Vai trò nhân viên công tác xã hội đối với trẻ em bị HIVAIDS từ thực tiễn các trung tâm bảo trợ xã hội, tỉnh bà rịa – vũng tàu - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THÙY HƯƠNG

VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HIV/AIDS TỪ THỰC TIỄN
CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Chuyên ngành:

Công tác xã hội

Mã số:

60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Vai trò nhân viên công tác xã hội đối với trẻ em
bị HIV/AIDS từ thực tiễn các Trung tâm bảo trợ xã hội, tỉnh Bà Rịa –

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HIV/AIDS TẠI TRUNG
TÂM BẢO TRỢ TRẺ EM VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU.. 65
3.1. Các khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực thi
chính sách....................................................................................................... .65
3.2. Các khuyến nghị đối với nhân viên công tác xã hội trợ giúp trẻ em có
HIV/AIDS tại các Trung tâm có chăm sóc trẻ HIV/AIDS..............................67
KẾT LUẬN……….……………….………………………………..……..................…69
TÀI LIỆU THAM KHẢO…..……………………………………….......................72
PHỤ LỤC...........................................................................................................81


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
HIV/AIDS hiện nay được xem là “căn bệnh thế kỷ”, là mối đe dọa cho
con người bởi khả năng gây tử vong cao, sự lây lan nhanh chóng, và hiện nay
vẫn chưa có loại thuốc đặc trị nào có thể chữa được bệnh này cũng như chưa
có vắc xin phòng bệnh.
Ở Việt Nam, tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tiếp tục diễn biến phức
tạp. Nó xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành và có xu hướng ngày càng lan rộng,
đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ, tính mạng con người, trật tự an toàn xã hội và
sự phát triển của đất nước. Thời gian qua, dưới tác động của công tác giáo dục
và truyền thông thay đổi hành vi, nhận thức của người dân về dự phòng lây
nhiễm HIV/AIDS ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực.
Một trong những đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, phải gánh
chịu nhiều hậu quả nặng nề chính là trẻ em. Ở Việt Nam, con số trẻ em bị
nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng đang ngày càng gia tăng. Ảnh
hưởng của HIV/AIDS đối với trẻ em là rất lớn, thậm chí có tính chất quyết
định đối với cuộc sống của các em, nhất là những trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp
(trẻ có/nhiễm HIV/AIDS).
Công tác xã hội (sau đây viết tắt là CTXH) là một ngành nghề tương

chuyên môn về CTXH để làm việc với trẻ em có HIV/AIDS. Hoạt động chủ
yếu vẫn là những chăm sóc tối thiểu như cho ăn - mặc, chở đi học, khi đau
bệnh thì đưa đi bệnh viện khám, uống thuốc,…; mà nhu cầu cần được trợ giúp
của trẻ HIV/AIDS không chỉ dừng lại ở những những nội dung đó.
Theo chủ trương chung về tinh giản biên chế nên không có định suất
dành cho NVCTXH. Mặt khác, nghề CTXH tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang
trong giai đoạn hình thành, kinh nghiệm CTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS
chưa nhiều, và nhận thức của các cơ quan, ban ngành, của xã hội về vai trò
của NVCTXH đối với các đối tượng yếu thế nói chung chưa thật sự được
đánh giá đúng mức. Chính vì lý do trên mà tôi thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Vai trò NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS tại các Trung tâm Bảo trợ xã
hội, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”. Luận văn sẽ nghiên cứu lý luận và đánh giá

2


thực trạng vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS tại các Trung
tâm bảo trợ xã hội của tỉnh hiện nay và đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp
các cơ quan chức năng, những nhà quản lý và các cán bộ, nhân viên thực thi
chính sách về bảo trợ xã hội có những đánh giá và quan tâm đúng mức về vai
trò của NVCTXH đối với các đối tượng yếu thế, đặc biệt là trẻ em HIV/AIDS
tại các Trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh, để hướng tới việc tranh thủ
sự ủng hộ, vận động, đề xuất, tạo điều kiện, cơ chế cho NVCTXH hoạt động
và phát huy vai trò của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, vai trò của NVCTXH đối với đối tượng yếu thế
đã và đang ngày càng được xã hội đánh giá cao trong hoạt động nghề
nghiệp. Có một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu về vai trò của NVCTXH
trong hỗ trợ tâm lý cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS; vai trò của NVCTXH
trong trợ giúp gia đình có trẻ tự kỷ; và một số đề tài liên quan đến vai trò của

viện hiện nay” năm 2013 của tác giả Dương Thị Phương (Nghiên cứu tại
bệnh viện Nhi Trung ương) làm rõ vai trò của NVCTXH là người hỗ trợ, kết
nối – trung gian và vai trò giáo dục trong trợ giúp đối tượng. Qua nghiên cứu
cho thấy đội ngũ NVCTXH này đã và đang cung cấp hệ thống dịch vụ trợ
giúp về tinh thần và vật chất đến bệnh nhân và thân nhân của họ để có thể
khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, phần nào hỗ trợ cho quá trình điều
trị được thực hiện tốt hơn.
- Nghiên cứu “Vai trò của NVCTXH trong trợ giúp gia đình có trẻ tự
kỷ tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ” năm 2014 của tác giả Đào Thị Lương,
được tiến hành tại huyện Văn Giang – Hưng Yên. Mục đích và phạm vi
nghiên cứu của đề tài này là khẳng định vai trò của NVCTXH trong trợ giúp
gia đình có trẻ tự kỷ tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ. NVCTXH thực hiện
vai trò tham vấn chính sách, kết nối gia đình trẻ với các hệ thống khác như:
trường học các cấp, địa phương, các nhà tài trợ,…Trong quá trình thực hiện
vai trò này, NVCTXH gặp khó khăn ở việc thực tế hiện nay các nguồn lực
hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình trẻ không nhiều, vì vậy các phụ huynh có con bị

4


bệnh tự kỷ hầu như đều phải tự mày mò phương hướng giải quyết các vấn đề
xung quanh việc trong gia đình có thành viên mắc bệnh tự kỷ.
Tóm lại, theo những tài liệu và thông tin mà tác giả thu thập được thì
những nghiên cứu chỉ dừng lại ở những vấn đề hỗ trợ, can thiệp cho đối tượng
tiếp cận dịch vụ, tham vấn cho đối tượng hay chỉ tập trung theo hướng nghiên
cứu về một/một số vai trò của NVCTXH trong quá trình trợ giúp thân chủ.
Các đề tài đó chỉ mới nghiên cứu trong phạm vi các vấn đề tương ứng với
từng trường hợp hoặc nhóm đối tượng cụ thể theo tình hình thực tiễn ở một số
địa bàn đặc thù của từng địa phương đó. Còn một số vấn đề mà luận văn này
hướng tới như vai trò của NVCTXH đối với trẻ có HIV/AIDS như thế nào,

với trẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm bảo trợ trẻ em Vũng Tàu, trên cơ sở
đó phát triển cho các Trung tâm bảo trợ xã hội của tỉnh có chức năng chăm
sóc trẻ em HIV/AIDS sau này.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của NVCTXH đối với trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ
trẻ em Vũng Tàu.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Nhà quản lý, chuyên gia.
- Cán bộ, nhân viên Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu.
- Trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh trong phạm vi
nghiên cứu là các cơ sở bảo trợ xã hội công lập trực thuộc Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội tỉnh. Trong phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên
cứu tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu (vì trong hệ thống các cơ sở bảo
trợ xã hội của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đây là cơ sở duy nhất có chức năng
tiếp nhận và chăm sóc trẻ em HIV/AIDS).
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2008 – 2014 đến nay.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Trong CTXH đối với trẻ em
HIV/AIDS có rất nhiều vấn đề mà trẻ nhiễm cần được hỗ trợ, và vai trò của
NVCTXH cũng được thể hiện ở rất nhiều vị trí khác nhau. Tuy nhiên, trong
phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu và làm rõ 04 vai trò chính, quan

6


trọng của NVCTXH đối với thực tiễn cụ thể của Trung tâm Bảo trợ trẻ em
Vũng Tàu, mà những vai trò này hiện nay còn đang bỏ ngỏ, chưa được
Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu thực hiện tốt, các vai trò đó là: người

các nghiên cứu về trẻ em HIV/AIDS; số liệu trong các báo cáo của Sở Lao
động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, của Trung tâm Phòng
chống HIV/AIDS – Sở Y tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trung tâm Bảo trợ trẻ
em Vũng Tàu; báo cáo đánh giá của tổ chức WWO; sách, báo, tạp chí trong
nước; thông tin từ mạng Internet; các văn bản và định hướng của Nhà nước
trong lĩnh vực liên quan đến đề tài.
- Phương pháp chuyên gia: người thực hiện tiến hành lựa chọn và
phỏng vấn sâu 03 chuyên gia của tổ chức phi Chính phủ (WWO) hoạt động
trong lĩnh vực CTXH với trẻ em HIV/AIDS. Họ là những NVCTXH chuyên
nghiệp đã từng tham gia quản lý, điều phối, thực hiện dự án hỗ trợ trẻ em có
HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu giai đoạn 2008 – 2014.
Đây là những người có hiểu biết sâu, có nhiều kinh nghiệm và thực tiễn trong
CTXH đối với trẻ em HIV/AIDS. Các ý kiến của chuyên gia sẽ được xem
như là cơ sở, là mốc chuẩn để so sánh, nêu bật việc thực hiện một số vai trò
giữa NVCTXH chuyên nghiệp và nhân viên của Trung tâm (những người làm
CTXH) trong quá trình hỗ trợ trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em
Vũng Tàu. Ý kiến của chuyên gia giúp làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu, nhất
là hiểu được các nhu cầu trợ giúp về CTXH của trẻ có HIV/AIDS, đánh giá
được những yếu tố chính ảnh hưởng đến trẻ, cũng như những yếu tố làm ảnh
hưởng đến việc thực hiện vai trò của NVCTXH trong hoạt động nghề nghiệp
của họ và đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao vai trò của
NVCTXH tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội có chăm sóc trẻ em HIV/AIDS
của tỉnh trong thời gian tới. Các ý kiến của chuyên gia sẽ là những gợi ý hữu
ích giúp quá trình nghiêu cứu và tác nghiệp của người viết thêm thuận lợi và
hiệu quả hơn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tiến hành phỏng vấn sâu với 03 người ở cấp quản lý (01 lãnh đạo Sở,
02 lãnh đạo Phòng chuyên môn của Sở), 03 chuyên gia của tổ chức phi Chính
phủ WWO tại Việt Nam trong dự án hỗ trợ trẻ HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo


được nuôi dưỡng tại Trung tâm. Giai đoạn quan sát thực tế được tiến hành
trong suốt quá trình nghiên cứu, xác định vai trò của NVCTXH đối với trẻ em
có HIV/AIDS tại Trung tâm.

9


- Phương pháp phân tích:
Sử dụng chương trình SPSS để xử lý, phân tích bảng hỏi; trích dẫn nội
dung phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép theo chủ đề phân
tích.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những thông tin thu thập được từ luận văn đã chỉ rõ được vai trò của
NVCTXH trong hỗ trợ đối tượng yếu thế nói chung và trẻ em có HIV/AIDS
nói riêng. Trên cơ sở các khái niệm, cơ sở lý luận về trẻ em có HIV/AIDS, về
các đặc điểm, nhu cầu của trẻ HIV/AIDS, vai trò của NVCTXH đã được làm
rõ, góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý
luận về vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS nói riêng và lý
luận về vai trò của NVCTXH nói chung. Đồng thời, luận văn là nguồn tài liệu
tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực nghiên cứu vai trò của
NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu vấn đề vai trò của NVCTXH có ý nghĩa thiết thực và trực
tiếp đối với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giúp các nhà quản lý, các cơ quan chức
năng hiểu đúng và đủ về vai trò, tầm quan trọng, ảnh hưởng của NVCTXH
đối với việc trợ giúp các đối tượng yếu thế nói chung, đặc biệt là trẻ em có
HIV/AIDS sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội của tỉnh. Sự có mặt của
NVCTXH tại các Trung tâm với việc thực hiện các vai trò của họ sẽ đồng
hành, giúp trẻ HIV/AIDS có thể sống và lớn lên một cách tự tin và có khả

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA
NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HIV/AIDS
1.1. Khái niệm và đặc điểm của trẻ em có HIV/AIDS
1.1.1. Khái niệm về trẻ em có HIV/AIDS
*Khái niệm trẻ em
Theo Công ước về quyền trẻ em của Liên hiệp quốc thì: “Trẻ em mọi
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định
tuổi thành niên sớm hơn” [10, tr.02].
Còn theo Luật Trẻ em do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ban hành ngày 05/4/2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16
tuổi”[04, tr.01].
Trong luận văn này, chọn khái niệm trẻ em theo quy định của Luật Trẻ
em.
*Khái niệm HIV/AIDS
Theo Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) ban hành năm 2006, thuật ngữ HIVvà
AIDS được hiểu như sau [05, tr.01]:
- HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency
Virus”, là virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy
giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
- AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune
Deficiency Syndrome”, là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV
gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư
và có thể dẫn đến tử vong.
* Khái niệm trẻ em có HIV/AIDS

12





- Tiêu chảy mạn tính: thường xảy ra ở giai đoạn AIDS tiến triển nặng,
kết hợp với nhiễm trùng đường ruột.
Ngoài ra, có thể gặp các tổn thương thần kinh, bệnh viêm phổi, viêm
tuyến mang tai, xuất huyết giảm tiểu cầu, tan máu tự nhiên, viêm cơ tim, viêm
thận,...và ung thư da dạng Sacoma Kaposi (mặc dù ở trẻ em hiếm gặp hơn
nhiều so với người lớn).
- Nhiễm trùng da: hay gặp do các loại vi-rút Herpes, tróc lở do tụ cầu,
liên cầu và có thể do một số loại nấm.
- Nhiễm trùng phổi: hay gặp nhất là viêm phổi do một số loại vi-rút hoặc
một số loại nấm, tỷ lệ mắc bệnh lao phổi ở những trẻ nhiễm HIV thường khá
cao.
- Nhiễm trùng tiêu hoá: thường xảy ra do mắc các loại vi khuẩn viêm dạ
dày – đường ruột như E. Coli, Salmonella, trực khuẩn lị,... và có thể do nấm,
đặc biệt là nấm Candida Albicans.
Ngoài những loại nhiễm trùng cơ hội hay gặp kể trên, còn có thể gặp
viêm màng não do nấm, viêm gan, vi-rút các loại.
(Nguồn: />s)
* Đặc điểm về tâm lý – xã hội
- Đối với trẻ 0 – dưới 6 tuổi: trẻ chưa có nhận thức về HIV và về thái
độ của những người xung quanh nên giai đoạn này tâm lý trẻ phát triển như
những trẻ em bình thường khác.
- Đối với trẻ 6 – 12 tuổi: các em đã phần nào cảm nhận, nhận thức được
tình trạng sức khoẻ của mình. Do đó, các em thường mang tâm lý ngại giao
tiếp, lo sợ về sự đau đớn do bệnh mang lại, về sự xa lánh và phân biệt đối xử
của những người xung quanh đối với các em.

14


thể chất và sinh lý đó là nhu cầu được chăm sóc đời sống vật chất như thức
ăn, nước uống, nơi ở, nghỉ ngơi. Đây là nhu cầu không thể thiếu và ảnh hưởng
trực tiếp đến sự sống còn của các em và cũng là quyền đầu tiên trong số
những quyền các em phải được hưởng theo Công ước của Liên hiệp quốc về
quyền trẻ em. Chỉ khi đáp ứng được đầu đủ nhu cầu này thì mới có thể tạo
điều kiện cho trẻ phát triển bình thường trước hết về mặt thể chất.
- Nhu cầu an toàn xã hội: được đảm bảo về sức khoẻ, tiếp cận với các
dịch vụ khám chữa bệnh thông thường cũng như đặc biệt là nhu cầu quan

16


trọng cần được đáp ứng đối với tất cả mọi người. Riêng đối với trẻ có
HIV/AIDS thì nhu cầu này là rất cần thiết bởi vì các em đã mang bệnh, khả
năng miễn dịch không thể bằng những trẻ bình thường khác, hoặc thường
xuyên sống với bệnh tật nên các em cần được kiểm tra sức khoẻ một cách đầy
đủ và thường xuyên.
Bên cạnh việc được đảm bảo về sức khỏe thì các em cũng cần được yêu
thương, chăm sóc, đặc biệt là từ những người gần gũi trẻ. Hầu hết trẻ có
HIV/AIDS đều mong muốn có người thân thiết để chia sẻ hoặc hỗ trợ tâm lý
khi cần thiết. Nếu không có cảm giác được yêu thương, che chở, trẻ dễ rơi vào
tâm trạng lo sợ, tự ti và khép mình.
- Nhu cầu xã hội: cùng với mong muốn được an toàn, trẻ có HIV/AIDS
cũng rất muốn được hoà nhập cuộc sống cộng đồng, muốn được tới trường
học tập, vui chơi giải trí như những đứa trẻ bình thường khác. Vui chơi, học
tập và giao lưu với bạn bè đều là những hoạt động chủ đạo của trẻ em. Do đó,
nếu những nhu cầu xã hội này được đáp ứng thì trẻ có HIV/AIDS sẽ có điều
kiện phát triển bình thường về trí não cũng như tâm lý, tình cảm. Nhưng hiện
nay, nhu cầu này chưa được đáp ứng tích cực bởi rất nhiều định kiến tiêu cực
trong xã hội, và để các em có thể đến trường một cách “công khai”, có thể hoà

1.2.1. Khái niệm “Nhân viên xã hội” (hay “Nhân viên công tác xã
hội”)
Theo “Nghề Công tác xã hội – nền tảng, triết lý và kiến thức” (Gina
A.Yap, Joel C.Cam, Bùi Thị Xuân Mai), thì: NVCTXH là người được đào tạo
công tác xã hội (có bằng đại học hay thạc sĩ), sử dụng kiến thức và kỹ năng để
cung cấp các dịch vụ xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ
chức hay xã hội. Nhân viên xã hội giúp con người tăng cường năng lực đối
phó và giải quyết vấn đề, và giúp họ tìm kiếm được các nguồn trợ giúp cần
thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa con người với
môi trường xung quanh họ, làm cho các tổ chức có trách nhiệm với con người
và tác động đến chính sách xã hội [09, tr.46].

18


Tuy nhiên, ở Việt Nam, NVCTXH được quy định là có bằng trung cấp
về CTXH hay các ngành liên quan gần [09, tr.46].
1.2.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội
Vai trò của CTXH là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình,
nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ
thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các
mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội.
Để đạt được điều này, ngành CTXH phải thực hiện các nhiệm vụ tham
vấn, trị liệu, giáo dục, thương lượng, hoà giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên
cứu. Tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà NVCTXH sẽ phối hợp thực
hiện các nhiệm vụ trên cũng như chọn phương pháp thực hiện phù hợp.
Nói cách khác, khi NVCTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò và
các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối
tượng mà họ làm việc
Theo quan điểm của Feyerico (1973), NVCTXH có những vai trò sau

- Vai trò là người tư vấn: NVCTXH tham gia như người cung cấp
thông tin tư vấn cho các thân chủ cần có những thông tin như thông tin về
chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho
trẻ nhỏ hay người cao tuổi.
- Vai trò là người tham vấn: NVCTXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự
mình xem xét vấn đề và tự thay đổi.
- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng:
trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVCTXH
giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện,
hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng.
- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: NVCTXH còn được xem
như người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không
có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề.

20


- Vai trò là người xử lý dữ liệu: với vai trò này, NVCTXH nhiều khi
phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin. Trên cơ sở đó, tư
vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn.
- Vai trò là người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện
những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, chương trình, lên
kế hoạch và triển khai kế hoạch, chương trình phục vụ cho cá nhân, gia đình
và cộng đồng.
- Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: NVCTXH đi vào cộng đồng để
xác định vấn đề của cộng đồng, để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi,
giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm thân chủ trong
cộng đồng.
1.2.3. Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ có HIV/AIDS
Từ cơ sở phân tích đặc điểm tâm sinh lý – xã hội, nhu cầu của trẻ

đẩy tích cực đến việc thực hiện và nâng cao vai trò của NVCTXH.
1.2.4.2. Các yếu tố rào cản: có tác dụng làm cản trở, hạn chế việc thực
hiện và nâng cao vai trò của NVCTXH, bao gồm các yếu tố: phương pháp, kỹ
năng làm việc của NVCTXH chưa đáp ứng yêu cầu công việc; chính sách đãi
ngộ đối với NVCTXH chưa thu hút; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhận
thức của NVCTXH còn hạn chế; nhân sự không ổn định, thiếu cả chất và
lượng; thiếu sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ các NVCTXH.
1.3. Cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách đối với trẻ em có
HIV/AIDS và nhân viên công tác xã hội
1.3.1. Những văn bản liên quan đến trẻ em HIV/AIDS
Hiện nay, đã có những chính sách, quy định đối với trẻ em có
HIV/AIDS từ Trung ương đến địa phương, cụ thể như sau:
* Cấp Trung ương:
Các nội dung của chính sách được tập trung ở các mặt: quản lý nhà
nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; cung cấp
thông tin, kiến thức về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS;
hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được tiếp cận với các dịch vụ bảo

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status