VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------------*-------------
NGUYỄN VĂN QUẢNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM LANG THANG TỪ
THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI I,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHU
NN
NH C N
Mã số
T C
HỘI
: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Khắc Bình
Hà Nội - 2016
T C
THAN TẠI TRUN
HỘI NHÓM ĐỐI
TÂM BẢO TRỢ
HỘI I, TH NH PHỐ H NỘI .............................................................31
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ....................................................31
2.2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em
lang thang tại Trung tâm Bảo trợ xã hội I .........................................37
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH nhóm đối với trẻ em lang
thang tại Trung tâm bảo trợ xã hội I, Hà Nội .................................................. 55
Chương 3: ỨN
DỤN
CT H NHÓM TRON
TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC,
TẠI TRUN
TÂM BẢO TRỢ
IẢI QU ẾT VẤN ĐỀ
I O DỤC TRẺ EM LAN
THAN
NVXHCTXH
: Nhân viên xã hội công tác xã hội
DANH MỤC C C BẢN
Bảng 1.1. Số lượng trẻ em hoàn cảnh đặc biệt từ 2008 đến 2011 .................. 29
Bảng 2.1 Bảng về trình độ học vấn ................................................................. 34
Bảng 2.2 Bảng về kết quả các dịch vụ hỗ trợ cho TELT ................................ 40
Bảng 2.3 Bảng về sự hài lòng của TELT về các dichvụ CTXH…………….41
Bảng 2.4 Bảng dịch vụ hỗ trợ pháp lý choTELT……………………………47
Bảng 2.5 Bảng dịch vụ hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khoẻ choTELT…………..50
Bảng 2.6 Bảng dịch vụ hỗ trợ giáo dục choTELT…………………………..52
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1. Tháp nhu cầu của Maslow............................................................... 16
Biểu đồ 2.1. Dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho TELT (%) ......................................... 44
Biểu đồ 2.2. Sự hài lòng của TELT về dịch vụ tâm lý (%) ............................ 46
Biểu đồ 2.3. Sự hài lòng của TELT về dịch vụ pháp lý (%) .............................. 48
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” - trẻ em là những chủ nhân tương
lai của đất nước.Một dân tộc muốn tồn tại và phát triển không thể không quan
tâm đến thế hệ trẻ - lớp người sẽ kế tục sự nghiệp trong tương lai. Chủ tịch Hồ
Chí Minh lúc sinh thời đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủ
biết học hành là ngoan”. Trẻ em là những mầm sống, những búp non tương lai
đang lớn lên từng ngày, từng giờ trong sự chăm sóc, dạy dỗ của gia đình, nhà
22.947 em [3].
Hiện nay, trên phạm vi toàn quốc có 402 cơ sở bảo trợ xã hội công lập và
ngoài công lập, trong đó cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn gồm 218 cơ sở, được phân bố trên 8 vùng miền. Các cơ sở bảo trợ
xã hội công lập và ngoài công lập hoạt động dưới nhiều hình thức tên gọi khác
nhau như trung tâm (bảo trợ, cứu trợ, hỗ trợ, nuôi dưỡng, điều trị, điều dưỡng,
giáo dục, dạy nghề), làng trẻ em SOS, nhà trẻ, nhà tình thương, nhà nuôi dưỡng,
nhà an toàn, mái ấm tình thương, cô nhi viện, cơ sở nuôi dưỡng [1]… Theo số
liệu thống kê, Hà Nội có 23 cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó có đến 16 cơ sở bảo
trợ xã hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và 01 trung tâm có đối tượng
bảo trợ trọng tâm là trẻ em lang thang. Tuy vậy, mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội
vẫn chưa thể đáp ứng kịp thời sự gia tăng nhanh chóng về số lượng đối tượng trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Trong thời gian qua, mạng lưới các cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc trẻ em
đã góp phần chăm sóc, nuôi dưỡng các trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn, bao gồm trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em cần sự bảo vệ khẩn
cấp, trẻ em khuyết tật nặng, trẻ em nhiễm HIV/AIDS... Tuy nhiên, trong điều
kiện mới của đất nước và xu hướng phát triển an sinh xã hội của quốc tế, mạng
lưới các cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc trẻ em đã bộc lộ những vấn đề tồn tại
nhất định, đó là: Mạng lưới các cơ sở hiện nay thiếu về số lượng, yếu về chất
lượng. Các cơ sở chủ yếu chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung các đối tượng có hoàn
2
cảnh đặc biệt theo quy mô lớn; đối tượng sống xa cách với gia đình và cộng
đồng. Cơ sở vật chất của nhiều cơ sở bảo trợ xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng và cung cấp các dịch vụ
cho đối tượng bảo trợ xã hội. Một số cơ sở xây dựng từ lâu, nay đã xuống cấp;
dụng cụ y tế, trang thiết bị cần thiết để phục hồi chức năng còn thiếu thốn; cán
bộ làm công tác xã hội còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng; cơ sở chưa
mực quốc tế, tìm ra những thiếu hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ
sở đó đưa ra kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam,
đảm bảo từng bước hài hoà với pháp luật và các chuẩn mực quốc tế. Về bảo vệ
trẻ em mồ côi, đánh giá đã chỉ ra Việt Nam là nước đạt được nhiều tiến bộ đáng
kể trong việc hoàn thiện khung pháp lý đối với vấn đề nhận con nuôi trong nước
và nước ngoài. Mặt khác, đánh giá cũng chỉ ra nhiều vấn đề cần phải khắc phục
như: chưa có khung pháp lý về công tác đánh giá một cách có hệ thống và
chuyên nghiệp đối với trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi để quyết định mô hình
chăm sóc nào sẽ phù hợp với lợi ích tốt nhất cho các em, đảm bảo rằng trẻ em
được nhận nuôi trong một gia đình thay thế phù hợp nhất với lợi ích của các em.
Đây là một trong những phát hiện quan trọng và hết sức có ý nghĩa đối với bảo
vệ trẻ em mồ côi.
“Một số giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” là bài
viết của tác giả Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban
Dân số, Gia đình và Trẻ em, Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam
(2011). Tác giả đã nêu bật các nhóm trẻ em thuộc đối tượng có hoàn cảnh đặc
biệt và tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam. Dưới góc nhìn về vai
trò và hiệu quả hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của các
hội, hiệp hội và cơ sở ngoài công lập, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị với cơ
quan có thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách hỗ trợ các tổ
chức này hoạt động có hiệu quả hơn.
4
“Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng –
Những cơ sở xã hội và thách thức” là bài viết của các tác giả Nguyễn Hồng Thái
và Phạm Đỗ Nhật Thắng (2008), tìm hiểu sự chuyển đổi cách tiếp cận trẻ em
truyền thống sang tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em hiện nay. Theo đó, cách tiếp
cận truyền thống là tiếp cận dưới góc độ trẻ em là đối tượng cần được hỗ trợ và
nhau từ 10 đến dưới 18 tuổi. Nghiên cứu đi theo hướng mô tả về đời sống của
trẻ em lang thang trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
chỗ ở của trẻ em lang thang rất đa dạng, bao gồm mái ấm, nhà tình thương, nhà
ở không mất tiền, nhà trọ, nhiều em phải ngủ tại bến xe, nhà ga, số khác ngủ tại
gia đình đang làm thuê. Công việc của trẻ em lang thang thường là lao động
chân tay, không yêu cầu trình độ và kiến thức. Thu nhập của các em ở mức thấp
và bấp bênh. Chi tiêu của trẻ em lang thang chủ yếu cho những nhu cầu thiết yếu
của cuộc sống ở mức thấp và tiết kiệm. Cuộc sống của các em tương đối khó
khăn, hoàn cảnh gia đình éo le, trình độ học vấn thấp, cuộc sống bấp bênh và là
đối tượng bị đe dọa của nhiều tệ nạn xã hội. Nghiên cứu cũng mở ra những đòi
hỏi về chính sách an sinh xã hội, những biện pháp hỗ trợ cuộc sống cho trẻ em
lang thang.
Bài viết “Tìm hiểu về nhóm đối tượng trẻ em lang thang” của tác giả Vũ
Ngọc Phương (2012) đã cung cấp những thông tin quan trọng từ nhóm đối tượng
này. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để mô tả thực trạng trẻ em
lang thang về mặt số lượng, trình độ học vấn của các em, nghề nghiệp và những
mối đe dọa từ các tệ nạn xã hội. Từ đó, tác giả tìm hiểu nhu cầu của nhóm đối
tượng này thông qua nhóm nhu cầu: nhu cầu tâm lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu tự
do, nhu cầu tự khẳng định mình, nhu cầu giao lưu, học hỏi, đó là những nhu cầu
thiết yếu của các em cần được đảm bảo. Bài viết đã chỉ ra những giải pháp cơ
bản để cho các em có cuộc sống ổn định hơn. Bài viết chủ yếu phân tích nguồn
tài liệu sẵn có; những tài liệu của các nghiên cứu mới ở mức điểm qua, chưa có
nhiều phân tích sâu sắc.
6
“Những ảnh hưởng của tệ nạn xã hội đến trẻ đường phố" là một nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Văn Đoàn (2011) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tệ
nạn xã hội đến trẻ em đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình này đã
tiếp cận với dịch vụ chăm sóc, giáo dục tại Trung tâm Bảo trợ xã hội I thành phố
Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm trợ giúp đối với trẻ em lang thang trong việc tiếp cận
các dịch vụ chăm sóc, giáo dục tại Trung tâm Bảo trợ xã hội I Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu
Tập trung vào thực trạng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, giáo dục đối với
nhóm trẻ em lang thang, ứng dụng các Lý thuyết công tác xã hội vào can thiệp
tiếp cận các dịch vụ chăm sóc,giáo dục trẻ em lang thang tại Trung tâm.
-
Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Bảo trợ xã hội I, thôn Đồng
Dầu, xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội.
-
Phạm vi thời gian
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2016 đến tháng 6/2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh,đường lối chủ trương,chính sách pháp luật
của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, giáo dục trẻ em.
5.2. Phương pháp thu thập thông tin
Tổng
48
100.0
Cơ cấu tuổi:
Tuổi
Tần suất
(Trẻ)
Tỷ lệ
(%)
6-10
10
20.8
11-15
22
45.8
15-18
16.7
Cận nghèo
12
25.0
Nghèo
28
58.3
Tổng
48
100.0
9
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu theo cơ cấu đối tượng như sau:
Đối tượng phỏng vấn
S
trẻ, mái ấm tình thương, gia đình thay thế…, báo cáo hoạt động chăm sóc, bảo vệ
trẻ em ở Hà Nội theo từng năm, báo cáo tình hình hoạt động chăm sóc, nuôi
dưỡng trẻ em của Trung tâm Bảo trợ xã hội I năm 2015.
- Chương trình: Chương trình mục tiêu quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 20112015, chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010.
- Các công trình nghiên cứu, sách, báo, đánh giá, bài viết về trẻ em, trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn, trẻ em lang thang, mô hình chăm sóc, bảo vệ trẻ em lang
thang của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả trong cả nước.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú cơ sở dữ liệu cho
cho công tác chăm sóc trẻ em lang thang, có cách nhìn tổng quan về chính sách
trợ giúp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biêt và trẻ em lang thang tại Trung tâm
Bảo trợ xã hội I, thành phố Hà Nội.
10
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cung cấp một cách nhìn về thực trạng hoạt động bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em lang thang tại trung tâm bảo trợ xã hội I, thành phố
Hà Nội. Trên cơ sở đó, có những giải pháp tổ chức, điều phối nhân sự và các hoạt
động khác phù hợp hơn với tình hình thực tế, nhân viên xã hội tại Trung tâm bảo
trợ xã hội
Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với công tác bảo
vệ, chăm sóc trẻ em lang thang.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và giải pháp ,nội dung chính
được chia làm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Công tác xã hội nhóm
Trong phạm vi của đề tài, tác giả vận dụng khái niệm Trẻ em theo Điều 1,
Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Trên cơ sở đó, nhóm trẻ trong phạm vi
nghiên cứu là những em lang thang, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đủ 18
tuổi trở xuống tại Trung tâm Bảo trợ xã hội I, Huyện Đông Anh, Thành phố Hà
Nội [27].
1.1.2. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em sửa đổi năm 2004: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có
hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để
thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng”.
Cũng trong Luật này, Điều 40 quy định: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật,
12
tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ
em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải
làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em
nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật” [33].
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng khái niệm Trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 và Điều 40 trong Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004.
1.1.3. Trẻ em lang thang
Khoản 2, Điều 3, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm
2004 quy định: “Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi
kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang”.
Có thể chia trẻ em lang thang thành những nhóm sau:
1) Trẻ em ban ngày lang thang kiếm sống trên đường phố, tối trở về cùng
gia đình.
2) Trẻ em có gia đình nhưng tự lang thang kiếm sống và ít khi về thăm gia
hình cơ sở bảo trợ xã hội công lập có đối tượng bảo trợ trọng tâm là người lang
thang ở Hà Nội.
1.2. Đặc điểm tâm lý và cách tiếp cận trong hoạt động CT H đối với trẻ em
lang thang
1.2.1. Đặc điểm tâm lý
Trẻ em lang thang đường phố, hay còn gọi là trẻ lang thang là đối tượng
trẻ có những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Vì một số điều kiện từ phía gia đình
và xã hội, với độ tuổi còn non nớt nhưng các em vẫn phải tự bươn chải, kiếm
sống hàng ngày trên đường phố. Những khó khăn và cạm bẫy trong cuộc sống
mưu sinh của trẻ lang thang đã tạo nên một số đặc điểm tâm lý riêng biệt so với
những trẻ em cùng độ tuổi.
Dưới đây là một số đặc điểm tâm lý của trẻ lang thang:
- Thích sống tự do, không chịu sống trong khuôn khổ: Do khi sống trên
đường phố, các em được tự do đi lại, ăn uống, sinh hoạt, có nhiều mối quan hệ,
không bị ràng buộc bởi những quy định. Vì thế nếu các em được đưa vào Trung
tâm Bảo trợ thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng với những quy định,
14
điều lệ. Một số em dần quen và thích ứng, nhưng một số lại bỏ trốn ra ngoài,
mặc dù biết cuộc sống bên ngoài có nhiều cạm bẫy, nguy hiểm.
- Luôn có cơ chế tự vệ, phòng ngự cao: Mặc dù tự nhận thức được sự hạn
chế về khả năng của bản thân nhưng do phải thường xuyên đối đầu với những
nguy cơ đe doạ đến tính mạng, đến việc kiếm sống nên các em luôn phải cảnh
giác, trong trạng thái phòng ngự bất kể những gì có thể làm tổn hại đến mình.
- Có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ những người yếu thế: Các em rất
dễ thông cảm, đồng cảm với những người có cùng hoàn cảnh khó khăn như người
già yếu, người nghèo, người cô đơn không nơi nương tựa, người bị bỏ rơi, người
gặp hoạn nạn…. thường được các em sẵn lòng giúp đỡ, tương trợ. Một số em do
hoàn cảnh gia đình khó khăn đã biết tiết kiệm tiền để gửi giúp đỡ gia đình.
các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp
hơn phải đươc thỏa mãm trước. Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết , Maslow
đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
Hình 1.1 Thang nhu cầu của Maslow
Nhu cầu cơ bản: bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như : ăn
uống, ngủ, không khí để thở … Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và manh nhất
của con người. Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được
xếp vào bậc nhất : bậc cơ bản nhất. Maslow cho rằng, những nhu cầu này ở mức
đô cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn
16
và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành
động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được .
Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn này thể hiên trong cả thể chất lẫn
tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vê cho sự sống còn của mình khỏi
các nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường
hơp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, găp thú dữ…
Nhu cầu về xã hội : Nhu cầu này còn đươc goị là nhu cầu mong muốn
thuôc về môt bô phận , môt tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm , tình
thương. Nếu nhu cầu này không được thỏa mãn , đáp ứng, nó có thể gây ra các
bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh.
Nhu cầu đươc quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì
nó thể hiện hai cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua
các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận , quý trọng chính mình, danh
tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân. Vì thế
những nhân viên công tác xã hội tiếp xúc với trẻ lang thang đường phố, đặc biệt
với các em có tâm lý tuyệt vọng, chán chường phải biết hòa nhập với các em,
cầu của trẻ em lang thang . Phù hợp với nhu cầu của đối tượng là yêu cầu tiên
quyết , không thể thiếu quyết định hiêụ quả của các hoạt động trợ giúp; viêc tìm
hiểu nhu cầu của trẻ em lang thang là khâu không thể thiếu trong hoạt động cung
cấp dich vu công tác xã hội để đưa ra những trợ giúp hiệu quả nhất.
1.2.2.2. Cách tiếp cận theo quyền của trẻ em
Việt nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê
chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em vào ngày 20/02/19900. Công
ước này ghi nhận các nhóm quyền của trẻ em bao gồm:
Quyền được sinh tồn
Trẻ em được sống cuộc sống bình thường và được đấp ướng những nhu
cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triên thể chất. Đố là mức sống đủ, có nơi ở, ăn
uống đủ chất, được chăm sóc sức khoẻ. Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi
ra đời.
Quyền được phát triển
Bao gồm những điều kiện để trẻ em có thể phát triển đầy đủ về cả tinh
thần và đạo đức, bao gồm việc học tập, vui chơi, tham các hoạt động văn hoá,
tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng…Trẻ em cần có sự yêu
thương và cảm thông của cha mẹ đẻ có thể phát triển hài hoà.
18
Quyền được bảo vệ
Bao gồm những qui định như trẻ phải được bảo vệ khỏi các hình thức bóc
lột sức lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng ma tuý, sao nhãng và bị
bỏ rơi,buôn bán…Trẻ em còn được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào quyền
riêng tư. Quyên được bảo vệ bao gồm cả không tra tấn, đánh đập và lạm dụng
trong trường hợp trẻ em làm trái pháp lụt hay bị giam giữ.
Quyền được tham gia
Tạo điều kiện cho trẻ em được bày tỏ quan điểm và ý kiến về những vấn
đề có liên quan đến cuộc sống của mình. Trẻ em còn có quyền kết bạn, giao lưu