chung [17].
Đỗ Hạnh Nga, nghiên cứu chuyên đề về “Những khó khăn của gia đình có trẻ
khuyết tật phát triển và nhu cầu của họ đối với các dịch vụ xã hội”. Tác giả đã phân
tích những khó khăn của gia đình có trẻ khuyết tật và nhu cầu của họ đối với các dịch
vụ xã hội, kết quả khảo sát trên 105 gia đình có con khuyết tật có dấu hiệu chậm phát
triển đang học tại trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy
phụ huynh còn thiếu hiểu biết về các dấu hiệu chậm phát triển của con, thiếu những
6
NVXH hỗ trợ họ trong việc phát hiện sớm, chẩn đoán đánh giá khuyết tật của con họ
cũng như giúp phụ huynh tìm kiếm các dịch vụ xã hội. Từ đó, đề xuất xây dựng một
số công việc mà NVXH cần thực hiện để hỗ trợ gia đình NKT [24].
Nguyễn Dạ Đan Trang (2014), luận văn thạc sỹ về đề tài “Vận dụng những
kiến thức, kỹ năng công tác xã hội nói chung và công tác xã hội với người khuyết
tật nói riêng trong can thiệp, trợ giúp người khuyết tật”. Tác giả đã khái quát tình
hình NKT, đưa ra những nhiệm vụ của NVXH khi làm việc với đối tượng và ví dụ
trường hợp điển cứu cụ thể có ý nghĩa thực tế [33].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều chỉ ra được những đặc điểm nổi
bật của NKT cũng như thực trạng NKT hiện nay ở Việt Nam, những khó khăn
thường gặp phải, các mô hình can thiệp chủ yếu, chính sách, pháp luật trong việc
hỗ trợ NKT thực hiện quyền. Trong đó nhấn mạnh đến việc làm thế nào để NKT
có thể tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội và tiếp cận đầy đủ các dịch vụ
như những người không khuyết tật, đồng thời còn đề cập đến vai trò của CTXH
trong việc giúp đỡ NKT và sự cần thiết của CTXH trong giai đoạn hiện nay. Song,
can thiệp sớm tại Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang,
tỉnh Yên Bái.
- Cán bộ, giáo viên, nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại Trung tâm
trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 1 đến 5 năm 2016
- Không gian: Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương
Giang, tỉnh Yên Bái.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Trong đó, phương pháp luận duy vật biện chứng để xem xét hoạt động công tác xã
hội đối với trẻ khiếm thính trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường và hệ thống
xung quanh, đặt vấn đề trong một tổng thể. Những vấn đề liên quan đến trẻ khiếm
thính và các phương pháp công tác xã hội chuyên nghiệp được phân tích theo các
tương quan để đưa ra một quyết định khách quan, toàn diện.
8
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như sau:
* Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp liên quan: Phân tích những công
trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề giáo dục hòa nhập, phục hồi chức năng, can
thiệp sớm cho trẻ khuyết tật và các tài liệu có liên quan đến công tác xã hội đặc biệt
là phương pháp công tác xã hội cá nhân.
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi để thu thập các
thông tin về thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với 70 cha mẹ của trẻ khiếm
thính đang sử dụng dịch vụ trợ giúp và can thiệp sớm tại Trung tâm Hương Giang.
* Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn sâu đối
cho trẻ khuyết tật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quan về hoạt động cung cấp dịch vụ công
tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính tại Trung tâm TG & CTS trẻ khuyết tật
Hương Giang, tỉnh Yên Bái, từ đó nâng cao trách nhiệm của mọi người cùng với sự
hỗ trợ của Nhà nước nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ khiếm thính được phục hồi
chức năng, can thiệp sớm được học hòa nhập như bao trẻ bình thường khác. Đồng
thời đề tài cũng chỉ ra những hoạt động trợ giúp của nhân viên công tác xã hội đối
với việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khiếm thính tại Trung tâm Hương
Giang cũng như thấy được tầm quan trọng của công tác xã hội cá nhân trong việc
trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can
thiệp sớm trẻ khiếm thính.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính tại
Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái.
Chương 3: Một số giải pháp thực hiện nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá
nhân đối với trẻ khiếm thính tại Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật
Hương Giang, tỉnh Yên Bái.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG
TRỢ GIÚP VÀ CAN THIỆP SỚM TRẺ KHIẾM THÍNH
1.1. Cơ sở lý luận về trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính
trường khuyết tật trên.
Với quy định dạng tật như trên, thì người khiếm thính là người khuyết tật
thuộc dạng khuyết tật nghe nói.
* Trẻ em:
Trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1 Luật trẻ em 2016)
* Trẻ em khuyết tật:
Trẻ em khuyết tật là người khuyết tật từ 16 tuổi trở xuống.
* Trẻ khiếm thính:
Trẻ khiếm thính là trẻ em khuyết tật thuộc dạng tật nghe nói, là những trẻ em
do tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe dẫn đến lao động, sinh hoạt, học tập
gặp khó khăn.
1.1.2. Nguyên nhân gây ra khiếm thính
Trẻ em khiếm thính có thể do nguyên nhân bẩm sinh và các nguyên nhân
môi trường sau khi sinh dẫn đến khiếm thính. Cụ thể:
* Nguyên nhân bẩm sinh:
Khi trẻ em sinh ra đã mất khả năng nghe, không nghe được. Nguyên nhân
này thường do các tác nhân tác động đến người mẹ khi mang thai như: người mẹ
bị nhiễm độc, dùng thuốc sai, người mẹ bị bệnh do virus gây nên do quai bị,
cúm, sởi hoặc trẻ bị khiếm khuyết về cấu trúc cơ quan thính giác, di truyền…
* Các nguyên nhân do bệnh tật, tác nhân của môi trường:
Những trường hợp này là trẻ mất khả năng nghe sau khi sinh. Thường các
nguyên nhân này do di chứng của viêm não, viêm màng não, sởi, các bệnh khác như
12
quai bị, cúm hoặc do chấn thương (va đập, tiếng động quá lớn); hay do sử dụng
thuốc không đúng (nhiễm độc, thuốc kháng sinh; do bị còi xương nặng) và các tác
nhân khác của môi trường sống, sinh hoạt của trẻ gây nên.
1.1.3. Đặc điểm của trẻ em khiếm thính
1.1.4. Nhu cầu của trẻ em khiếm thính
Trẻ khiếm thính cần được thông cảm, được yêu thương và cần được cư xử
như những con người bình thường. Không những chỉ giúp trẻ học ngôn ngữ, chúng
ta còn phải chú trọng tất cả các mặt phát triển khác của trẻ về thể chất, tinh thần trí
tuệ và kỹ năng giao tiếp xã hội. Tuỳ theo khuynh hướng và khả năng, trẻ có thể
được tiếp tục học lên các bậc cao đẳng, đại học hoặc được đào tạo một nghề nghiệp
thích hợp để sau này tự nuôi sống bản thân, có ích cho gia đình và xã hội. Trẻ có thể
học chữ/ học văn hóa hết cấp I, hoặc II, hoặc III, sau đó học lên chuyên nghiệp CĐ,
ĐH cũng có thể học hết cấp II, hoặc III xong chuyển sang học nghề. Ở một số nước,
luật pháp có những điều qui định cụ thể bảo đảm cho trẻ khiếm thính, cũng như
những trẻ khuyết tật khác, có quyền học tập và sau này tham gia các ngành nghề lao
động như những người bình thường.
1.1.5. Trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính
- Mục đích trợ giúp và can thiệp sớm: Nhằm giúp trẻ khiếm thính bình
thường hóa cuộc sống. Mục tiêu cơ bản là phát triển tối đa sức nghe còn lại của trẻ
khiếm thính, phát triển khả năng giao tiếp để trẻ có cuộc sống càng bình thường
càng tốt. Tạo cơ hội cho trẻ và gia đình trẻ khiếm thính tiếp cận được với các dịch
đáp ứng được nhu cầu của họ.
- Nội dung trợ giúp và can thiệp sớm:
Trợ giúp và can thiệp về thính học cho trẻ khiếm thính: Đối với trẻ khiếm
thính, nếu càng được phát hiện và chẩn đoán sớm, chỉ định đeo máy trợ thính thì trẻ
càng có cơ hội học nghe nói, càng có nhiều cơ hội hiểu và vận dụng ngôn ngữ nói
trong giao tiếp. Phát hiện trẻ khiếm thính không chỉ bằng cách quan sát các dấu hiệu
khác thường, chương trình khám sàng lọc tật khiếm thính mà còn sử dụng các
phương pháp đo sao cho phù hợp với độ tuổi của trẻ.
14
Chẩn đoán: Tập hợp những phương pháp đo khám nhằm mục đích xác
được khái quát là “hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội
chuyên nghiệp sử dụng, trong đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ
thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những
vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông
qua các mối quan hệ một - một” [21].
* Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khiếm thính
Cho đến nay, chưa có tài liệu nào cụ thể hóa định nghĩa về công tác xã hội cá
nhân đối với trẻ em khiếm thính, nhất là công tác xã hội trong trợ giúp và can thiệp
sớm trẻ em khiếm thính. Xuất phát từ những khái niệm trẻ em khiếm thính, trợ giúp
và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính, công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân…có
thể khái quát khái hiểu công tác xã hội trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em kiếm
thính là hoạt động công tác xã hội được sử dụng trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ
em khiếm thính nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã
hội của các em, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ trẻ
khiếm thính, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp các em
một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các
hoạt động xã hội trên nền tảng công bằng trong xã hội.
1.2.2. Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
- Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Theo Abraham Maslow hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ.
Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành hai cấp là nhu cầu cấp thấp và nhu
cầu cấp cao. Trong đó:
- Nhu cầu cấp thấp gồm hai nhu cầu: (i) Nhu cầu về vật chất là nhu cầu tối
thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo con người tồn tại bao (ăn, uống, ở, mặc, ngủ
nghỉ, đi lại…); (ii) Nhu cầu về an toàn bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc,
gia đình. Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần.
- Nhu cầu cấp cao gồm ba nhu cầu: Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình
yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả hệ
thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá
nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó.
Lý thuyết hệ thống cho rằng một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu hệ thống
nhỏ trong nó đồng thời có cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng
lớn hơn. Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tố càng
đa dạng. Giữa các thành tố có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Sự thay đổi,
biến động của mỗi thành tố trong một hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đến các
thành tố khác và ngược lại. Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống và
thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất.
Trong bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và trẻ khiếm thính nói
riêng, lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách,
các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng đến trẻ. Lý thuyết hệ thống sinh thái cho
phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trẻ khiếm thính và hệ thống sinh thái môi trường xã hội. Mỗi cá nhân trẻ khiếm thính đều có một môi trường sống và một
hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác
động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh.
Khi làm việc với trẻ hoặc cha mẹ trẻ khiếm thính, nhân viên công tác xã hội
cần xem xét bản thân họ là một hệ thống, hệ thống này nằm trong hệ thống lớn hơn
là hệ thống gia đình và hệ thống gia đình là một phần tử trong hệ thống một cộng
đồng nhất định chứa gia đình đó. Các hệ thống này đều có sự tương tác và ảnh
18
hưởng lẫn nhau. Khi xác định vấn đề của trẻ hoặc gia đình trẻ thì cần đặt trong mối
quan hệ tương tác giữa các hệ thống này để phân tích sâu hơn về các nguyên nhân
dẫn đến vấn đề đó.
Các hệ thống có sự tương hỗ lẫn nhau. Vấn đề ở đây nếu chưa có sự tương
hỗ này là do những xung đột nhất định hoặc vì một lí do nào đó mà trẻ và gia
đình trẻ chưa tiếp cận tới được các hệ thống hỗ trợ đó. Vì vậy, nhiệm vụ của