VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ BÁ CHU
CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT,
TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN HỮU CHÍ
Hà Nội, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về: “Chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực
tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” là hoàn toàn trung thực và không trùng
lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Lê Bá Chu
VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH
LÂM ĐỒNG Error: Reference source not found7
3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách công tác xã hội đối với
trẻ em khuyết tật.
Error: Reference source not found7
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
68
3.3. Lộ trình thực hiện.
Error: Reference source not found4
3.4. Một số kiến nghị.
Error: Reference source not found4
KẾT LUẬN Error: Reference source not found7
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
LĐ-TBXH
NKT
TEKT
CTXH
CSXH
DV
DVCTXH
Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật nói
chung, đặc biệt là trẻ em khuyết tật để họ tự vượt qua những thiệt thòi về thể chất,
tinh thần vốn có, tích cực hòa nhập cộng đồng là những hoạt động có tính nhân văn
sâu sắc, biểu hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là trách nhiệm của mỗi người,
mỗi gia đình, tổ chức kinh tế, xã hội, quần chúng và các cấp chính quyền. Ngay từ
những ngày đầu tiên khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính
phủ ta đã kịp thời tổ chức nghiên cứu, ban hành các chính sách, chế độ, đồng thời
đề ra nhiều chủ trương, biện pháp, đặc biệt đã tổ chức nhiều phong trào quần chúng
sâu rộng trong nhân dân nhằm chăm sóc và giúp đỡ trẻ em khuyết tật.
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới nền kinh tế của đất nước, Đảng và
Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đối tượng trẻ em khuyết tật thông qua các chính
sách, luật pháp như: Bộ Luật lao động, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em… cùng hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến chính sách
công tác xã hội. Trong đó đề cập đến những quyền cơ bản, bảo đảm cho trẻ em
khuyết tật được bình đẳng về mọi mặt trong xã hội, tạo nhiều thuận lợi cho trẻ em
khuyết tật tiếp cận tốt các lĩnh vực giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, học nghề,
lao động và việc làm…
Tuy nhiên, đất nước ta vốn trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, nền kinh tế
chưa phát triển, thiên tai xảy ra thường xuyên, môi trường sống và công tác vệ sinh
phòng dịch-chữa trị bệnh đang tồn tại nhiều bất cập, việc chấp hành luật lệ giao
thông, bảo hộ lao động chưa nghiêm, sự lạm dụng thuốc tân dược, yếu tố di truyền,
thương tích thể thao, … đã tạo nên những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gia
tăng số lượng người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng.
Thành phố Đà Lạt dù giữ vị trí trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch
vụ của tỉnh Lâm Đồng, với tốc độ tăng trưởng duy trì ổn định, nhưng cũng đồng
thời đối mặt với nhiều trở ngại khi số lượng người khuyết tật tại chỗ chiếm tỷ lệ khá
cao so với các địa bàn trong tỉnh và ngày càng biến động tăng cùng lượng dân nhập
1
công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh
Lâm Đồng”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, các vấn đề về NKT nói chung và TEKT nói riêng
luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các
chuyên gia, học giả trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này,
tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu
biểu như sau:
Các nghiên cứu về pháp luật, chính sách xã hội đối với người khuyết tật
Việc đảm bảo quyền của NKT đã trở thành một trong những yêu cầu quan
trọng để đảm bảo công bằng, vì con người và phát triển bền vững của quốc gia.
Chính vì thế, có nhiều công trình nghiên cứu về khung pháp lý nhằm đảm bảo
quyền của NKT nói chung và TEKT nói riêng, có thể kể đến một số công trình tiêu
biểu sau:
Tác giả Trần Thái Dương (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã nghiên cứu về
những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, đặc biệt là
những quy định của Công ước về quyền của NKT trong việc bảo đảm quyền tiếp
cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của NKT, từ đó đề xuất một số ý kiến
nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phê
chuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước. [7, tr.12].
Tác giả Trần Thị Thúy Lâm đã có bài viết phân tích và đánh giá thực trạng
pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho NKT trên các phương diện: Chính
sách đối với cơ sở dạy nghề, NKT học nghề và giáo viên dạy nghề cho NKT; đồng
thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với NKT
cả ở phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện.[10, tr.18].
Ngoài ra, còn có các đề tài luận văn, luận án ngành luật học nghiên cứu về vấn
đề lý luận và thực tiễn để đảm bảo cho quyền của NKT được thực hiện như: “Hoàn
thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
thạc sĩ ngành CTXH trong những năm gần đây có xu hướng chuyên sâu nghiên cứu
về thực trạng của CTXH đối với NKT tại các Trung tâm bảo trợ xã hội, tại cộng
4
đồng. Từ đó, vận dụng các phương pháp CTXH với cá nhân, phương pháp CTXH
với nhóm để thúc đẩy hoạt động trợ giúp cho NKT mang tính chuyên nghiệp hơn như
đề tài: “Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp người khuyết tật từ thực tiễn
Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, Hà Nội” của Nguyễn
Ngọc Tùng [21]; đề tài “Công tác xã hội đối với người khiếm thị từ thực tiễn huyện
Mỹ Đức, thành phố Hà Nội” của Lê Thanh Thủy [22];…
Đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành quản lý nguồn nhân lực “Nghề
CTXH ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hà (2010): Đã nghiên cứu một số lý
luận và thực tiễn về nghề CTXH; đánh giá về pháp luật, cơ chế chính sách về
CTXH, thực trạng nghề CTXH ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất định hướng và
giải pháp phát triển nghề CTXH ở Việt Nam như: Hoàn thiện thể chế, chính sách;
xây dựng các tiêu chuẩn cơ sở bảo trợ ở Việt Nam; đào tạo đội ngũ cán bộ nhân
viên CTXH và phát triển, nâng cấp mạng lưới các cơ sở cung cấp DVCTXH.
Tác giả Nguyễn Thụy Diễm Hương và Tạ Thị Thanh Thủy (trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) cũng có bài viết nhấn mạnh đến việc
thực hành CTXH đối với NKT có thể sử dụng các phương pháp “Tăng quyền lực”,
“Dựa trên quyền” và “Điểm mạnh” để có thể làm tăng năng lực cho NKT, giúp cho họ
tham gia vào xã hội, đồng thời chống lại những rào cản do phân biệt đối xử và thành
kiến gây nên. [8].
Nhìn chung, các nghiên cứu đã dần mở ra nhiều hướng tiếp cận mới trong
vấn đề thực hành CTXH đối với NKT nói chung trong đó có TEKT, góp phần hoàn
thiện hệ thống lý luận về CTXH đối với NKT và TEKT. Song, các công trình, đề tài
nghiên cứu nêu trên chỉ dừng lại ở một khía cạnh như: Chính sách CTXH, hoặc là
CTXH, chưa thấy có công trình nào nghiên cứu đầy đủ: Chính sách CTXH đối với
Việt Nam” do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ. Qua quá
trình trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm từ thực tiễn của các Hiệp hội NKT trong toàn
quốc đã cho thấy Công ước về quyền NKT đã mở ra một cách nhìn nhận, tiếp cận
mới của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đối với NKT. Công ước thúc
đẩy việc bảo đảm NKT được thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản như tất cả mọi
người.
6
Hội thảo “Thúc đẩy cộng đồng: Tăng quyền cho người khuyết tật” được diễn
ra vào ngày 26/3/2015 tại Hà Nội, nhằm giới thiệu dự án Rights Now!, đánh giá
thực trạng thực thi quyền của NKT sau khi Công ước quốc tế về quyền của NKT
được phê chuẩn tại Việt Nam, đồng thời cũng là cơ hội để chia sẻ kỹ năng, công cụ,
kinh nghiệm và tài liệu hỗ trợ nâng cao năng lực cho Hội/nhóm/tổ chức của hoặc vì
NKT Việt Nam trong tương lai. Chương trình do MIUSA (tổ chức vận động quốc tế
Hoa Kỳ), DREDF (Quỹ Bảo vệ và Giáo dục Quyền của NKT), IFES (Quỹ quốc tế
về hệ thống bầu cử Hoa Kỳ), USICD (Hội đồng Quốc tế về NKT) và Trung tâm
ACDC đồng tổ chức.
Hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản lý trường hợp với người khuyết tật tại
Việt Nam” do Khoa Công tác xã hội của Học viện khoa học xã hội Việt Nam tổ
chức vào ngày 22/10/2015, là hội thảo khoa học mang nhiều ý nghĩa khi nội dung
nghiên cứu, thảo luận hướng đến vấn đề “Quản lý trường hợp với NKT” – đây là
hướng đi mới hỗ trợ NKT đang được triển khai ở nhiều địa phương theo Thông tư
01/TT-Bộ LĐTB-XH về công tác Quản lý trường hợp với NKT nhưng còn nhiều
khó khăn như: kinh phí, nguồn nhân lực, nhận thức của chính quyền địa phương các
cấp về công tác này. Đồng thời, thông qua các bài báo cáo của các chuyên gia và
phần hỏi - đáp, thảo luận đã gợi mở những định hướng nghiên cứu cho học viên cao
học, nghiên cứu sinh lựa chọn để làm chủ đề, phát triển nghiên cứu của đề tài luận
văn cao học.
với TEKT;
(iii).Tìm hiểu, đánh giá thực trạng chính sách CTXH đối với TEKT cũng như
các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách CTXH đối với TEKT tại thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng;
(iv). Đưa ra một số quan điểm, mục tiêu, giải pháp và lộ trình hoàn thiện chính
sách CTXH đối với TEKT tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng và cả
nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về cơ sở lý luận và chính sách CTXH đối với TEKT từ thực tiễn
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
8
- Nội dung nghiên cứu: Tình hình thực hiện chính sách CTXH đối với TEKT.
- Địa bàn nghiên cứu: Tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về
đời sống của NKT nói chung và TEKT nói riêng, thực trạng chính sách CTXH đối
với TEKT tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, rút ra được những lý luận và đưa
ra được những đề xuất về giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách
CTXH đối với TEKT tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân tích và
khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm
các văn kiện, giáo trình, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ
ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu
thông tin thông qua việc quan sát hoàn cảnh sống, thái độ, thể trạng... của đối tượng
được tiếp xúc, cụ thể:
Quan sát về môi trường, không gian sống và điều kiện sinh sống trong sinh
hoạt hằng ngày của NKT, TEKT; quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái
tâm lý của NKT, TEKT; quan sát thái độ, hành vi của cán bộ trực tiếp làm việc đối
với NKT, TEKT, gia đình TEKT và quan sát thực trạng đời sống kinh tế - xã hội địa
phương, thái độ, hành vi của người dân, của chính quyền đối với các vấn đề liên quan
đến chính sách CTXH đối với TEKT… Những quan sát này sẽ góp phần làm sáng tỏ
thêm những kết quả nghiên cứu định lượng đã thu thập được.
5.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp xử lý số liệu thống kê, khai thác có hiệu quả các số liệu; rút ra
được những nhận xét, kết luận khoa học khách quan đối với vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ lý luận về chính sách CTXH đối với
TEKT từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, qua đó bổ sung và làm phong
10
phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá về chính sách CTXH đối với TEKT ở thành
phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng và trên cả nước nói chung.
Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết về
CSXH, lý thuyết về CTXH nói chung và CTXH đối với TEKT nói riêng là cần thiết
trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, từ đó góp phần hoàn thiện chính sách CTXH
với TEKT ở nước ta nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc xây dựng cũng
như tổ chức thực hiện. Là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người có
quan tâm đến lĩnh vực chính sách CTXH nói chung và chính sách CTXH đối TEKT
nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
khuyết tật.
Chương 2: Chính sách công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách công tác xã hội đối đối với trẻ em
khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
12
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
1.1. Các khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Khuyết tật,người khuyết tật và trẻ em khuyết tật
1.1.1.1. Khuyết tật
Có nhiều cách hiểu cũng như nhiều định nghĩa khác nhau về khuyết tật, tuy
nhiên mỗi cách hiểu đều xét trên những mục đích và quan điểm khác nhau.
Từ “khuyết tật” có nguồn gốc từ “disability” trong tiếng Anh. Theo nguyên
ngữ từ này có nghĩa là sự hàm ý hạn chế hoặc thiếu khả năng thực hiện một hoạt
động gì đó do có khiếm khuyết. [9, tr.23].
Từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu mất một bộ phận, một phần; từ
“tật” có nghĩa là “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu,
dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được,
của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra”
trong từ điển Tiếng việt. Như vậy, có thể hiểu khuyết tật là khiếm khuyết thực thể ở
một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết chức năng ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ
chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.
[23, tr.7].
Trong hệ thống “Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe”
(ICF) (năm 2001) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa khuyết tật
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 của Việt
Nam: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”; trong
Bộ luật tố tụng Hình sự sử dụng khái niệm “người chưa thành niên” là người đủ 14
tuổi đến dưới 18 tuổi”. Trong thực tế việc thực hiện một số chính sách trợ giúp cho
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nước ta vẫn vận dụng cho những người trong độ tuổi
vị thành niên từ 16 đến dưới 18 tuổi như chính sách trợ cấp xã hội, trợ giúp về giáo
dục, y tế…
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng khái niệm TEKT căn cứ theo
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2014: “Trẻ em khuyết tật là trẻ em
dưới 16 tuổi không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay
nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau,
14
làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều
khó khăn”. [4,tr.12].
1.1.1.4. Đặc điểm của trẻ em khuyết tật
TEKT đương nhiên là đối tượng thuộc nhóm yếu thế cần sự giúp đỡ của toàn
xã hội, đây cũng là nhóm đối tượng đặc thù trong hoạt động CTXH. Họ gặp khó
khăn về nhiều mặt trong cuộc sống, trong đó có khó khăn về học tập, việc làm, bị
kỳ thị, phân biệt... Những đặc điểm tâm lý cũng như thể chất của TEKT luôn ảnh
hưởng đến hoạt động trợ giúp cho đối tượng, cụ thể:
- Về tính cách: TEKT thường bi quan, chán nản, tự ti, mặc cảm, tủi phận, cho
mình là người bỏ đi, là gánh nặng của gia đình, người thân, ngại giao tiếp với mọi
người. Tuy nhiên các em rất giàu nghị lực để vượt qua những khó khăn, tật nguyền
để đạt được thành tích cao trong học tập, lao động nếu được sự hỗ trợ thích hợp của
gia đình và xã hội.
- Về trí tuệ: Trí tuệ của TEKT nói chung giảm sút, tùy theo dạng tật ( khiếm
thị, khiếm thính…) do đó số lượng cảm giác, tri giác giảm và ảnh hưởng tới độ
riêng biệt. Do đó, có rất nhiều định nghĩa về CTXH.
Định nghĩa của IFSW - Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế (tại đại hội
Montrean tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội việc
giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải
phóng người dân giúp cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu. Vận dụng các
lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm
tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là
các nguyên tắc căn bản của nghề. [12, tr.10].
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác
nhau, điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực
tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương
pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. CTXH theo đuổi mục
tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. [12, tr.11].
CTXH tại Việt Nam cũng được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa
học về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã
hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế
16
hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên
môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn
những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai
trò xã hội của mình.
Như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của Nguyễn
Hồi Loan được thông qua tháng 7 năm 2014 tại Hội thảo quốc tế của APASWE,
Melbourne như sau: “CTXH là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo
những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên cơ sở văn hóa
truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc
con người và tiến bộ xã hội”. [12,tr.11].
1.1.3. Chính sách, chính sách xã hội và chính sách công tác xã hội đối với
trẻ em khuyết tật
1.1.3.1. Chính sách
Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội,
qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu cho thấy khái niệm, định nghĩa chính sách
được thể hiện khác nhau như: (i). Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể
nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình
thực tế mà đề ra. (ii). Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng
phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội…
Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như: Chính
sách đối ngoại, chính sách kinh tế…, trong các loại chính sách chung lại có các
chính sách riêng đối với từng lĩnh vực. Tóm lại, có nhiều loại chính sách khác nhau,
có chính sách chung, chính sách cụ thể tuỳ thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế xã hội. Chính sách được thực thi khi được thể chế hoá bằng pháp luật. Nói một cách
khác, pháp luật là kết quả thể chế hoá đường lối, chính sách, là công cụ để thực thi
chính sách. Do chính sách có các loại và cấp độ khác nhau, có những chính sách
mang tính định hướng, có những chính sách cụ thể, nên các cấp phê duyệt chính
sách và nguồn chính sách cũng khác nhau, do các cấp khác nhau ban hành.
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, Chính sách của Nhà nước được
hiểu là tập hợp văn bản mà Chính phủ xây dựng, ban hành với mục đích rõ ràng, tác
động đến nhóm người hoặc toàn bộ người dân trong xã hội. Ở nghĩa rộng hơn,
18
chính sách là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý sử
dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những
mục tiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ thể.
1.1.3.2. Chính sách xã hội
CSXH là công cụ để đảm bảo nền an sinh xã hội. CSXH ở một nghĩa rộng
nhất được hiểu như một bộ phận cấu thành chính sách chung của một Nhà nước,
chính quyền hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết vấn đề liên quan tới cuộc