VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NÔNG THỊ AN
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành
: Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BÙI THỊ MAI ĐÔNG
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Thị Mai Đông.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TEMC VÀ CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
TEMC ............................................................................................................................................ 10
1.1. Một số lý thuyết về trẻ em và TEMC ............................................................................. 10
1.2. Công tác xã hội cá nhân đối với TEMC ........................................................................ 15
1.3. Một số lý thuyết ứng dụng trong CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi ........... 26
1.4. Luật pháp chính sách và các mô hình dịch vụ hỗ trợ TEMC .................................. 29
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH cá nhân đối với TEMC ...................................... 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG CTXH ĐỐI VỚI TEMC TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH CAO BẰNG ................................................. 35
2.1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu và trẻ em mồ côi trên địa bàn nghiên
cứu. .................................................................................................................................................. 35
2.2. Thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã
hội tỉnh Cao Bằng ........................................................................................................................ 42
CHƯƠNG 3:ỨNG DỤNG CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TEMC TẠI TRUNG TÂM
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CTXH CÁ
NHÂN ĐỐI VỚI TEMC............................................................................................................ 50
3.1. Ứng dụng CTXH cá nhân đối với TEMC tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao
Bằng................................................................................................................................................. 50
3.2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của CTXH cá nhân
đối với TEMC từ thực tiễn Trung tâm Bảo tỉnh Cao Bằng .............................................. 68
KẾT LUẬN ................................................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 73
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
STT
Học viên
6
TTBTXH
Trung tâm Bảo trợ xã hội
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU, BẢNG
NỘI DUNG
Sơ đồ số 1: Sơ đồ phả hệ của gia đình thân chủ
Sơ đồ số 2: Sơ đồ sinh thái của thân chủ
Sơ đồ số 3: Cây vấn đề
Bảng 1: Số lượng, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức, viên
chức, người lao động tại Trung Tâm
Bảng 2: Số lượng, trình độ, độ tuổi của nhân viên công tác xã hội và
nhân viên chăm sóc trực tiếp trẻ em mồ côi tại Trung tâm
Bảng 3: Số lượng, giới tính, dân tộc của đối tượng sống tại Trung tâm
Bảng 4: Phân loại trẻ em mồ côi tại Trung tâm
Bảng 5: Điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ
TRANG
57
58
60
38
39
trong tỉnh mà công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục TEMC đã đạt được những
kết quả nhất định.
Nhìn chung TEMC đã được hưởng các chính sách của nhà nước, được xã hội
quan tâm; tuy nhiên sự quan tâm chủ yếu là về đời sống vật chất (ăn, mặc, chỗ ở….)
còn đời sống tinh thần chưa thực sự được cải thiện; nhiều em sống khép mình, thiếu
tự tin; tự kỳ thị và bị kỳ thị….
1
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng hiện nay đang nuôi dưỡng 170 đối
tượng trong đó có 142 đối tượng là trẻ em mồ côi. Ở nhóm đối tượng là trẻ em mồ
côi đa dạng về lứa tuổi, dân tộc và hoàn cảnh gia đình khác biệt trước khi đến Trung
tâm như có trẻ thì mồ côi cả cha lẫn mẹ, có trẻ chỉ mồ côi cha hoặc mẹ và người còn
lại không đủ năng lực pháp lý để nuôi dưỡng. Chính vì thế nhu cầu của trẻ em mồ
côi đang sống tại Trung tâm cũng không giống nhau. Mặt khác tại Trung tâm hiện
nay số nhân viên xã hội được đào tạo chuyên sâu về trẻ em và CTXH với trẻ em còn
ít, tính chuyên nghiệp chưa cao nên chưa phát huy được vai trò trợ giúp, tư vấn...
cho trẻ.
Là một người hoạt động nhiều năm trong lĩnh vực quản lý, chăm sóc, nuôi
dưỡng các nhóm đối tượng yếu thế như trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,
người già cô đơn, người tàn tật cô đơn không nơi nương tựa, người lang thang tâm
thần trong đó nhóm TEMC chiếm phần đa các đối tượng tại Trung tâm, bản thân tôi
luôn trăn trở làm thế nào để TEMC thực sự coi Trung tâm là một tổ ấm, một ngôi
nhà chung.
Với những lý do đã trình bày ở trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài
"Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ
xã hội tỉnh Cao Bằng".
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Nghiên cứu về trẻ em mồ côi
tài liệu này cũng cho thấy những hạn chế của Việt Nam trong bảo vệ và chăm sóc
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: chưa xây dựng được một hệ thống bảo trợ xã hội
mạnh mẽ và hiệu quả; thiếu hệ thống “dịch vụ chăm sóc liên tục”; chưa có một
phương pháp tiếp cận mang tính hoạch định; thiếu các cơ chế cụ thể để phát hiện
sớm và xác định trẻ em dễ bị tổn thương...
2.2. Các nghiên cứu về công tác xã hội với TEMC
Đề tài "Công tác xã hội nhóm với TEMC nhằm giảm cảm giác mặc cảm tự ti
để nâng cao khả năng hòa nhập môi trường học đường" của Đỗ Thị Huyền Trang
[14]. Đề tài đã nghiên cứu các trường hợp tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Ninh
Bình năm 2015, qua nghiên cứu thấy các em tự ti vì mình là trẻ mồ côi, tự ti khi các
em không có gia đình, không nhận được tình yêu thương từ bố mẹ như các bạn, tự ti
khi không có quần áo đẹp, tự ti vì không được người khác yêu quý… Chính vì tự ti
nên các em lại càng gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập môi trường học đường.
Nhà trường và Cơ sở bảo trợ đã phối hợp đưa ra các biện pháp để giúp các em dễ
3
dàng hòa nhập, khuyến khích các học sinh mở rộng mối quan hệ, xây dựng các
nhóm học tập để hỗ trợ trẻ em mồ côi học tập và kết bạn hiệu quả. Khi CTXH nhóm
được thực hiện với TEMC tại đây đã giúp các em tự mình vượt qua rào cản của
chính mình xóa bỏ mặc cảm, tự ti để hòa nhập và vươn lên trong cuộc sống.
Bài viết viết “Về đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa
vào cộng đồng, giai đoạn 2005 – 2010” [29] của tác giả Vũ Thị Hiểu trên tạp chí
Lao động – xã hội, số 267 đã nêu lên thực trạng công tác chăm sóc trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn, đó là TEMC, trẻ em khuyết tật… trong thời kỳ trước năm
2005.
Bài viết “Vấn đề chăm sóc thay thế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở
một số nước và khả năng áp dụng tại Việt Nam” [17] của tác giả Nguyễn Văn Hồi,
trên tạp chí Lao động – xã hội, số 277. Bài viết giải thích ý nghĩa của cụm từ “chăm
Th.s. Nguyễn Thị Hằng Phương “Thực trạng các vấn đề khó khăn và nhu cầu
hỗ trợ tâm lý của trẻ em tại các Trung tâm bảo trợ xã hội”. Đề tài đã phân tích và
cho thấy tâm lý từng đối tượng trong trung tâm. Đồng thời tác giả đã đưa ra những
khó khăn vật chất học tập, tinh thần của trẻ em trong các trung tâm bảo trợ xã hội và
nhu cầu cần sự hỗ trợ các nguồn lực bên ngoài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng CTXH cá nhân đối
với TEMC tại TTBTXH.CB. Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần
nâng cao chất lượng các hoạt động CTXH cá nhân đối với TEMC.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào 04 nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về TEMC; CTXH cá nhân đối
với TEMC.
Khảo sát, đánh giá thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC tại TTBTXH tỉnh
Cao Bằng
Vận dụng phương pháp CTXH cá nhân chuyên nghiệp vào một số trường hợp
TEMC tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng và đánh giá hiệu quả tác động;
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CTXH cá nhân
đối với TEMC tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng nói riêng; CTXH cá nhân đối với
TEMC nói chung.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: CTXH cá nhân đối với TEMC từ thực tiễn
TTBTXH.CB
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi đối tượng: Tập trung nghiên cứu tiến trình, vai trò và kỹ năng của
- Thời gian quan sát: lập kế hoạch quan sát trong vòng 15 ngày tại Trung tâm
Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng.
5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích sử dụng phương pháp này là để nghiên cứu một cách sâu sắc, có căn
cứ và cũng là để hiểu sâu bản chất, nguồn gốc của vấn đề đang nghiên cứu.
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn sâu. Những vấn đề
liên quan đến nghiên cứu được thiết kế qua các bảng câu hỏi để người phỏng vấn sử
dụng trong các quá trình tiến hành phỏng vấn. Phương pháp này phục vụ cho việc
khai thác sâu các thông tin định tính tập trung vào 03 nhóm cụ thể như sau:
- Phỏng vấn sâu đối với viên chức quản lý: để biết được những nguồn lực giúp
đỡ TEMC, chính sách pháp luật đã được TEMC tiếp cận chưa? Công tác xã hội
được lồng ghép như thế nào trong việc trợ giúp TEMC và việc thực hiện các
chương trình? chính sách trợ giúp TEMC đã đồng bộ hay chưa?
- Phòng vấn sâu đối với nhân viên CTXH và người trực tiếp chăm sóc TEMC:
Để nắm được các tiến trình mà nhân viên CTXH và người chăm sóc trẻ mồ côi đã
sử dụng trong quá trình can thiệp, trợ giúp TEMC, đồng thời xem xét vai trò của
nhân viên CTXH và người chăm sóc đối với TEMC như thế nào?
- Phỏng vấn sâu TEMC tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng: nhằm
khai thác các thông tin có liên quan đến tình trạng bản thân của các em, hình thức
hỗ trợ mà TEMC được nhận, sự quan tâm của chính quyền địa phương, những khó
khăn gặp phải trong đời sống, những mong muốn của TEMC.
5.4. Phương pháp thảo luận nhóm
Thực hiện chia nhóm từ 8-10 người sau đó tiến hành các nội dung thảo luận
trên cơ sở phát huy tính dân chủ của mỗi cá nhân tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói
quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm
cá nhân giúp rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề trên cơ sở phát huy tinh thần tập
thể và những ý kiến sáng tạo của từng cá nhân nhằm giải quyết vấn đề tốt nhất.
7
của CTXH đối với TEMC góp phần nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân đối với
8
TEMC tại Trung tâm và là căn cứ để đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành tại
TTBTXH tỉnh Cao Bằng đồng thời bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách đối với
TEMC cũng như nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, chương
trình có liên quan đến TEMC.
Đối với tác giả, nghiên cứu về CTXH cá nhân đối với TEMC là mối quan tâm
hàng đầu của bản thân, sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về
CTXH nói chung và CTXH cá nhân đối với TEMC nói riêng, từ đó rút ngắn khoảng
cách giữa lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này. Đồng thời trong quá trình thực
hiện đề tài giúp cho tác giả có thêm hiểu biết về kiến thức, kỹ năng, phương pháp
làm việc với CTXH và vận dụng vào công tác một cách có hiệu quả.
Là tư liệu để những ai quan tâm có thể tham khảo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận
văn có 03 chương sau đây:
Chương 1. Cơ sở lý luận về trẻ em mồ côi và công tác xã hội cá nhân đối với
trẻ em mồ côi.
Chương 2. Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực
tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng.
Chương 3. Ứng dụng Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Trung
tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi.
9
1.1.1.2. Trẻ em mồ côi
Trẻ em mồ côi là “những trẻ em mất cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mất mẹ hoặc cha,
nhưng (cha/mẹ) mất tích, không đủ năng lực pháp lý để nuôi dưỡng (bị tâm thần,
đang trong thời kỳ chấp hành án) theo quy định của pháp luật, những trẻ em bị bỏ
rơi từ khi mới sinh ra được coi là TEMC” [15].
1.1.2. Đặc điểm của trẻ em mồ côi
- Hoàn cảnh gia đình
Đa số trẻ em mồ côi là con các hộ nghèo; bị mất cả cha lẫn mẹ hoặc mất cha,
mẹ bỏ đi hoặc mất mẹ, bố bỏ đi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi; Hầu hết các trẻ em mồ côi có
người thân như cô, dì, chú, bác, ông bà cũng là những hộ nghèo vì vậy các em phải
tự bươn trải cuộc sống từ khi mồ côi. Các em sẽ gặp nhiều khó khăn về đời sống vật
chất như thiếu thực phẩm, không có nước sạch để sử dụng, không đủ phương tiện
sinh hoạt hàng ngày, không được hưởng điều kiện chăm sóc, vệ sinh… các em phải
tham gia vào lao động để tự nuôi sống bản thân mình và các anh, chị em trong gia
đình. Chính các khó khăn này đã làm cho một số em không có cơ hội được đi học,
từ đó xuất hiện cảm giác thua thiệt, thái độ tiêu cực, tự ti, mặc cảm dẫn đến mất đi
các động cơ kích thích học tập, rèn luyện và phấn đấu.
- Đặc điểm tâm lý
Đến nay vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu hay tài liệu cụ thể nào nói rõ về
tâm lý TEMC, tuy nhiên dựa trên tâm lý của trẻ em và những biểu hiện thực tế của
TEMC đã phác họa một số nét tâm lý cơ bản của TEMC như sau:
- Cảm giác cô đơn trống trải, trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng mặc cảm với
số phận... Trẻ xa lo lắng, sợ hãi, xa lánh không muốn quan hệ với bạn bè... Một số
trẻ trở nên liều lĩnh, gan lỳ, mánh khóe. Một số trẻ lại có khả năng tự lập từ rất sớm.
- Tâm lý hoài nghi: các em hoài nghi với mọi người, hoài nghi cuộc sống, thù
ghét mà không có lý do với những trẻ ở bên ngoài trường học hơn nó về gia thế và
có đầy đủ cha mẹ.
- Tâm lý thù hằn: TEMC sẽ hằn thù sâu đậm đàn ông nếu bố là nguyên nhân
gây ra cái chết của mẹ, thù hằn đàn bà nếu mẹ là nguyên nhân gây ra cái chết của bố.
có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện
cần thiết để đạt được trình độ tiểu học [19]. Tuy nhiên, do nguồn ngân sách hằng
năm phân bổ cho các đối tượng tại Trung tâm thấp vì thế Trung tâm chỉ cung cấp
12
cho các em đủ sách giáo khoa, dụng cụ học tập còn các sách tham khảo, sách
chuyên đề, sách điện tử các em ít được tiếp cận.
1.1.4. Nhu cầu cơ bản của trẻ em mồ côi
1.1.4.1. Nhu cầu vật chất
Vật chất là nhu cầu đầu tiên, cơ bản và thiết yếu đối với mỗi con người. Nhu
cầu vật chất bao gồm: thức ăn, nước uống, chỗ ở, quần áo, được chăm sóc khi đau
ốm… Hiện nay, TEMC tại trung tâm đều được chăm sóc nuôi dưỡng theo chế độ
của tỉnh Cao Bằng quy định ( có 03 mức ăn: trẻ từ 1 ngày đến 3 tuổi được ăn
mức 1.350.000đồng/người/tháng; trẻ từ 4 tuổi đến đủ 15 tuổi được ăn mức
1.080.000đồng/ người/ tháng ; trẻ em từ 16 tuổi được ăn mức 810.000đ/ người/
tháng) và với mức quy định như vậy các trẻ chỉ đủ no chứ không thể có những
bữa ăn chất lượng dinh dưỡng cao. Mặt khác về sinh hoạt phí là 2.500.000đồng/
người/ năm là quá thấp cho tất cả nhu cầu của một trẻ do đó tất cả các định mức
cấp cho trẻ chỉ được tính ở mức tối thiểu (quần áo, giầy dép, xà phòng, dầu
gội...).
1.1.4.2. Nhu cầu tình cảm
Nhu cầu tình cảm là nhu cầu chính đáng của bất cứ cá nhân nào, đối với
TEMC nhu cầu này lại càng trở nên quan trọng. Trạng thái vui sướng, hạnh phúc
xuất hiện khi trẻ nhận được sự hưởng ứng của người khác, gọi là “biểu lộ hoà hợp
về tình cảm”. Nhiệm vụ chăm sóc, khơi dậy tình cảm là phải làm sao để bảo vệ
những cảm xúc phù hợp, giúp trẻ phân biệt và phát triển các cảm giác phù hợp với
các tình huống diễn ra.
Về tâm lý: Đối với TEMC tâm lý chung của chúng, đó là sự li biệt, sự tổn
thân, phát hiện ra tiềm năng của mình, tự thấy mình là người có ích, từ đó có thái độ
hợp tác nhằm giúp trẻ hòa nhập cộng đồng một cách hiệu quả nhất.
1.1.4.4. Nhu cầu hoàn thiện, phát triển nhân cách
Từ khi sinh ra con người đã cố gắng hoàn thiện bản thân và đạt được những
thành công, thành tựu, sự trưởng thành. Cơ hội để một con người phát triển khả
năng và kỹ năng của bản thân có thể mang lại cho người đó ý nghĩa quan trọng về
sự tự chủ, độc lập trong cuộc sống. Sự cố gắng cải thiện bản thân mang lại cho
chúng ta ý nghĩa về mục đích của cuộc sống. Những người không có những mục
tiêu dài hạn và mong muốn hoàn thiện bản thân, cuộc sống của họ thường ít ý nghĩa
và kém thỏa mãn.
14
Nhu cầu cho sự trưởng thành cá nhân có thể hiểu là sự tiếp cận với hệ thống
giáo dục, bao gồm cả việc học ở nhà, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, chơi thể thao,
trải nghiệm tất cả những gì có thể mang lại cơ hội cho con người nhằm nâng cao
năng lực cá nhân, năng lực tinh thần, trí tuệ và phát triển toàn diện.
Đối với TEMC muốn phát triển tốt, muốn trở thành những con người có ích
cho xã hội, các em cần được sống trong một môi trường tốt cùng với sự nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục. Trẻ cần được tham gia và tự khẳng định mình trong mối quan
hệ với gia đình, bạn bè và xã hội. Các em có quyền với những tình cảm và suy nghĩ
riêng, có quyền bày tỏ ý kiến về những vấn đề có liên quan tới mình. Vì vậy người
lớn cần quan tâm, lắng nghe ý kiến của trẻ em trước khi quyết định những vấn đề có
liên quan đến trẻ em; giúp cho các em hiểu biết hơn, nâng cao hơn nhận thức, tích
luỹ được kinh nghiệm, giúp người lớn đưa ra những quyết định đúng đắn nhất để
giải quyết những vấn đề xảy ra trong cuộc sống có liên quan tới trẻ em…
1.2. CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Công tác xã hội
về CTXH cá nhân đối với TEMC như sau:
Công tác xã hội cá nhân đối với TEMC là một cách thức, quá trình mà NVXH
sử dụng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn để can thiệp, hỗ trợ từng cá nhân
TEMC, giúp các em phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết
vấn đề, cải thiện điều kiện sống của chính mình.
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em
mồ côi
1.2.2.1. Các nguyên tắc chung
Nguyên tắc 1: Công tác xã hội với trẻ em mồ côi cần phải dựa vào cơ sở khoa
học của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Luôn đặt trẻ em mồ côi
trong mối quan hệ tác động qua lại với các nhóm xã hội và trong mối quan hệ với
các quá trình, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; cần căn cứ vào điều kiện, hoàn
cảnh của từng khu vực, vùng, miền và từng giai đoạn phát triển nhất định của xã hội.
Nói cách khác, phải đặt nó trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể.
Nguyên tắc 2: Trong công tác xã hội với trẻ em mồ côi, do đặc thù của đối
tượng trẻ em này nên các em thường gặp phải những vấn đề rất khác nhau, nguyên
16
nhân nảy sinh vấn đề cũng rất đa dạng. Để hỗ trợ giải quyết vấn đề cho trẻ em mồ
côi phải sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Nguyên tắc 3: Do đặc thù của đối tượng trẻ em mồ côi, trong công tác xã hội
với đối tượng trẻ em này thường gặp nhiều vấn đề phức tạp hơn. Vì vậy, để có thể
nhận diện vấn đề của trẻ một cách chính xác, khoa học, đặc biệt về quy trình can
thiệp, trợ giúp trẻ em, cần phải sử dụng đồng thời nhiều phương pháp và kỹ năng
khác nhau.
1.2.2.2. Các nguyên tắc hành động cụ thể
Nguyên tắc 1: Chấp nhận và tôn trọng thân chủ
Trẻ em mồ côi là nhóm trẻ em yếu thế chúng đều có chung đặc điểm là nhu
em là người hiểu bản thân đang gặp phải những khó khăn gì, cần gì, năng lực của
mình có thể giải quyết được vấn đề của mình đến đâu, vì vậy, vấn đề khó khăn của
trẻ chỉ có thể được giải quyết thấu đáo khi có sự tham gia của các em. Trẻ em là
người sẽ tham gia từ khâu đánh giá, xác định vấn đề; tìm phương án giải quyết;
quyết định lựa chọn phương án, hình thức giải quyết; thực hiện giải pháp cũng như
đánh giá kết quả. Với nguyên tắc này, nhân viên xã hội chỉ giữ vai trò là chất xúc
tác, định hướng, khuyến khích trong quá trình trợ giúp thân chủ để thân chủ tự tìm
cách giải quyết vấn đề của mình mà không làm thay, làm hộ. Việc để thân chủ tham
gia tự giải quyết vấn đề của mình giúp cho trẻ tự học được cách tư duy, kỹ năng ra
quyết định, lựa chọn các phương pháp giải quyết vấn đề một cách hợp lý và hiệu
quả, từ đó tăng khả năng đối phó và thoát khỏi những vấn đề nảy sinh trong cuộc
sống.
Nguyên tắc 4: Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
Với nguyên tắc này, nhân viên xã hội không quyết định thay thân chủ bất kỳ
vấn đề nào có liên quan đến họ, mà chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ trẻ đưa ra những
quyết định đúng đắn và phù hợp với hoàn cảnh của trẻ. Quyết định lựa chọn giải
pháp nào là quyền của trẻ em, nhân viên xã hội cần tôn trọng ý kiến của trẻ, không
lựa chọn giải pháp thay thân chủ, không áp đặt ý kiến chủ quan cá nhân của mình
đối với thân chủ, không định hướng, thuyết phục thân chủ theo cách lựa chọn của
mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp trẻ không có khả năng tự quyết định
được như trường hợp trẻ còn quá nhỏ, bị rồi loạn tâm thần, bị bệnh tật quá nặng về
thể xác ảnh hưởng đến trí tuệ, bị tăng động quá khích… thì nhân viên xã hội cần xin
ý kiến từ người bảo trợ của trẻ. Trong trường hợp quyết định của thân chủ có nguy
cơ làm tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản vật chất của bản thân hay của người
18
khác thì nhân viên xã hội không chấp thuận quyết định của trẻ mà cần cho trẻ hiểu
được quy định của pháp luật về những vấn đề liên quan đến quyết định của chúng